Đình chỉ giải quyết vụ án theo qui định tại điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011

Hồ Việt Cường - Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Về đình chỉ giải quyết vụ án liên quan đến việc nguyên đơn vắng mặt [1], Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 có hai qui định:

- Theo điểm e khoản 1 Điều 192 [2] Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 (sau đây gọi là Điều 192 cũ), Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;

- Theo điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 (sau đây gọi là Điều 192 cũ) về sự có mặt của nguyên đơn tại phiên toà thì nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Hai qui định, nhưng thực chất chỉ có chung một căn cứ đình chỉ vụ án đó là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt vì triệu tập đến phiên tòa hay triệu tập nói chung đều phải đảm bảo là đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Trên thực tế, việc áp dụng qui định này để đình chỉ vụ án là thống nhất, không có gì vướng mắc.

Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 ngày 29/3/2011 (được tổng hợp từ Điều 199, Điều 200 và Điều 201 cũ) cơ bản vẫn giữ nguyên căn cứ đình chỉ vụ án là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt đã có trước đây tại điểm e khoản 1 Điều 192 cũ và còn bổ sung một căn cứ đình chỉ vụ án mới, cụ thể:

"Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;…”

Theo từng câu chữ của Điều 199 đã sửa đổi, bổ sung; xuất phát từ tiêu chí của nhà làm luật là tránh việc xét xử bị kéo dài do phải hoãn phiên tòa nhiều lần và nguyên tắc chung là Tòa án chỉ hoãn phiên tòa một lần; có thể thấy qui định tại Điều 199 mới đã cho phép Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nếu không vì sự kiện bất khả kháng, không có đơn xin xét xử vắng mặt mà không cần biết tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ có mặt hay vắng mặt. Căn cứ này khác hẳn với căn cứ đình chỉ được qui định Điều 199 cũ và cũng là điểm e khoản 1 Điều 192 cũ là nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Vì đây là căn cứ đình chỉ vụ án mới nên lẽ ra khi sửa đổi Điều 192 cũ về đình chỉ vụ án, cần bổ sung thêm căn cứ này vào Điều 192 mới để đảm bảo tính khoa học, thống nhất và toàn diện của văn bản pháp luật. Nhưng rất tiếc, Điều 192 mới đã không bổ sung thêm qui định về căn cứ đình chỉ vụ án nêu tại Điều 199 ở trên.

Có ý kiến cho rằng, việc không bổ sung qui định đình chỉ giải quyết vụ án được qui định tại Điều 199 mới vào Điều 192 mới cũng không sao, không ảnh hưởng gì lớn vì điểm k khoản 1 Điều 192 mới đã có qui định mở là "Các trường hợp khác theo qui định của pháp luật”, đình chỉ vụ án theo Điều 199 mới có thể coi là một trong các trường hợp khác theo qui định của pháp luật.

Theo chúng tôi, về mặt kỹ thuật lập pháp, Điều 192 là điều luật qui định về đình chỉ giải quyết vụ án nên tất cả các trường hợp đình chỉ vụ án được qui định trong Bộ luật tố tụng dân sự cần phải được ghi nhận tại Điều 192; các trường hợp đình chỉ vụ án mà Bộ luật tố tụng dân sự không qui định nhưng được qui định tại các văn bản pháp luật khác thì mới xếp vào "các trường hợp khác theo qui định của pháp luật”. Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số qui định trong Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã giải thích về qui định "Các trường hợp khác mà pháp luật có qui định” tại điểm k khoản 1 Điều 192 mới như sau:

"Các trường hợp khác mà pháp luật có qui định” qui định tại điểm k khoản 1 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự là các trường hợp làm căn cứ cho Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong Bộ luật tố tụng dân sự này chưa qui định nhưng đã được qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật khác hoặc sau khi Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành mới được qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật khác được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”.

Nghị quyết số 02/2006 hướng dẫn thực hiện điểm h khoản 1 Điều 192 cũ (nay là điểm k khoản 1 Điều 192 mới) cũng có giải thích tương tự. Như vậy, không thể coi đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 199 mới rơi vào qui định tại điểm k khoản 1 Điều 192 là "các trường hợp khác mà pháp luật có qui định”.

Chính sự không rõ ràng, không thống nhất trong các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung như trên đã phân tích và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP nêu trên cũng không có hướng dẫn rõ hơn so với Bộ luật tố tụng dân sự đã dẫn đến một thực tế là từ khi Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2011 có hiệu lực thi hành, không ít Thẩm phán tại nhiều địa phương đã lúng túng khi xử lý khi tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, không có đơn xét xử vắng mặt nhưng phiên tòa lần đầu lại có mặt. Trong trường hợp này, các Thẩm phán đã có nhận thức và cách giải quyết rất khác nhau, cụ thể như sau:

- Cách thứ nhất: rất ít Thẩm phán mạnh dạn áp dụng trực tiếp Điều 199 mới để đình chỉ giải quyết vụ án (nhưng cũng không khỏi lo lắng không biết Tòa án cấp phúc thẩm có cùng quan điểm với mình khi quyết định đình chỉ bị kháng cáo);

- Cách thứ hai: phổ biến hơn là Thẩm phán thận trọng, không đình chỉ vụ án mà hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa lần thứ ba, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ có mặt thì Tòa án xét xử bình thường, nếu tiếp tục vắng mặt thì Tòa án mới đình chỉ giải quyết vụ án theo căn cứ nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt được qui định tại điểm e khoản 1 Điều 192 mới.

Việc hoãn phiên tòa lần hai trong cách giải quyết thứ hai là không có cơ sở, không đúng theo các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nếu hoãn phiên tòa lần hai để sau đó đình chỉ vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 192 mới nếu nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ ba thì rõ ràng qui định mới về đình chỉ vụ án tại điểm a khoản 2 Điều 199 mới trở thành qui định chết, không phát huy hiệu quả.

Vì vậy, trước mắt, Tòa án nhân dân tối cao cần sớm có văn bản hướng dẫn thêm hay rút kinh nghiệm xét xử về vấn đề này để căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 199 mới được áp dụng thống nhất, phát huy hiệu quả và cần kiến nghị bổ sung căn cứ đình chỉ vụ án được qui định tại Điều 199 mới đã được đề cập ở trên vào Điều 192 trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp theo.


[1] Về đình chỉ giải quyết vụ án đối với các trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, bị đơn có yêu cầu phản tố; người kháng cáo sẽ được áp dụng tương tự như đối với nguyên đơn.

[2] Tất cả các điều luật được nêu trong bài viết đều là các điều luật của Bộ luật tố tụng dân sự


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi