Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc theo Luật thi hành án dân sự chưa được thực thi trên thực tế.

Ths. Nguyễn Thị Phíp, Ths. Cao Thị Kim Trinh -Giảng viên khoa đào tạo chấp hành viên & các chức danh tư pháp khác - Học viện Tư pháp

Luật Thi hành án dân sự đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009, trong đó có rất nhiều quy định mới về thủ tục thi hành án dân sự. Một trong những điểm mới có tính đột phá chính là quy định về việc cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc, cụ thể Điều 121 Luật Thi hành án dân sự quy định:

"1. Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời gian 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

2. Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm việc theo nội dung quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động.

Trường hợp người lao động không chấp nhận việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.

3. Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này”

*Đối với quy định tại khoản 2 Điều 121, chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Bởi lẽ, với quy định này, pháp luật đã cho phép người sử dụng lao động tùy thuộc vào tình hình thực tế của mình sẽ có nhiều cách lựa chọn để thực hiện nghĩa vụ nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định của Tòa án, theo đó có ba cách như sau: Thứ nhất, người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại làm việc theo đúng nội dung bản án, quyết định.

Thứ hai, người sử dụng lao động có thể bố trí một việc khác cho người lao động trở lại làm việc với mức lương tương ứng.

Thứ ba, người sử dụng lao động có thể thanh toán các chế độ cho người lao động trở lại làm việc theo quy định của pháp luật lao động để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án nếu người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và có yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán.

Khi thi hành án về loại việc này, Chấp hành viên sẽ căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, cơ quan người sử dụng lao động để hướng tới một trong ba cách giải quyết trên. Khác với pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Chấp hành viên chỉ có một cách thi hành án duy nhất là buộc người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc theo đúng bản án, quyết định của Tòa án. Rõ ràng, điểm mới này đã mở ra nhiều hướng để tổ chức thi hành dứt điểm vụ việc từ đó sẽ góp phần tăng hiệu quả hoạt động của công tác thi hành án dân sự.

*Đối với quy định tại Khoản 3 Điều 121, chúng tôi đồng tình về quy định mới này vì Luật đã quy định một chế tài xác đáng đối với người sử dụng lao động (người phải thi hành án) khi không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án. Chế tài nhằm "đánh” vào kinh tế đối với những người có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án trong việc nhận người lao động trở lại làm việc. Lần đầu tiên Luật thi hành án dân sự đã bổ sung nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định của Tòa án đã nhận nhưng chưa bố trí được việc làm cho người lao động.

Nhưng trên thực tế điểm mới này chưa được các cơ quan thi hành án dân sự thực thi.

Ví dụ thực tế như sau:

Bản án số 01/2009/LĐST ngày^ 17/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện N., tỉnh Quảng Nam đã xét xử vụ án tranh chấp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Chí C. và bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn M. Tại phần quyết định của bản án đã tuyên:

"Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc công ty trách nhiệm hữu hạn M. :

- Phải nhận ông Nguyễn Chí C. trở lại làm việc kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành với công việc, mức lương, địa điểm làm việc theo Hợp đồng hai bên đã giao kết ngày 01/7/2007.

- Bồi thường cho ông Nguyễn Chí C. những ngày không được làm việc là 72.603.965 đồng.

- Bồi thường cho ông Nguyễn Chí C. hai tháng tiền lương là 12.464.200 đồng.

- Trả tiền lương tháng 7/2008 cho ông C. là 5.592.381 đồng.

Kể từ ngày ông C. có đơn yêu cầu thi hành án nếu công ty M. không trả các khoản tiền bồi thường trên thì phải trả thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành.

Công ty M. phải chịu 2.719.816 đồng án phí, ông Nguyễn Chí C. phải chịu số tiền án phí là 960.000 đồng”.

Ngày 24 tháng 8 năm 2009, ông Nguyễn Chí C. có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ, với nội dung yêu cầu thi hành án hai khoản: buộc công ty M. phải nhận ông trở lại làm việc và buộc công ty M. phải thanh toán tiền bồi thường cho ông với tổng số tiền là 90.660.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Trong đơn yêu cầu thi hành án, ông C. đã cung cấp số tài khoản của công ty M. tại ngân hàng X. Ngày 28/8/2009 Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N. đã ra quyết định theo đơn yêu cầu của ông C. và giao cho Chấp hành viên Trần Văn K. tổ chức thi hành.

Quá trình thi hành án như sau:

Ngày 09/9/2009 Chấp hành viên mời Công ty M. lên trụ sở cơ quan thi hành án để nhận các loại văn bản giấy tờ về thi hành án gồm, Quyết định thi hành án, Giấy báo tự nguyện thi hành án đồng thời yêu cầu công ty M. tự nguyện thi hành các khoản theo đơn yêu cầu của ông C.

Hết thời gian tự nguyện thi hành án do công ty M. không tự nguyện thi hành. Ngày 21/9/2009, cơ quan thi hành án dân sự huyện N. nhận được đơn . ông Nguyễn Chí C. với nội dung yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện N. tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của công ty M. và ông C. xin chịu mọi chi phí cho việc xác minh. Ngày 23/9/2009, cơ quan thi hành án huyện N. đã tiến hành xác minh tài khoản của công ty M. tại ngân hàng x, kết quả xác minh được biết hiện số dư tại tài khoản X. của công ty M. là 3.326.000.000 đồng. (ba tỷ ba trăm hai mươi sáu triệu đồng). Ngày 25/9/2009, Chấp hành viên K. đã ra quyết định phong tỏa tài khoản với số tiền là 96.247.517 đồng và ngày 02/10/2009, Chấp hành viên K. đã ra quyết định khấu trừ tiền là 96.247.517 đồng trong tài khoản của công ty M. chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự huyện N. để thi hành các khoản cho ông C và các khoản chủ động thi hành án.

Như vậy, bản án trên đã được cơ quan thi hành án dân sự huyện N. tổ chức thi hành xong các khoản thanh toán, bồi thường, khoản chậm trả cho ông Nguyễn Chí C. và khoản án phí theo quyết định của bản án. Nhưng, còn khoản công ty M. phải nhận ông Nguyễn Chí C. trở lại làm việc thì chưa thi hành được mặc dù Chấp hành viên K. đã làm đầy đủ các thủ tục như ấn định thời gian tự nguyện, thuyết phục giáo dục công ty M...nhưng công ty M. vẫn không thi hành án với các lý do công ty M. buộc thôi việc đối với Nguyễn Chí C. là đúng quy định. Vì ông C. có nhiều sai phạm trong công việc như: Doanh thu được giao không đạt; giờ giấc làm việc không đảm bảo, thu tiền bán hàng không nộp về cho công ty mà sử dụng vào mục đích cá nhân...

Bản án trên đến nay vẫn chưa được thi hành án về khoản công ty M. phải nhận ông C. trở lại làm việc. Về phía cơ quan thi hành án dân sự huyện N. cũng chưa áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 121 Luật thi hành án dân sự để bảo vệ quyền lợi cho ông C. mặc dù Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009.

Lời bình

Việc thi hành nghĩa vụ nhận ông Nguyễn Chí C. trở lại làm việc của công ty M. hoàn toàn có điều kiện thi hành án nhưng công ty M. đã có cố tình không thi hành và theo quy định của Luật thi hành án dân sự thì nếu công ty M. không nhận ông C. trở lại làm việc thì ông C. vẫn được pháp luật bảo vệ quyền lợi cho ông đó là công ty M. phải thanh toán tiền lương cho ông C. từ khi ông C. có đơn yêu cầu thi hành án đến khi ông được nhận lại làm việc (K3 Điều 121 Luật THADS). Nhưng cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa có đủ căn cứ pháp lý để thi hành án khoản tiền này cho ông Nguyễn Chí C. với lý do khoản thanh toán này không được ghi nhận trong phần quyết định của bản án cho nên cơ quan thi hành án không thể ra quyết định thi hành án được (chưa có cơ sở ra quyết định THA), theo đó Chấp hành viên cũng không có cơ sở tổ chức thi hành khoản tiền này cho ông C.Chính vì vậy, việc công ty M. phải thanh toán tiền lương cho ông Nguyễn Chí C. trong thời gian công ty M. chưa nhận ông C. trở lại làm việc theo khoản 3 Điều 121 Luật THADS cũng chưa được tổ chức thi hành trên thực tế. Nếu tại bản án tuyên có nội dung này thì cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án ngay từ thời điểm ông C. có đơn yêu cầu thi hành án và vụ việc sẽ được tổ chức thi hành án một cách đơn giản, mặt khác còn kịp thời bảo vệ quyền lợi chính đáng cho ông C. vì tại thời điểm thi hành án, tài khoản của công ty M. có số dư tới hơn ba tỷ đồng.

Từ thực tiễn trên, tác giả xin kiến nghị như sau.

Quy định tại Khoản 3 Điều 121 Luật thi hành án dân sự là một điểm mới có tính đột phá trong công tác thi hành án dân sự, điểm mới này nếu được thực thi trên thực tế chắc chắn sẽ đem lại hiệu cao trong việc thi hành án đối với khoản nhận người trở lại làm việc theo các bản án, quyết định của Tòa án và phần nào sẽ đáp ứng được sự mong đợi của xã hội. Để điểm mới này thực sự có tính khả thi trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm tiếp nhận Luật thi hành án dân sự bằng cách phải đưa nội dung "Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc” vào phần quyết định của bản án, quyết định. Có như vậy, Khoản 3 Điều 121 Luật Thi hành án dân sự mới thực sự trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, mới thực sự góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi