Quy trình thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự thực tiễn áp dụng và những bất cập

Quan hệ hợp tác quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của bản thân mỗi quốc gia và được mở rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, pháp luật, kinh tế-xã hội, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng...Trong đó hợp tác về tương trợ tư pháp giữa các quốc gia luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Với nhu cầu của thực tiễn, đời sống pháp luật và thông lệ quốc tế nói chung thì Luật tương trợ tư pháp đã được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2008. Sau hơn 4 năm thi hành, Luật tương trợ tư pháp (TTTP) phát sinh nhiều vấn đề bất cập đối với việc thực thi và áp dụng trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt về trình tự, thủ tục ủy thác tư pháp (UTTP) gây nhiều khó khăn, vướng mắc đối với các cơ quan Nhà nước có liên quan và đương sự. Kết quả thực hiện UTTP từ Việt Nam ra nước ngoài đạt tỷ lệ rất thấp. Yêu cầu đặt ra hết sức cấp thiết cần nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung  Luật TTTP và các văn bản hướng dẫn thi hành đối với lĩnh vực dân sự cho phù hợp với tình hình thực tiễn đời sống tương trợ tư pháp chung theo thông lệ quốc tế.

 

1.Quy trình thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự.

 

*Theo quy định tại Điều 10 Luật TTTP thì tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài chủ yếu được thực hiện dưới hình thức UTTP bao gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến TTTP về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ; các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.

 

*Hồ sơ UTTP bao gồm 02 văn bản chính, một là văn bản của cơ quan yêu cầu TTTP về dân sự, hai là văn bản UTTP về dân sự. Hai văn bản này đã được Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15 tháng 9 năm 2011 (Thông tư liên tịch số 15) ban hành mẫu in sẵn gồm Công văn gửi Bộ tư pháp (Mẫu số 01) và Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự (Mẫu số 02). Ngoài ra kèm theo một số tài liệu, giấy tờ có liên quan (nếu có) như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử… Ngôn ngữ dùng để lập hồ sơ UTTP đối với nước mà Việt Nam đã ký kết Điều ước quốc tế về TTTP thì ngôn ngữ áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó; trường hợp nước mà Việt Nam chưa ký kết Điều ước quốc tế về TTTP thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu TTTP hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận.

 

*Hồ sơ UTTP được lập thành 03 bộ (đối với UTTP cho một người) phù hợp với quy định của Luật TTTP và quy định của nước thực hiện việc UTTP. Thẩm quyền thực hiện UTTP thuộc TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Tòa phúc thẩm TAND Tối cao. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, nếu phát sinh yêu cầu TTTP về dân sự thì TAND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập hồ sơ UTTP theo quy định và gửi về TAND cấp tỉnh để thực hiện việc UTTP theo quy định chung.

*Thực hiện việc gửi hồ sơ UTTP về dân sự từ Việt Nam ra nước ngoài theo trình tự sau:

 

 

 

Với quy trình này, hồ sơ UTTP phải trải qua vài khâu trung gian mới đến được cơ quan thực hiện UTTP. Và không ai giám chắc việc trải qua nhiều khâu như vậy lại có sự phối kết hợp tốt và sự thuận lợi tối đa trong việc UTTP. Với thực tế hiện nay, số lượng vụ việc dân sự có nhu cầu UTTP ngày càng tăng sẽ không phù hợp với chủ trương chung của Đảng, nhà nước và đặc biệt là ngành tư pháp đang đẩy mạnh việc cải cách các thủ tục tố tụng hướng đến mục tiêu "để người dân thuận tiện nhất với việc tiếp cận công lý và coi người dân như khách hàng đối với các yêu cầu dân sự”.

 

*Thời hạn thực hiện việc TTTP về dân sự theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 15, quy định:

 

Tại Bộ tư pháp: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ UTTP do Tòa án gửi đến. Bộ tư pháp có trách nhiệm vào sổ hồ sơ UTTP về dân sự (phần UTTP đi), kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ theo quy định của Luật TTTP và ra một trong các quyết định sau. Chuyển hồ sơ cho Bộ ngoại giao để xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại theo thủ tục quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 15 nếu giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về TTTP về dân sự hoặc chưa có thỏa thuận hoặc chưa có tiền lệ về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại nếu hồ sơ hợp lệ. Trả lại hồ sơ UTTP cho Tòa án đã lập hồ sơ và nêu rõ lí do nếu hồ sơ chưa hợp lệ.

 

Tại Bộ ngoại giao: Thực hiện UTTP cho công dân Việt Nam ở nước ngoài hoặc theo quy định của điều ước quốc tế liên quan thì thời hạn chuyển hồ sơ cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ UTTP hợp lệ do Bộ tư pháp chuyển đến. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ UTTP, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm triển khai việc thực hiện UTTP cho công dân Việt Nam ở nước ngoài hoặc chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

 

*Xử lý kết quả UTTP.

 

Tại Bộ ngoại giao: Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc UTTP hoặc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo kết quả thực hiện UTTP của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi văn bản thông báo kết quả thực hiện UTTP, biên bản tống đạt hồ sơ UTTP cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo về Bộ ngoại giao.

 

Trong thời hạn tối đa 03 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ UTTP của cơ quan có thẩm quyền trong nước mà cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài không thể thực hiện UTTP cho công dân Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không có thông báo về kết quả thực hiện UTTP hoặc không trả lời đề nghị của Việt Nam về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thông báo về Bộ ngoại giao.

 

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo kết quả thực hiện UTTP do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gửi về, Bộ ngoại giao chuyển văn bản đó cho Bộ tư pháp  để chuyển cho Tòa án theo quy định.

 

Tại tòa án: Thông tư liên tịch số 15 quy định về việc xử lý UTTP đối với trường hợp không nhận được thông báo kết quả thực hiện UTTP theo hướng mở như sau:

 

Sau sáu tháng kể từ ngày Bộ tư pháp gửi hồ sơ UTTP hợp lệ lần thứ hai cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Bộ ngoại giao mà không nhận được thông báo kết quả thực hiện UTTP thì Tòa án yêu cầu UTTP sẽ căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật mà không phải tiếp tục yêu cầu UTTP (khoản 4 Điều 15)

 

2.Thực tiễn áp dụng Luật TTTP về dân sự.

 

Theo số liệu thống kê của Cục lãnh sự-Bộ ngoại giao cung cấp, trong những năm gần đây yêu cầu thực hiện UTTP từ Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại từ nước ngoài vào Việt Nam tăng lên cả về số lượng đến các nội dung công việc tập trung chủ yếu các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh số lượng lên đến hàng trăm vụ trong một năm, đối với các tỉnh, thành phố khác cũng có đến hàng chục vụ UTTP trong một năm, cụ thể số liệu tổng hợp UTTP như sau:

 

Năm 2010:

 

 

 

Khu vực

UTTP của TANN

UTTP của TAVN

Đã thực hiện

Kết quả

Đã thực hiện

Kết quả

Châu Âu

33

15

105

08

Châu Mỹ

01

0

888

44

Châu Á, Nam TBD

200

96

388

01

Tổng

234/111

1381/53

 

 

 

Năm 2011:

 

 

 

Khu vực

UTTP theo đề nghị của TANN

UTTP theo đề nghị của TAVN

Đã thực hiện

Kết quả

Công dân VN

Công dân NN

Đã thực hiện

Kết quả

Đã thực hiện

Kết quả

Châu Âu trừ SNG

46

19

97

26

74

09

Châu Mỹ và SNG

0

0

310

10

756

27

Châu Á, Châu Phi, Nam TBD

151

101

64

06

259

13

Tổng

197/120

1662/91

 

(Nguồn Cục lãnh sự-Bộ ngoại giao)

 

 

 

Căn cứ bảng số liệu tổng hợp trên nhận thấy số lượng hồ sơ UTTP của Tòa án Việt Nam ra nước ngoài lớn hơn rất nhiều so với số lượng hồ sơ UTTP của nước ngoài đối với Việt Nam. Số hồ sơ UTTP từ Việt Nam ra nước ngoài đạt kết quả không cao, năm 2010 tỷ lệ hồ sơ có kết quả là 3,83%, năm 2011 là 5,4%. Trong khi số hồ sơ UTTP từ nước ngoài vào Việt Nam đạt kết quả năm 2010 là 47,43%, năm 2011 là 60,91%.

 

Số lượng hồ sơ UTTP tăng lên theo từng năm nhưng kết quả UTTP đạt tỷ lệ thấp, nguyên nhân do một số bất cập sau.

 

Thứ nhất: Về hồ sơ UTTP mới được Thông tư liên tịch số 15 hướng dẫn thống nhất về Công văn đề nghị UTTP và Văn bản UTTP. Tuy nhiên với yêu cầu của UTTP là phải dịch ra ngôn ngữ đối với nước mà Việt Nam đã ký kết Điều ước quốc tế về TTTP thì ngôn ngữ theo quy định của Điều ước quốc tế. Đối với nước mà Việt Nam chưa ký kết Điều ước quốc tế về TTTP thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu TTTP hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận. Tuy nhiên việc dịch văn bản UTTP ra các loại ngôn ngữ còn rất nhiều bất cập như dịch không chuẩn, không đúng với ngôn ngữ của nước hoặc vùng được UTTP, với tiêu đề tiếng Việt là Văn bản UTTP khi dịch ra Tiếng Anh thì có tới 8 cách dịch khác nhau, không có tiêu đề nào đạt được tính chuẩn chung về thuật ngữ pháp lý khi được dịch.

 

Thứ hai: Quy trình UTTP hiện hành còn qua nhiều khâu, nhiều cơ quan như: Nếu trong quá trình giải quyết Tòa án cấp huyện thấy cần thiết UTTP thì phải làm hồ sơ chuyển lên cấp tỉnh để thực hiện UTTP theo thủ tục chung. Đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài vẫn phải UTTP qua Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao mới đến cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài là qua nhiều khâu, mất nhiều thời gian chung chuyển. Địa chỉ thực hiện UTTP còn không rõ ràng, thiếu thông tin hoặc thông tin về đương sự không chính xác.

 

Thứ ba: Thời gian thực hiện UTTP không phù hợp với thời gian yêu cầu tống đạt một số loại tài liệu, giấy tờ của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án phải trả lời trong thời hạn 30 ngày, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa 30 ngày...trong khi thời gian để UTTP tống đạt các loại giấy tờ trên có thể lên đến vài tháng, đặc biệt có vụ án đã chờ kết quả thực hiện UTTP lên đến hàng năm.

 

Thứ tư: Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, số lượng các loại án hiện đang tạm đình chỉ ở các cấp Tòa án chờ kết quả thực hiện UTTP khoảng hơn 1000 vụ, việc.

 

Thứ năm: Về lệ phí và chi phí khác khi có yêu cầu UTTP chưa được quy định cụ thể trong Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Đối với UTTP từ nước ngoài vào Việt Nam theo quy định tại Điều 47 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì mức thu là 5.000.000đ/một hồ sơ. Nhưng theo thông báo của đại diện Cục lãnh sự-Bộ ngoại giao đang thực hiện mức thu là 550.000đ và cơ quan thực hiện UTTP cũng không nhận được lệ phí thực hiện UTTP. Đối với việc thực hiện UTTP từ Việt Nam ra nước ngoài thì lệ phí UTTP không quy định trong Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án mà lại được quy định tại Điều 16 Luật TTTP không cụ thể:

 

1.Chi phí thực hiện TTTP về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài do nước yêu cầu chi trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

 

2.Cá nhân, tổ chức Việt Nam yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vụ việc dân sự làm phát sinh yêu cầu UTTP ra nước ngoài thì phải trả chi phí theo quy định của Việt Nam và của nước yêu cầu…Tuy nhiên trong thực tiễn TTTP quốc tế tại mối quốc gia, khu vực lại có cách thu và mức thu khác nhau như: Hoa Kỳ thu 95USD/một lần UTTP (phải nộp trước tiền lệ phí), Úc là 50 đô la Úc…

 

4.Kiến nghị, đề xuất.

 

-Về ngôn ngữ trong bản dịch UTTP: Đề nghị ban hành mẫu bản dịch văn bản UTTP theo từng nước, từng khu vực trên thế giới. Đề nghị Bộ ngoại giao công bố những nước mà Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định TTTP và danh mục ngôn ngữ mà các nước, khu vực sử dụng để thuận tiện tronng việc dịch văn bản UTTP.

 

-Đối với quy trình UTTP: Nên rút ngắn quy trình thực hiện UTTP qua các cơ quan khác nhau như Tòa án nhân dân cấp huyện trong quá trình giải quyết vụ việc nếu thấy cần thiết thực hiện việc TTTP ra nước ngoài thì có thể trực tiếp lập hồ sơ theo quy định chung (không cần thông qua Tòa án nhân dân cấp tỉnh). Đối với việc UTTP cho công dân Việt Nam ở nước ngoài không nhất thiết UTTP qua Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao mà UTTP trực tiếp qua cơ quan đại diện Việt Nam (hoặc tổ chức có thẩm quyền) ở nước thực hiện việc UTTP.

 

-Quy định cụ thể về việc nộp lệ phí và chi phí khác khi thực hiện UTTP từ Việt Nam ra nước ngoài trong Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Khi Bộ ngoại giao thu lệ phí UTTP từ nước ngoài về Việt Nam cần có cơ chế chi phí cho các Tòa án thực hiện UTTP. Đối với việc thu lệ phí UTTP từ Việt Nam ra nước ngoài cần ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi