Tìm hiểu quy định về thừa kế trong pháp luật thời nhà Nguyễn

Thạc sĩ Hồ Thị Vân Anh – Khoa Luật, Đại học Huế

Trong cổ luật, bản chất của pháp luật thừa kế là bổn phận của cá nhân đối với con cháu. Thừa kế hướng đến việc bảo vệ lợi ích của gia đình, dòng họ thông qua việc đời trước để lại di sản cho đời sau. Thừa kế trong cổ luật là "thừa kế theo quan hệ huyết thống xuôi, đã góp phần củng cố tài sản của dòng tộc và tài sản của gia đình truyền thống ăn chung, ở chung theo cơ cấu gia đình hạt nhân và gia đình gồm nhiều thế hệ, bề bậc khác nhau”[1]. Gia đình nhiều thế hệ gồm những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống cùng chung sống với nhau mấy đời liên tiếp: Tam đại đồng đường, tứ đại đồng đường, lý tưởng là ngũ đại đồng đường. Mô hình gia đình cổ phổ biến là gia đình nhiều thế hệ gồm có các cụ, ông bà, cha mẹ, chú bác, con, cháu, chắt.v.v. Với mô hình gia đình nhiều thế hệ và ý nghĩa thừa kế trong cổ luật như trên đòi hỏi pháp luật thừa kế phải tôn trọng nguyên tắc "hiếu”, ‘‘lễ”, "nghĩa”.

Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết giới hạn phân tích về sự ảnh hưởng của "hiếu ", "lễ”, "nghĩa” trong pháp luật thừa kế phong kiến thời nhà Nguyễn ở Việt Nam, tập trung trong quy định của Hoàng Việt luật lệ.

l. Về "hiếụ”, "lễ”, "nghĩa” trong pháp luât phong kiến

Thứ nhất, về "hiếu". Với chuẩn mực đạo đức của xã hội truyền thống thì đạo hiếu được đề cao hơn hết, đó là: "Nết đầu trong trăm nết”, và trong các tội thì cũng "không tội nào lớn hơn tội bất hiếu” (Ngũ hình chi thuộc tâm thiên, nhi tội mạc đại ư bất hiếu). Vì vậy, tại Điều 2 Hoàng Việt luật lệ đã xem bất hiếu là một trong 10 tội ác bị xử phạt nghiêm khắc . Đạo hiếu trong cổ luật vừa là nghĩa vụ pháp lý, vừa là nghĩa vụ đạo đức và có những chuẩn mực nhất định, nếu con cháu làm trái với những chuẩn mực đó thì bị coi là bất hiếu. Khi ông, bà, cha, mẹ còn sống, con cái được quyền nhận sự nuôi dưỡng, dạy bảo của cha mẹ. Con cháu không được quyền trái giáo lệnh của ông, bà, cha, mẹ (quy định tại Điêu 307 Hoàng Việt luật lệ). Con cháu phạm tội mạ lỵ, đả thương ông, bà, cha, mẹ thì bị trừng trị nặng hơn trường hợp phạm tội bình thường (nguyên tắc đối với thân thuộc càng gần huyết thống thì tội càng nặng). Con cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông, bà, cha, mẹ (Điều 307 Hoàng Việt luật lệ), không được kiện cáo ông, bà, cha, mẹ (Điều 306 Hoàng Việt luật lệ). Con cháu phải che giấu các tội phạm của ông bà cha mẹ (Điều 31 Hoàng Việt luật lệ), phải theo ông, bà, cha, mẹ đi đến và ở tại nơi lưu đày, nếu ông, bà, cha, mẹ phạm tội đi đày (Điều 14 Hoàng Việt luật lệ). Đặc biệt hơn, khi đứng trước sự tương tranh giữa luật pháp và luân lý xã hội, luật pháp chấp nhận sự hy sinh của trật tự pháp luật để đảm bảo nghĩa vụ luân lý, bảo đảm tuyệt đối chữ "hiếu”. Hoàng Việt luật lệ cho phép giảm hoặc hoãn hình phạt đối với các can phạm có cha mẹ già yếu, không nơi nương tựa, can phạm lại là con thừa tự. Đại Nam hội điển sự lệ nêu rõ: "Nếu người nào phạm vào tội đồ, lưu mà còn ông bà (cao tổ, tằng tổ cũng thế), cha mẹ đã già, ốm cần phải hầu nuôi mà nhà không có người nào đến tuổi thành đinh (16 tuổi trở lên) thay đỡ được, thì quan có trách nhiệm phải xét hỏi rõ ràng, kê khai người ấy phạm vào tội danh gì và duyên cớ phải ở nhà hầu nuôi, thì chỉ phạt 100 trượng. Còn các tội khác đều cho nộp tiền chuộc ở lại hầu nuôi ông bà, cha mẹ”[2].Thậm chí, có khi để phụng dưỡng ông, bà cha, mẹ, luật pháp cho phép giảm hình phạt đối với cả tội giết người:"Phàm các án mạng về đánh nhau chết, trong khi khám nghiệm, phải xét hỏi rõ tên hung phạm ấy có ông bà, cha mẹ già, ốm hay không, tên hung phạm có phải là con một hay không, báo cáo kèm luôn vào một thể. Đến kỳ xử án, cho được ở lại hầu nuôi bề thân, chỉ lấy thêm giấy cam kết nữa. Nếu khi xét hỏi, kẻ can phạm ấy không phải là hạng được ở lại hầu nuôi bề thân mà đến khi xử án, thì ông bà, cha mẹ của kẻ can phạm ấy đã thành ra già, ốm hoặc là anh em con cháu chết hết, cũng được viện lệ xin ở lại nuôi hầu bề thân”[3] . "Ngược lại, tội phạm phạm các tội về em trai giết anh ruột và tội giết các bậc tôn trưởng trong họ từ người phải để tang 9 tháng trở xuống, đều phải theo đúng luật mà bắt tội, nhất định không được tâu xin cho ở lại thừa tự nữa ”[4].

Khi ông bà, cha mẹ qua đời thì chữ "hiếu ” vẫn tiếp tục ràng buộc con cháu cả về mặt luân lý lẫn mặt luật pháp. Con cháu có nghĩa vụ phải tôn trọng thời kỳ cư tang đối với ông bà, cha mẹ. Con cháu chưa được phân chia tài sản thừa kế trong thời kỳ để tang ông bà, cha mẹ. Nghe thấy tang ông bà cha mẹ mà giấu không khóc, có tang cha mẹ mà làm giá thú, vui chơi ăn mặc như thường là can tội bất hiếu (Điều 2 Hoàng Việt luật lệ).

Khi con cháu phạm phải những lỗi bất hiếu nêu trên thì vấn đề thừa kế có đặt ra hay không? Con cháu có được quyền thừa kế di sản mà ông bà, cha mẹ để lại hay không? Vấn đề này, Hoàng Việt luật lệ dành cho người gia trưởng quyền hạn trong việc truất quyền thừa kế đối với những người thừa kế bất xứng (thông thường trong phạm vi khái niệm bất xứng trong cổ luật thì hành vi bất hiếu là chủ yếu). "Với một quyền hạn rất rộng đối với gia sản, người gia trưởng có quyền tự do ấn định phần của các người thừa kế và có quyển truất phần thừa kế đối với những người thừa kế bất xứng (như bất hiểu bất tuân tranh giành)"[5].

Thứ hai, về "lễ”. Trong xã hội cổ điển với nho giáo làm nền tàng thì "lễ” đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đưa "hiếu", "nghĩa” vào trong cuộc sống hàng ngày, đưa "hiếu ", "nghĩa” trở thành quy tắc, đi sâu vào tâm lý người Việt, giáo dục con người tự nguyện tuân theo những đức tính ấy, để duy trì nền nếp gia đình. Khổng Tử nói: "Không có lễ lấy gì mà trông, không có lễ lấy gì mà nghe, không có lễ lấy gì mà nói, không có lễ theo đâu mà làm”[6]. Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử mang tính nghi thức và nội dung văn hóa đòi hỏi mọi người nhất thiết phải tuân theo. Theo giáo điều nho giáo thì "lễ” có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, biểu hiện rõ nét nhất trong cổ luật.

"Lễ dạy nên làm điều gì, không làm điều gì

Pháp luật cấm làm điều gì, cho làm điều gì

Lễ ngăn cấm việc xảy ra

Pháp luật trị việc xảy ra

Lễ thiên trọng quy củ tích cực

Pháp luật thiên trọng cấm chế tích cực

Người trái lễ bị chê cười lương tâm cắn rứt

Người phạm pháp luật hình xét xử”[7] .

Nghĩa rộng của lễ là cái cấm trước cái sắp có, pháp luật cấm sau cái đã có. Do vậy, lễ vừa ngăn Cấm việc xảy ra, vừa xử phạm tội sâu sắc hơn. Nghĩa rộng của lễ hàm ý pháp luật nên trong cổ luật rất trọng lễ.

Lễ là một phạm trù rất rộng. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ bàn luận một vài nội dung của lễ là nguyên tắc được bảo đảm trong pháp luật thừa kế của Hoàng Việt luật lệ dưới triều Nguyễn. Trong đó, "lễ" chủ yếu liên quan đến quy định về di sản thờ cúng tổ tiên.

Thứ ba, về "nghĩa". Theo Nho giáo thì nghĩa là lẽ phải, sự hợp lý, sự đúng đắn, việc làm đúng lẽ phải tỷ như đi trên đường thẳng. Khổng Tử nói: "Quân tử sáng suốt về những việc hợp lẽ phải, trái lại kẻ tiểu nhân cái gì lợi cho mình mới làm”.Mạnh Tử nói: "Sự sổng cũng là điều ta muốn, nghĩa cũng là điều ta muốn, hai cái đó không giữ được cả hai, thì bỏ sống mà giữ lấy nghĩa "[8].

Trong quan hệ thừa kế, nghĩa được hiểu theo phạm vi của quan hệ gia đình, dòng tộc. Quyền thừa kế di sản của các thành viên trong gia đình đặc biệt là những người cùng huyết thống với người để lại di sản được cổ luật quy định và những quy định này là những nguyên tắc của cổ luật trước hết nhằm củng cố quan hệ tài sản nhưng quan trọng hơn là bảo đảm sự bền vững của gia đình, dòng họ.

Đây là bổn phận của người quá cố đối với con cháu, và chính là cái "nghĩa " trong thừa kế của cổ luật.

"Nghĩa" trong thừa kế còn được Hoàng Việt luật lệ quan tâm khi quy định mối quan hệ giữa vợ và chồng. Mặc dù trong diện thừa kế, so với quan hệ huyết thống thì quan hệ hôn nhân chỉ là thứ yếu. Người vợ góa không được hưởng thừa kế của chồng như các con. Tuy nhiên, gắn liền với chữ "nghĩa”, Hoàng Việt luật lệ cũng dành cho người vợ những quyền lợi nhất định.

Hoàng Việt luật lệ thừa nhận chế độ đa thê, người đàn ông có quyền "năm thê bảy thiếp ” nhưng phải giữ đúng trật tự trên dưới, đây là nghĩa vợ chồng. Điêu 96 Hoàng Việt luật lệ khi giải thích về "thê thiếp thất tự" đã chỉ rõ: "Vợ lớn (thê) là người ngang bằng một thể với chồng. Thiếp là phận nhỏ bên dưới, chỉ được tiếp kiến cùng chồng mà thôi. Sang hèn chia khác nhau. Đem thê làm thiếp là ép quí làm tiện, đem thiếp làm thê là nâng hèn lên sang, đều là việc trái với điều nghĩa. Cho nên phạt 100 trượng, 90 trượng. Đang còn thê mà lại cưới thê nữa thì là làm sai chính nghĩa, cho nên cũng phạt 90 trượng, vợ cưới sau phải li dị trả vê tông tộc”[9] .

Chính vì "thê giã, tề dã” tức vợ cả (thê) được cổ luật thừa nhận ngang hàng với chồng nên khi người chồng mệnh một, người quả phụ sẽ thay quyền chồng quản lý di sản mà người chồng để lại cho các con mình, ủy ban cố vấn Án lệ giải đáp câu 44 như sau: "Nếu người chồng quá cố là gia trưởng, người quả phụ được tiếp tục hành xử quyền của chồng. Người quả phụ có toàn quyền của người chồng đã mất để điều khiển gia đình.

Người quả phụ có đủ tất cả những quyền thuộc về thân quyền đối với các con vị thành niên và đối với cả con vợ lẽ. Người quả phụ phải sử dụng gia sản do người chồng để lại vào việc bảo dưỡng và giáo dục các con, kể cả con vợ thứ.

Đối với các con thành niên, nạười quả phụ có một uy quyền tinh thần do chồng để lại”[10] .

Trên tinh thần đảm bảo chữ "nghĩa" trong quan hệ hôn nhân nên thứ tự hưởng di sản thừa kế hương hỏa và tập ấm của các con cũng phụ thuộc vào địa vị của người mẹ. Hoàng Việt luật lệ yêu cầu việc thừa kế phải tôn trọng nghiêm ngặt trật tự đích thứ trưởng ấu. Trong thừa kế hương hỏa và thừa kế tập ấm thể hiện rõ nét quy định này. Theo lệ tập ấm của triều Nguyễn thì: "Con trưởng, cháu trưởng về hàng đích (dòng vợ cả) được chọn trước. Nếu con, cháu trưởng về hàng đích có duyên cớ gì (chết, có bệnh tật, can tội thông gian, trộm cắp,.v.v.), thì con, cháu thứ về hàng đích được tập ấm. Nếu không có con, cháu thứ về hàng đích mới cho con, cháu trưởng về hàng thứ được tập ấm. Nếu không theo thứ tự, mà tập ấm lấn vượt, thì phải phạt roi, trượng, đồ 3 năm (vẫn bắt theo thứ tự mà tập ấm)”[11]. Quy định như trên là đúng lẽ phải, đảm bảo sự hợp lý, đúng đắn, việc làm đúng lẽ phải tỷ như đi trên đường thẳng. Có thể thấy, chữ "nghĩa" cũng là yếu tố ảnh hưởng quy định về thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ dưới triều Nguyễn.

2. Việc cần tiếp tục kế thừa yếu tố "hiếu”, "lễ”, "nghĩa” trong pháp luật thừa kế Việt Nam hiện đại

Xuất phát từ quan niệm về chữ "hiếu", "lễ", "nghĩa" đã ăn sâu trong lẽ sống của người dân Việt, pháp luật thừa kế hiện đại đã tước quyền hưởng di sản thừa kế của những người được hưởng thừa kế theo pháp luật nếu những người này vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005; gồm những hành vi sau:

-Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

-Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

-Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

-Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Rõ ràng, pháp luật thừa kế đã dựa trên cơ sở của tục lệ dân tộc về "hiếu", "lễ”, "nghĩa" để một lần nữa khẳng định lại nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc lẫn nhau; nghĩa vụ giữ đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ; giữ "lễ", "nghĩa" giữa các thành viên trong gia đình.

"Hiếu”, "lễ", "nghĩa” còn chi phối các Dân sự, theo đó quyền và nghĩa vụ của người con nuôi và con đẻ trong gia đình được pháp luật quy định như nhau. Tại Điều 679 Bộ luật Dân sự quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế, được quyền hưởng di sản thừa kế của nhau nếu có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau. Bản chất của nhũng quy định này là việc cụ thể hóa các nội dung về "hiếu ”, "lễ”, "nghĩa ”, được quy định trong quan hệ thừa kế của Bộ luật Dân sự hiện đại.

Tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về "những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc" lại một lần nữa đề cao chữ "hiếu", "lễ", "nghĩa", "Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kể theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điểu 643 của Bộ luật này:

1.Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2.Con đã thành niên mà không có khả năng lao động

Đặt trong bối cảnh xã hội ngày nay, trong xu hướng hiện đại hóa, toàn câu hóa, hội nhập và phát triển, về nội hàm chữ "hiếu”, "lễ’’, "nghĩa ” đã có ít nhiều thay đổi nhưng về bản chất đây vẫn là bản sắc văn hóa Việt. Nên đây vẫn là hệ thống các chuẩn mực về đạo đức xã hội, về truyền thống gia đình, trải qua thời gian vẫn không hề thay đổi. Yếu tố về "hiếu ", "lễ", "nghĩa ’’ vẫn có sức sống mãnh liệt trong đời sống dân sự, vẫn đã, đang và sẽ tồn tại trong tinh thần, ý thức pháp luật hiện đại. Việc tìm hiểu trong cổ luật để hiểu rõ hơn về bản chất, về nguồn gốc của "hiếu ”, "lễ”, "nghĩa” là điều hết sức cần thiết cho việc hiểu và áp dụng pháp luật hiện đại. Nhất là trong điều kiện phát triển hội nhập hiện nay, việc giữ gìn, bảo lưu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc có trong pháp luật cổ là hết sức cần thiết.


[1] Phùng Trung Tập (2008), Luật Thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, tr.283.

[2] Hoàng Việt Luật lệ (1994) (Bản dịch), Nxb Văn Hóa Thông tin, tr.105.

[3] Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 11, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr 76, 77.

[4] Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 11, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr 76, 77.

[5] Huỳnh Công Bá (2005), Hôn nhân và gia đình trong pháp luật triều Nguyễn, tr 121.

[6] Viện Đại học Huế (1958), Tạp chí nghiên cứu Đại học, tập 2, Nxb Viện Đại học Huế, tr.181, 187,178.

[7] Viện Đại học Huế (1958), Tạp chí nghiên cứu Đại học, tập 2, Nxb Viện Đại học Huế, tr.181, 187,178.

[8] Viện Đại học Huế (1958), Tạp chí nghiên cứu Đại học, tập 2, Nxb Viện Đại học Huế, tr.181, 187,178.

[9] Hoàng Việt Luật lệ (1994) (Bản dịch), Nxb Văn Hóa Thông tin, tr.105.

[10] Viện Đại học Huế (1958), Tạp chí nghiên cứu Đại học, tập 2, Nxb Viện Đại học Huế, tr.181, 187,178.

[11] Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 11, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr 76, 77.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi