Phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh trong Tố tụng dân sự

TS Nguyễn Minh Hằng – Trưởng Bộ môn Tranh tụng dân sự, Học viện Tư pháp

 

Tại khoản 2 Điều 85 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) (có hiệu lực từ 01/01/2012) đã ghi nhận: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ. Như vậy, so với khoản 2 Điều 85 của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã bỏ quy định: Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ. Việc bỏ quy định đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và có yêu cầu mới là điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ, đặt ra những vấn đề tranh cãi cần thống nhất về cách hiểu khi áp dụng trong thực tiễn xét xử liên quan đến quan niệm về nghĩa vụ chứng minh hay trách nhiệm chứng minh của Tòa án (TA), Viện kiểm sát (VKS). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi xung quanh quan điểm về việc chứng minh của các chủ thể chính trong tố tụng dân sự là đương sự và TA, VKS.

 

1. Chứng minh trong tố tụng dân sự

 

"Chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời thường (ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minh khi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn...) nhằm "làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng"[1]. Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá. Ở mỗi sự vật, hiện tượng lại có nhiều đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan, nhưng thực tiễn cũng tồn tại những đặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tư duy, giải thích, móc nối các sự kiện để đi đến được kết luận và việc đầu tiên là phải đưa ra những giả thuvết để định hướng tư duy, sau đó tổng hợp các sự kiện khách quan để có thể đi đến kết luận cuối cùng. Quá trình giải quyết giả thuyết bằng cách tư duy, logic các sự kiện đó chính là chứng minh. Quá trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi mặt của đời sống xã hội và nó là động lực cho sự phát triển, khám phá tìm tòi.

 

Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng không phải là hoạt động trong đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước TA vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể có, qua đó, Tòa án có thể khẳng định có hay không có các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ, việc dân sự. Tuy nhiên, hoạt động sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của TA hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động tố tụng cụ thể, bao gồm hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Tất cả các hoạt động này là các yếu tố hợp thành chứng minh hay nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự. Nói một cách khác, trong tố tụng dân sự chứng minh là hoạt động tố tụng trong đó các chủ thể tố tụng bằng những biện pháp do pháp luật quy định làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ, việc dân sự.

 

2. Quan niệm chứng minh ảnh hưởng đến việc phân định nghĩa vụ chứng minh và trách nhiệm chứng minh của các chủ thể chứng minh

 

Chủ thể chứng minh là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tham gia vào hoạt động chứng minh nhằm xác định có hay không có những sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự. Các ch th chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan), người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; các cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của người khác... và TA. Trong trường hợp VKS tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì VKS cũng trở thành chủ thể chứng minh.

 

Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh, bằng hành vi tố tụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh. Việc thực hiện quyền chứng minh do các chủ thể chứng minh quyết định. Ngược lại, nghĩa vụ chứng minh bao gồm những hành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh mà các chủ thể chứng minh bắt buộc phải tiến hành hoặc không được tiến hành theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp nghĩa vụ chứng minh bị vi phạm, chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi.

 

Chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ chứng minh, tham gia vào hoạt động chứng minh, tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể chứng minh đều có quyền, nghĩa vụ chứng minh như nhau. Tùy thuộc vào vai trò, địa vị tố tụng của các chủ thể này và ở từng giai đoạn tố tụng cụ thể, các chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ tham gia vào quá trình chứng minh các sự kiện, tình tiết của vụ việc ở những phạm vi và mức độ khác hau. Ví dụ, quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của Tòa án; quyền, nghĩa vụ chứng minh của người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của VKS...

 

Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về xác định nghĩa vụ chứng minh hay trách nhiệm chứng minh của các chủ thể chứng minh đặc biệt là TA, VKS, cụ thể là:

 

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ thuộc về đương sự mà của tất cả các chủ thể chứng minh.

 

Xuất phát từ việc chứng minh là "làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điu gì đó là đúng”, vì vậy, các chủ thể tham gia tố tụng đều có nghĩa vụ chứng minh. Đương sự là người đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia, nên trước tiên đương sự là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh. Để chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng, đương sự có thể đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý để thuyết phục Tòa án. Cung cấp chứng cứ chỉ là một trong các biện pháp chứng minh của đương sự. Điều 79 BLTTDS năm 2004 quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự, tuy nhiên điều này không tuyệt đối hóa nghĩa vụ chứng minh của đương sự mà loại bỏ nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể khác là TA và VKS trong trường hợpVKS tham gia tố tụng dân sự. Quan điểm này cho rằng, mặc dù nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, nhưng để giải quyết đúng đắn vụ án, Tòa án với trách nhiệm ban hành phán quyết vẫn phải tiến hành xác minh các tinh tiết của vụ án, thu thập thêm chứng cứ để xác minh các tình tiết của vụ án mặc dù đương sự có cung cấp đầy đủ, vẫn phải xác minh các tình tiết có liên quan, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tranh chấp, yêu cầu, tâm tư, nguyện vọng của các bên đương sự. Tòa án phải chứng minh bằng nhận định đánh giá chứng cứ của mình để xác định sự thật khách quan của vụ án và đưa ra phán quyết. Việc quy định về nghĩa vụ chứng minh xét về bản chất tương tự với quy định VKS, Tòa án có nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, cụ thể và chính xác.

 

Bên cạnh việc lý giải dưới góc độ trách nhiệm ban hành phán quyết khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, quan điểm nghĩa vụ chứng minh này còn được lập luận từ thực tiễn xét xử. Trên thực tế, nhiều TA ở vùng sâu, vùng xa khó có thể yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh. Đặc biệt, với những nơi trình độ dân trí còn hạn chế; hoàn cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn; hệ thống bổ trợ tư pháp chưa phát triển, công tác quản lý của Nhà nước nhất là lĩnh vực nhà, đất còn nhiều bất cập nên dẫn đến một thực trạng là nhiều trường hợp không chỉ đương sự mà cả TA, VKS yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước cung cấp thông tin để xét xử cũng chưa được đáp ứng một cách thỏa đáng. Việc cho rằng nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh chỉ của đương sự là cách hiểu chua toàn diện, đầy đủ. "Cách hiểu này dễ dẫn đến sự thụ động trong việc thu thập chứng cứ của Tòa án, thiếu sự giải thích pháp luật, hướng dẫn một cách tích cực, chủ động cho đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh và quyền yêu cầu Thẩm phán thu thập chứng cứ khi họ không thể làm được”[2].

 

Quan điểm thứ hai cho rằng: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS là dấu mốc thay đổi căn bản nhận thức về chứng minh. Theo đó, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là của các đương sự; Tòa án và Viện kiểm sát không có nghĩa vụ chứng minh chỉ có trách nhiệm chứng minh.

 

* Xác định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự

 

Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: "Người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phi chứng minh[3]. Theo quy tắc này, mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những sự kiện, tình tiết mà mình đã viện dẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của mình, hay nói một cách giản đơn là khẳng định một sự việc gì thì phải chứng minh sự việc ấy. Quy định này xuất phát từ cơ sở khi yêu cầu TA bảo vệ quyền lợi cho mình với tư cách là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung có vi phạm hay tranh chấp, đương sự là người hiểu rõ nhất vì sao họ có yêu cầu đó, họ biết được những tình tiết, sự kiện trong vụ việc, do đó có khả năng cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, về mặt tâm lý, khi đưa ra yêu cầu của mình bao giờ đương sự cũng là người đứng ở thế chủ động, tự nguyện đưa ra những lý lẽ để chứng minh, bênh vực cho quyền lợi của mình. Sự thật là cơ sở của yêu cầu và phản đối của các bên nên các bên sẽ quan tâm và tìm mọi cách để khẳng định sự thật này.

 

Khi đưa ra yêu cầu thì nguyên đơn phải chứng minh cho yêu cầu của mình đối với bị đơn, tức là phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận... để chứng minh, bởi vì bị đơn được suy đoán là không có bất cứ trách nhiệm gì với nguyên đơn cho đến khi trách nhiệm của bị đơn chưa được chứng minh. Cung cấp chứng cứ chỉ là một trong các biện pháp chứng minh của đương sự.

 

Bên cạnh đó, trong tiến trình phát triển của hoạt động chứng minh, quyền và nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh không bất biến mà trong điều kiện nhất định, nó có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác; từ nguyên đơn sang bị đơn khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, hoặc khi bị đơn muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết nhằm bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn.

 

Như vậy, quy tắc chung về quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự có thể quy vào ba luận điểm cơ bản sau đây.

 

Thứ nhất, nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về bên đương sự nào muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết để làm cơ sở cho những yêu cầu hoặc phản đối của mình. Kể từ khi làm đơn khởi kiện, việc chứng minh yêu cầu đối với nguyên đơn là nghĩa vụ. Nếu nguyên đơn đưa ra yêu cầu mà không chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ, có trong thực tế hoặc đưa ra những chứng cứ không có giá trị chứng minh, trong khi đó bị đơn lại đưa ra được chứng cứ có tính thuyết phục để phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu của nguyên đơn sẽ bị Tòa án bác bỏ.

 

Vphía bị đơn, họ người bị kiện nên họ có quyền chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình trước TA. Tuy nhiên, việc chứng minh sẽ trở thành nghĩa vụ đối với bị đơn nếu:

 

-Bị đơn có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn đưa ra yêu cầu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải cung cấp chứng cứ để chỉ ra yêu cầu đó có cơ sở thực tế, cơ sở pháp lý hay không, có đúng đắn không? Khi đó nguyên đơn cũng có quyền phản đối lại yêu cầu đó của bị đơn, đồng thời phải chứng minh cho việc phản đối yêu cầu của mình;

 

- Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (có thể bị đơn chỉ chấp nhận phần yêu cầu và phản đối phần còn lại của yêu cầu đó hoặc không chấp nhận hoàn toàn) hoặc thậm chí chỉ trong trường hợp bị đơn đang nắm giữ chứng cứ liên quan đến nguyên đơn.

 

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, họ có nghĩa vụ, chứng minh cho yêu cầu ca mình là có căn cứ. Chẳng hạn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia vào vụ kiện giữa nguyên đơn và bị đơn, họ cho rằng đối tượng đang tranh chấp là thuộc sởhữu của họ chứ không phải thuộc sở hữu nguyên đơn hay bị đơn. Trong trường này, nghĩa vụ chứng minh (nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận...) của họ cũng giống như nghĩa vụ của nguyên đơn khi chứng minh cho yêu cầu của mình.

 

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, dù đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn, họ đều có nghĩa cung cấp chứng cứ chứng minh cùng nguyênđơn hay bị đơn vì lợi ích của họ liên quanđến vụ kiện. Việc cung cấp chứng cứ của họ để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ kiện để bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà họ đứng về phía đương sự đó, hoặc có thể làm căn cứ cho yêu cầu của họ đối với một trong các bên đương sự; hoặc chứng cứ do họ cung cấp làm căn cứ để họ phản đối về việc kiện đòi hoàn lại mà một bên đương sự đặt ra cho họ.

 

Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh, theo sự tiến triển của hoạt động chứng minh, trong những điều kiện nhất định có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác, và ngược lại.

 

Thứ ba, phạm vi quyền, nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự phụ thuộc vào phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối của họ. Phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối đưa ra đến đâu thì phạm vi nghĩa vụ chứng minh đến đó. Nằm ngoài phạm vi nghĩa vụ chứng minh (hay kết thúc phạm vi nghĩa vụ chứng minh) là quyền chứng minh của đương sự.

 

Ngoài ra, có điều cần lưu ý thêm là, trên thực tế, ranh giới giữa quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự rất mong manh, bản thân ranh giới này cũng dễ thay đổi, không thể bó hẹp trước trong một quy tắc hay một quy định chắc chắn. Thậm chí, ngay cả khi nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình, thì nguyên đơn cũng có quyền rút lại chứng cứ đó, hoặc quyết định không cung cấp chứng cứ đó để chứng minh nữa. Trong trường hợp này, quyền và nghĩa vụ chứng minh (tất nhiên là bao gồm cả quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ) là đan xen. Nếu nguyên đơn không muốn sử dụng quyền chứng minh, không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, mà cụ thể là không cung cấp chứng cứ, không xuất trình chứng cứ thì cũng đồng nghĩa với việc nguyên đơn khước từ quyền đưa ra yêu cầu, từ bỏ yêu cầu của mình và TA sẽ ra phán quyết bất lợi cho nguyên đơn.

 

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành đánh dấu sự thay đổi căn bản trong nhận thức về vấn đề chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ - nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Việc xác định nghĩa vụ chứng minh của đương sự thông qua việc thu thập chứng cứ và cung cấp cho Tòa án được thể hiện rõ hơn trong Điều 6 BLTTDS. Để bảo đảm cho đương sự thực hiện được nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ và TA có đầy đủ chứng cứ để giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ, việc dân sự thì phải quy định trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng cứ cho đương sự và TA. Vì vậy, tại Điều 7 BLTTDS đã quy định nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo điều luật này, cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, TA chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2004 chưa quy định về việcxử lý các vi phạm trong việc cung cấp chứng cứ không đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của TA, VKS. Việc này đã dẫn đến tình trạng thực tế "nhiều cơ quan, tổ chức chưa phối hợp chặt chẽ với Toà án, thậm chí chưa làm hết trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ... làm cho công tác giải quyết, xét xử nhiều vụ án bị kéo dài hoặc phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án...”[4]hoặc "… cùng một vấn đề nhưng nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền có những văn bản xác nhận trái ngược nhau, ảnh hưởng đến việc giải quyết của Tòa án”[5].

 

Hiện nay, theo khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS có sửa đổi, bổ sung Điều 7 BLTTDS như sau: "Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ”. Quy định này đã bổ sung chủ thể "Viện kiểm sát” để phù hợp với những sửa đổi, bổ sung nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng dân sự, quy định rõ việc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó và tại khoản 21 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS sửa đổi Điều 94 BLTTDS cụ thể hóa nguyên tắc này bằng quy định việc xử lý các vi phạm trong việc cung cấp chứng cứ không đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát.

 

Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự không chỉ thể hiện qua hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ. Vì vậy, bên cạnh những quy định cụ thể về hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ (như quy định tại các Điều 165, 175 BLTTDS) về việc ngay khi khởi kiện, đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh bằng việc phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ, tài liệu kèm theo; quy định tại Điều 84 BLTTDS về việc đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho TA trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự; quy định tại Điều 244 BLTTDS về việc người kháng cáo phải gửi cho Toà án các tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp... BLTTDS cũng đã có những quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn bảo đảm cho các đương sự chủ động thực hiện được quyền, nghĩa vụ chứng minh của họ trong các hoạt động nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ. Chẳng hạn, tại phiên tòa các bên đương sự được tham gia trình bày yêu cầu, bổ sung ý kiến, tham gia hỏi, nghe băng ghi âm, xem băng ghi hình, xem xét vậtchứng, tham gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của họ không hạn chế (từ Điều 217 đến Điều 235 BLTTDS)…

 

*Tòa án, Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm chứng minh chứ không có nghĩa vụ chứng minh

 

Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ, việc dân sự, VKS là chủ thể thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Để giải quyết đúng vụ, việc dân sự thì TA vẫn phải xác định xem trong vụ, việc dân sự phải chứng minh, làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và những người tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ, việc dân sự chưa?

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2004 thì: "Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thểtiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:...”. Khoản 18 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã bỏ hai điều kiện là "đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu”, thay bằng cụm từ "do Bộ luật này quy định”. Từ quy định này, khi áp dụng trong thực tiễn xét xử đã và đang tồn tại các quan điểm khác nhau:

 

Quan điểm th nhất cho rng: Thẩm quyền có quyền chủ động sử dụng các biện pháp thập chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 85 Luật sủa đổi, bổ sung một điều của BLTTDS mà không cần có yêu cầu của đương sự vì Tòa án là chủ thể chứng minh có nghĩa vụ chứng minh để ban hành phán quyết.

 

Quan điểm thứ hai cho rằng: Tòa án chỉ có trách nhiệm chứng minh, vì vậy, cần căn cứ vào các quy định cụ thể tại các điều trong BLTTDS để xác định trường hợp nào thì Thẩm phán có quyền chủ động sử dụng các biện pháp quy định ở khoản 2 Điều 85 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS, trường hợp nào thì phải có đương sự có yêu cầu Toà án mới được sử dụng các biện pháp đó để thu thập chứng cứ. Chúng tôi đồng tình với quan điểm TA chỉ có trách nhiệm chứng minh, điều này phù hợp với quy định tại Điều 6, Điều 79, khoản 1 Điều 84 BLTTDS năm 2004 và Điều 94 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS. Việc các đương sự có quyền, nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ cho TA và chứng minh cho yêu cầu của mình phụ thuộcvào ý chí của các bên, TAchỉxem xét và đưa ra phán quyết của mình trên cơ sở chứng cứ mà các bên đưa ra. Để quyết định giải quyết vụ, việc của mình có sức thuyết phục thì Tòa án không thể không làm rõ những cơ sở của quyết định đó, tức là phải chứng minh những sự kiện làm cơ sở cho các kết luận của Tòa án. Lý luận và thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án đã cho thấy việc không chứng minh được một sự kiện liên quan đến vụ, việc dân sự có thể sẽ kéo theo việc ra một quyết định không có cơ sở làm xâm phạm đến quyền lợi của bên đương sự. Vì vậy, khi thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ, việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Tòa án phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85 BLTTDS). Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án theo quy định của BLTTDS để thực hiện trách nhiệm ban hành phán quyết nhân danh Nhà nước (khoản 2 Điều 85 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS). Việc thu thập chứng cứ của Tòa án không phải là nghĩa vụ mà chỉ mang tính hỗ trợ cho việc thu thập chứng cứ của đương sự làm căn cứ để giải quyết vụ, việc dân sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định của Tòa án. Tòa án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi sử dụng (Điều 96, Điều 97 BLTTDS).

 

Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định việc thu thập chứng cứ của Tòa án, Viện kiểm sát với tính chất là một nhiệm vụ. Mặc dù các đương sự có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ trước TA nhằm thuyết phục về những yêu cầu mà mình đưa ra là có căn cứ, song chứng cứ do các đương sự cung cấp không phải lúc nào cũng có độ chính xác tuyệt đối như toán học (vì có thể có sự giả mạo hoặc nhầm lần). Do đó, TA phải trực tiếp, xem xét, phân tích, so sánh chứng cứ tại phiên toà. Đây là nội dung chủ yếu, cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong hoạt động của TA. Tòa án có nhiệm vụ xác minh chứng cứ thông qua việc nghe các đương sự trình bày, giải thích, thẩm vấn người làm chứng, nghe ý kiến của Giám định viên, sự tranh luận của các đương sự, xem xét vật chứng, kết luận giám định, xem xét chứng cứ trong mối liên quan mật thiết với nhau, nghiên cứu trên cơ sở so sánh những chứng cứ này với chứng cứ khác. Trách nhiệm chứng minh của Tòa án nổi bật ở vai trò nghiên cứu và đánh giá về giá trị chứng minh của các chứng cứ được TA tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật, lương tâm và trách nhiệm của các thành viên Hội đồng xét xử, được thể hiện trong phòng nghị án khi ra bản án (quyết định) về vụ, việc dân sự. Đây là sự đánh giá chính thức về mặt pháp lý, mang tính chất quyết định đối với các chứng cứ của vụ việc, còn đối với các chủ thể khác (VKS, chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung, đương sự...) việc đánh giá chứng cứ có thể được tiến hành trực tiếp bằng sự bác bỏ hay công nhận chứng cứ này hoặc chứng cứ kia hoặc bằng sự hoài nghi về tính xác thực của các chứng cứ. Tuy nhiên, đây chỉ là hoạt động hỗ trợ, tham gia mang tính chất tham khảo..., có thể được Tòa án chấp nhận hay bác bỏ trong bản án hay quyết định về vụ, việc dân sự.

 

Trong quá trình chứng minh, các chủ thể tham gia vào hoạt động chứng minh với những vị trí tố tụng khác nhau. Hành vi tố tụng của mỗi chủ thể được quy định bởi vị trí tố tụng của họ, vì vậy, chủ thể chứng minh thực hiện những hành vi tố tụng của mình trong phạm vi quyền và nghĩa vụ mà pháp luật tố tụng dân sự cho phép thì cần thiết phải có cách hiểu thống nhất khi áp dụng các quy định của BLTTDS.

 

Theo đó, đương sự có nghĩa vụ chứng vàTA, VKS trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chỉ có trách nhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam.

 



[1] Từ điển tiếng Việt (2003), Nxb. Đà Nng, tr. 192.

[2] Tạp chí Kiểm sát, số 24 (tháng 12/2010), tr.5.

[3] Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (Chương II "Các nguyên tắc cơ bản củaLuật tố tụng dân sự" -TS. NguyễnNgọc Khánh), Nxb. Công an nhân n, tr.79.

[4] TANDTC (2010), "Báo cáo tổng kết 5 năm Bộ luật Tố tụng dân sự",tr. 10.

[5] TANDTC (2006), "Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm2007 của ngành Tòa án nhân dân”, tr.21.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi