Một số vướng mắc về đình chỉ yêu cầu của đương sự và thay đổi địa vị tố tụng trong tố tụng dân sự

ThS. Thái Chí Bình – Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có quy định về đình chỉ giải quyết vụ án nhưng không có sự phân biệt khi đương sự rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa; cũng như không đề cập đến việc thay đổi địa vị tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, khi có đương sự rút yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ yêu cầu bị rút. Chính vì không quy định việc thay đổi địa vị tố tụng nên khi nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện thì địa vị tố tụng của đương sự vẫn không thay đổi so với giai đoạn thụ lý ban đầu. Điều này làm cho địa vị tố tụng của các đương sự không phản ánh được vị trí, vai trò của họ trong vụ án được giải quyết. Để khắc phục tồn tại này, BLTTDS và văn bản hướng dẫn đã quy định rõ trình tự, thủ tục tiến hành khi có đương sự rút yêu cầu và việc thay đổi địa vị tố tụng. Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng trên thực tiễn cho thấy quy định về vấn đề này cũng cần được hướng dẫn bổ sung để hoàn thiện.

1. Trước khi mở phiên tòa

Trước khi mở phiên tòa, trình tự, thủ tục áp dụng khi có đương sự rút yêu cầu của mình được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS: "Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận…” và đã được hướng dẫn chi tiết tại khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Nghị quyết số 05/2012)[1]. Qua thực tiễn áp dụng, các quy định về đình chỉ yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụng trước phiên tòa có những vướng mắc sau:

Thứ nhất, việc xác định loại án (dân sự, hôn nhân gia đình…), quan hệ pháp luật tranh chấp khi đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng dẫn đến loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp thay đổi.

Theo quy định của BLTTDS và Nghị quyết số 05/2012, trước khi mở phiên tòa, khi có đương sự rút yêu cầu, Tòa án thực hiện thủ tục đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng. Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng của đương sự dẫn đến quan hệ pháp luật tranh chấp thay đổi thì Tòa án giải quyết như thế nào, trên thực tế có nhiều quan điểm xử lý khác nhau trong trường hợp này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi việc đình chỉ yêu cầu của đương sự và có sự thay đổi địa vị tố tụng dẫn đến thay đổi loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp thì cùng với việc thay đổi địa vị tố tụng, Tòa án cần thay đổi quan hệ tranh chấp cũng như loại vụ án cho phù hợp với nội dung tranh chấp đang giải quyết. Việc thay đổi này cũng cần được thể hiện trong thông báo thay đổi địa vị tố tụng. Loại án và nội dung tranh chấp trong các văn bản tố tụng từ sau khi có thông báo thay đổi địa vị tố tụng cần theo đúng sự thay đổi này.

Quan điểm thứ hai cho rằng, cần giữ nguyên loại vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp như khi thụ lý. Bởi vì, BLTTDS và Nghị quyết số 05/2012 không buộc khi đình chỉ yêu cầu của đương sự, việc thay đổi địa vị tố tụng dẫn đến việc thay đổi loại vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp thì Tòa án phải xác định lại cho đúng. Hơn nữa, quyết đình chỉ yêu cầu của đương sự và thông báo thay đổi địa vị tố tụng đã thể hiện rõ nội dung tranh chấp, bản chất vụ án đang giải quyết. Bên cạnh đó, số thụ lý gắn với loại vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp nên nếu thay đổi loại vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp thì số thụ lý phải thay đổi ảnh hưởng đến công tác thống kê, tổng hợp. Ngoài ra, và việc tiếp tục giữ loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp như khi thụ lý cũng không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự và việc áp dụng pháp luật.

Chúng tôi cho rằng, pháp luật tố tụng dân sự không quy định rõ vấn đề này. Tuy nhiên, nếu vẫn giữ nguyên loại vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp như khi thụ lý sẽ dẫn đến việc hiểu nhầm, gây khó khăn cho người tham gia tố tụng và không thể hiện được bản chất của quan hệ tranh chấp đang giải quyết. Ví dụ: trong vụ án hôn nhân thường có yêu cầu độc lập là quan hệ pháp luật dân sự hay trong vụ án dân sự nhưng yêu cầu phản tố lại là quan hệ hôn nhân và gia đình. Khi còn tồn tại cả hai quan hệ pháp luật tranh chấp song song trong cùng vụ án thì loại vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định theo yêu cầu của nguyên đơn sẽ không gây nhầm lẫn. Nhưng khi có đương sự rút yêu cầu dẫn đến thay đổi địa vị tố tụng mà chỉ còn 01 quan hệ pháp luật tranh chấp (hôn nhân hoặc dân sự) mà không thay đổi loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ rất dễ gây nhầm lẫn bởi vì ngoài quyết định đình chỉ và thông báo thay đổi địa vị tố tụng, Tòa án không hề ban hành thêm văn bản nào khác để giải thích. Do đó, trước khi mở phiên tòa, cùng với việc ra quyết định đình chỉ, thay đổi địa vị tố tụng nếu dẫn đến thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấp, loại vụ án thì Tòa án cần phải thay đổi cả quan hệ pháp luật tranh chấp và loại vụ án cho phù hợp. Tuy nhiên, việc thay đổi loại vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp có thể dẫn đến việc thay đổi số thụ lý và ảnh hưởng đến công tác báo cáo, thống kê. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn để thống nhất áp dụng.

Thứ hai, về thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ, thông báo thay đổi địa vị tố tụng trong khoảng thời gian từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi phiên tòa được mở.

Do pháp luật tố tụng dân sự không quy định rõ nên đã có những quan điểm khác nhau về việc Thẩm phán hay Hội đồng xét xử có thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ, thông báo thay đổi địa vị tố tụng trong khoảng thời gian từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi phiên tòa được mở.

 Quan điểm thứ nhất cho rằng, do quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được ban hành và quyết định này đã được gửi cho những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng nên về mặt pháp lý việc giải quyết vụ án kể từ thời điểm này thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Bên cạnh đó, Tòa án còn phải mở phiên tòa công khai để giải quyết vấn đề thay đổi địa vị tố tụng và giải quyết yêu cầu còn lại của đương sự. Cho nên, việc ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu bị rút và thay đổi địa vị tố tụng trong khoảng thời gian này phải do Hội đồng xét xử quyết định.

Quan điểm thứ hai cho rằng, theo Điều 179 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử gồm 02 khoảng thời gian: từ khi thụ lý vụ án đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi mở phiên tòa. Đối với trường hợp đình chỉ yêu cầu của đương sự khi tại phiên tòa có đương sự rút yêu cầu do Hội đồng xét xử ban hành quyết định đình chỉ, thông báo thay đổi địa vị tố tụng; còn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm quyền đình chỉ yêu cầu của đương sự và thay đổi địa vị tố tụng sẽ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định.[2]

Chúng tôi thống nhất với lập luận của quan điểm thứ nhất, sau khi có quyết định mở phiên tòa thì tất cả các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án do Hội đồng xét xử quyết định là phù hợp.

Thứ ba, về kháng cáo, kháng nghị quyết định đình chỉ yêu cầu của đương sự bị rút

Quan điểm thứ nhất cho rằng, BLTTDS không quy định việc kháng cáo, kháng nghị đối với loại quyết định đình chỉ này nên đương sự đã rút yêu cầu sẽ mất đi quyền kháng cáo. Họ chỉ có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.[3]

Quan điểm thứ hai cho rằng, quyết định đình chỉ yêu cầu của đương sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm theo quy định tại Điều 193 BLTTDS. Bởi vì, đây cũng chỉ là quyết định đình chỉ như quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi kết thúc vụ án và chúng có cùng căn cứ áp dụng là điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS.

Chúng tôi thống nhất với quan điểm thứ hai. Bởi vì, trong trường hợp Tòa án đánh giá ý kiến của đương sự mà quyết định đình chỉ yêu cầu của họ hoặc việc rút yêu cầu của họ do bị lừa dối, ép buộc thì việc xem xét yêu cầu của họ phải qua thủ tục giám đốc thẩm và như vậy vụ án sẽ bị kéo dài một cách không cần thiết.

2. Tại phiên tòa

Với quy định tại Điều 219 BLTTDS và Điều 33 Nghị quyết số 05/2012, nhà làm luật đã bỏ qua trường hợp trong vụ án có yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố (có thể đối với nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập), yêu cầu độc lập nhưng trường hợp yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập bị rút, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì việc thay đổi địa vị tố tụng trong trường hợp này chưa được hướng dẫn. Có quan điểm cho rằng, trường hợp này sẽ áp dụng tương tự như hướng dẫn tại khoản 1 Điều 33 Nghị quyết số 05/2012. Chúng tôi cho rằng, khoản 1 Điều 33 Nghị quyết số 05/2012 chỉ hướng dẫn trường hợp yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 176 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì ngoài yêu cầu phản tố với nguyên đơn, bị đơn còn có yêu cầu phản tố với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Cho nên, trong trường hợp này, Hội đồng xét xử phải ra quyết định đình chỉ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập và công bố thay đổi địa vị tố tụng công khai tại phiên tòa tuỳ theo mối quan hệ giữa các đương sự liên quan đến yêu cầu phản tố của bị đơn. Nếu người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hoặc nguyên đơn không liên quan gì đến yêu cầu của bị đơn thì có thể không đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách đương sự trong vụ án.

3. Một vài kiến nghị:

Từ các phân tích trên, chúng tôi kiến nghị một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS trường hợp đình chỉ yêu cầu và thay đổi địa vị tố tụng. Cụ thể là:

"Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Trong trường hợp nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện dẫn đến việc thay đổi địa vị tố tụng của đương sự thì việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự được áp dụng như quy định tại Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự.

Thứ hai, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 05/2012 về các vấn đề sau:

- Việc xác định loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp khi đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng dẫn đến loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp thay đổi trước khi mở phiên tòa, cụ thể như sau:

"Khi đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng mà dẫn đến việc thay đổi loại án, quan hệ pháp luật tranh chấp thì Tòa án tiến hành thay đổi loại vụ án, quan hệ tranh chấp cho phù hợp với nội dung đang giải quyết và xóa sổ thụ lý vụ án cũ, chuyển sang số thụ lý mới cho phù hợp với yêu cầu đang giải quyết.”

- Thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ, thông báo thay đổi địa vị tố tụng trong khoảng thời gian từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi phiên tòa được mở; cụ thể như sau:

"Trong trường hợp sau khi Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử mà có đương sự rút yêu cầu dẫn đến thay đổi địa vị tố tụng thì Tòa án vẫn phải mở phiên tòa. Việc xem xét yêu cầu đã rút và thay đổi địa vị tố tụng sẽ do Hội đồng xét xử quyết định”.

- Việc kháng cáo, kháng nghị quyết định đình chỉ yêu cầu của đương sự bị rút:

"Việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ yêu cầu của đương sự bị rút được áp dụng như quy định tại khoản 4 Điều 193 Bộ luật tố tụng dân sự.”

- Sửa đổi, bổ sung  Điều 33 Nghị quyết số 05/2012 với nội dung sau:

"3. Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 219 của BLTTDS, thì Hội đồng xét xử:

a. Ra quyết định đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã rút theo quy định tại khoản 2 Điều 218 của BLTTDS.

b. Công bố công khai tại phiên toà việc thay đổi địa vị tố tụng tuỳ theo mối quan hệ giữa các đương sự liên quan đến yêu cầu phản tố của bị đơn.

4. Việc thay đổi địa vị tố tụng của đương sự phải được ghi vào biên bản phiên toà và phải được ghi trong bản án”.

Quy định về đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng trong vụ án dân sự là điểm mới quan trọng của BLTTDS và đã phát huy giá trị trong thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, qua áp dụng thực tiễn, việc áp dụng các quy định liên quan đến vấn đề này đã nảy sinh một vài vướng mắc. Vì vậy, với các ý kiến trình bày ở trên, tác giả hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện quy định của BLTTDS về đình chỉ yêu cầu của đương sự, thay đổi địa vị tố tụng trong vụ án dân sự.

 


[1] Truớc đây là tiểu mục 10.1 mục 10 Phần II Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS (viết tắt là Nghị quyết số 02/2006).

[2] Tống Công Cường, Quy định về đình chỉ trong Bộ luật Tố tụng dân sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2007.

[3]http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=17534551


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi