Vai trò của thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

ThS. Nguyễn Văn Lin - Trưởng khoa Giáo dục cơ bản, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội;  ThS. Nguyễn Thị Hạnh - Trưởng bộ môn Kỹ năng giải quyết các vụ việc dân sự, Khoa đào tạo Thẩm phán, Học viện Tư pháp.

1. Sự cần thiết tiến hành thu thập chứng cứ của Thẩm phán

 Đồng thời với việc quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 - đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 (BLTTDS) quy định trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án và chỉ được tiến hành trong những trường hợp do Bộ luật này quy định (Điều 6, Khoản 2 Điều 85). Quy định về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể củaViệt Nam, đó là:

Thứ nhất, hệ thống tư pháp Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo truyền thống pháp luật lục địa. Trong đó, TTDS thể hiện tính chất pha trộn giữa tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi nhưng yếu tố xét hỏi nổi trội hơn. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là người trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án và trên cơ sở hồ sơ này để giải quyết vụ án. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ cũng chính là quá trình xây dựng hồ sơ VADS. Chính vì vậy, hồ sơ VADS là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giải quyết vụ án. Ngoài việc phải đảm bảo việc giải quyết VADS khách quan, công bằng, đúng pháp luật, Thẩm phán còn có trách nhiệm giải quyết vụ án đúng thời hạn. Mặt khác, lý luận về chứng cứ cũng cho thấy, Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án. Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không phụ thuộc vào việc cung cấp, thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật hay không. Và ở đây, trách nhiệm của Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án. Do đó, mặc dù BLTTDS quy định các đương  sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để Tòa án xem xét giải quyết vụ án, nhưng nếu “phó thác” toàn bộ nghĩa vụ chứng minh cho các đương sự để giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ chứng minh của Tòa án, thì sẽ không thực tế trong điều kiện hiện nay ở nước ta. Vì như vậy có thể làm cho vụ án bị giải quyết thiếu khách quan, làm lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của đương sự khác.

Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, khả năng tự bảo vệ của các đương sự trong VADS còn rất yếu, sự hiểu biết pháp luật của họ còn hạn chế. Nhất là đương sự ở những vùng nông thôn và miền núi, họ không có điều kiện mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, khi có tranh chấp dân sự xảy ra, họ không biết phải có các chứng cứ, tài liệu gì để bảo vệ quyền lợi của mình, tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu, để cung cấp cho Tòa án. Trong khi đó, chúng ta chưa đủ điều kiện quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc, nên nếu quy định nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng đương sự không có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, quy định Nhà nước (Tòa án) phải hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ là hợp lý.

 Thứ ba, ở nước ta, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc phổ cập các tài liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, nhà ở còn hạn chế; các chứng cứ hiện đang do một số cơ quan Nhà nước có trách nhiệm bảo quản, quản lý. Nhiều tài liệu, giấy tờ, văn bản chưa có điều kiện để công khai cho công dân. Thêm nữa, việc quản lý hành chính còn cồng kềnh, quan liêu; máy móc, trang thiết bị chưa cho phép phổ cập tất cả mọi thông tin này đến với mọi người dân. Nhiều trường hợp, việc thu thập chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý là rất khó khăn. Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đã mất nhiều công sức, thời gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc giải quyết VADS để họ giao nộp cho Tòa án, nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do; hoặc các cơ quan, tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không đúng thời hạn. Điều này đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp, hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thu thập được.

Với vị trí là người tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ xây dựng hồ sơ vụ án, giải quyết vụ án dân sự đúng pháp luật, đúng thời hạn, nên Thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ. Thẩm phán là người phải xác định đối tượng chứng minh, các chứng cứ cần thu thập của vụ án, trên cơ sở đó, Thẩm phán thúc đẩy các bên đương sự chủ động tiến hành thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án, đồng thời Thẩm phán tiến hành các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật.

2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán

Hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán chỉ đặt ra khi VADS đã được thụ lý, xuyên suốt quá trình giải quyết VADS và bị giới hạn bởi yêu cầu của đương sự. Khi thực hiện các hoạt động tố tụng để thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải nắm vững các thuộc tính của chứng cứ, đồng thời xác định chính xác yêu cầu của đương sự (yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ án, những vấn đề cần phải chứng minh, các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án và các chứng cứ đang được lưu giữ ở đâu, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, quy phạm pháp luật nội dung, từ đó áp dụng các biện pháp phù hợp để thu thập chứng cứ.

Xây dựng hồ sơ VADS là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án. Điều 173 BLTTDS quy định, khi lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ: thông báo thụ lý vụ án; yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; thực hiện những biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS. Theo đó, Thẩm phán được tiến hành các hoạt động tố tụng sau đây để thu thập chứng cứ:

2.1. Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập

Sau khi được phân công giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành nghiên cứu hồ sơ khởi kiện và tiến hành hoạt động tố tụng đầu tiên là Thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 174 BLTTDS. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Trong nội dung thông báo thụ lý vụ án có nêu thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có (khoản 2 Điều 174 BLTTDS).

BLTTDS không có quy định thông báo yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Song, để bảo đảm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS cũng như tính công khai, minh bạch trong việc giải quyết VADS và để tiến hành thu thập chứng cứ thì Thẩm phán, sau khi đã chấp nhận xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập), phải thực hiện việc thông báo các yêu cầu đó cho nguyên đơn, bị đơn biết để các đương sự này thực hiện việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án (có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan và nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ kèm theo). Thời hạn, mẫu thông báo yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập có thể áp dụng tương tự thời hạn, mẫu thông báo thụ lý vụ án (Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm”).

Như vậy, thông qua việc thực hiện hành vi thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập với việc yêu cầu các đương sự cung cấp chứng cứ, Thẩm phán đã bước đầu thực hiện việc thu thập chứng cứ.

2.2. Yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ

Trong trường hợp xét thấy chứng cứ chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung. Việc yêu cầu giao nộp bổ sung chứng cứ được thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án và phải bằng văn bản (thông báo giao nộp chứng cứ). Trong thông báo giao nộp chứng cứ, Thẩm phán phải nêu cụ thể các chứng cứ đương sự cần giao nộp. Giao nộp chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, nhưng đương sự chỉ có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thuộc về nghĩa vụ chứng minh của họ.

Để yêu cầu đương sự giao nộp được các chứng cứ theo đúng yêu cầu và mục đích, Thẩm phán phải giải thích cho đương sự biết quy định tại Điều 7 BLTTDS về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý chứng cứ. Căn cứ vào điều luật này, đương sự có quyền yêu cầu các chủ thể đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp để giao nộp cho Tòa án. Hoạt động thu thập chứng cứ này phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Phần III Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP  ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ” đã nêu rõ thủ tục giao nộp chứng cứ trong từng giai đoạn tố tụng, khi đương sự khởi kiện cũng như trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

2.3. Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án

Khi thu thập chứng cứ, ngoài việc phải xác định các chứng cứ cần thu thập của vụ án thì Thẩm phán cần xác định các chứng cứ đương sự đã cung cấp cho Tòa án, chứng cứ đương sự đã tự mình thu thập nhưng không được và có yêu cầu Tòa án thu thập. Việc tiến hành các biện pháp để thu thập chứng cứ phải dựa vào các căn cứ như: theo yêu cầu bằng văn bản của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ những biện pháp Tòa án được tự mình tiến hành thu thập); quy định của pháp luật nội dung và pháp luật TTDS. Tùy từng loại tranh chấp cụ thể, tùy thuộc vào các chứng cứ cần phải thu thập mà Thẩm phán áp dụng các biện pháp phù hợp để thu thập chứng cứ.

Theo quy định của BLTTDS, Thẩm phán được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp sau để thu thập chứng cứ: lấy lời khai của đương sự (Điều 86 BLTTDS, Mục 2 Phần IV Nghị quyết số 04/2005NQ-HĐTP); lấy lời khai người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều 87 BLTTDS); đối chất khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 88 BLTTDS); xem xét thẩm định tại chỗ (Điều 89 BLTTDS); định giá tài sản trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí (điểm b khoản 1 Điều 92); ủy thác thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu, chứng cứ (Điều 93 BLTTDS, Điều 85 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung).

BLTTDS quy định điều kiện để Thẩm phán được tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu như: lấy lời khai người làm chứng (Điều 87 BLTTDS, Mục 3 Phần IV Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP); đối chất (Điều 88 BLTTDS, Mục 4 Phần IV Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP); trưng cầu giám định (Điều 90, 91 BLTTDS, Pháp lệnh Giám định tư pháp, Nghị định số 67 ngày 19/5/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giám định tư pháp, Mục 6 Phần IV Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP); định giá tài sản (Điều 92 BLTTDS, Mục 7 Phần IV Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP); yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ (Điều 94, Mục 8 Phần IV Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP).

2.4. Thu thập chứng cứ của Thẩm phán tại phiên tòa

Trong quá trình xây dựng hồ sơ vụ án, Thẩm phán không chỉ thu thập chứng cứ trước khi xét xử mà còn tiếp tục thu thập chứng cứ, xem xét và kiểm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. BLTTDS cho phép các đương sự xuất trình chứng cứ mới ở bất kỳ thời điểm nào, kể cả ở phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. 

Khoản 4 Điều 83 BLTTDS quy định lời khai của đương sự, người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, bằng băng ghi âm, băng ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều 83 BLTTDS hoặc khai bằng lời tại phiên tòa. Tại phiên tòa, Thẩm phán nghe lời trình bày của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Hội đồng xét xử hỏi, quá trình phát biểu quan điểm tranh luận, đối đáp của đương sự. Đó cũng là quá trình Hội đồng xét xử kiểm tra chứng cứ và tiếp tục thu thập chứng cứ. Trong quá trình đó, có thể xuất hiện lời khai mới của đương sự và những người tham gia tố tụng khác. Thu thập chứng cứ từ việc nghe và hỏi các đương sự, những người tham gia tố tụng khác của Thẩm phán là sự tương tác giữa Thẩm phán và đương sự, những người tham gia tố tụng và được thực hiện bằng sự biểu hiện các hành vi: lắng nghe; đặt câu hỏi. Như vậy, tại phiên tòa, nếu xuất hiện chứng cứ mới thì Thẩm phán có thể phải hoãn phiên tòa để trong thời gian hoãn phiên tòa, Thẩm phán tiếp tục thu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ vụ án, đảm bảo đủ chứng cứ giải quyết vụ án.

3. Hoàn thiện pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự

3.1. Quy định cung cấp chứng cứ

Trong số nguồn chứng cứ thì các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được chiếm một tỷ lệ lớn. Nhưng, nhiều trường hợp đương sự không có chứng cứ đó mà lại đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý. BLTTDS đã quy định rõ trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm đảm bảo cho đương sự được thu thập chứng cứ, cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ (Điều 7 BLTTDS). Mặt khác, chỉ khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì mới có quyền yêu cầu Toà án thu thập (khoản 1 Điều 94 BLTTDS).

Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ, việc dân sự cho thấy, khi giải quyết các vụ, việc mà có các tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thì việc thu thập không hề đơn giản. Nhiều trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lưu giữ chứng cứ thường không trả lời bằng văn bản cho đương sự về việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ mà chỉ từ chối việc cung cấp bằng lời nói. Do đó, đương sự không có tài liệu cung cấp cho Tòa án chứng minh là mình đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể thu thập được. Vì vậy, khi đương sự có đơn yêu cầu Tòa án thu thập, Tòa án cũng không có cơ sở để tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ. Thậm chí, cả khi Tòa án đề nghị cơ quan, tổ chức cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết VADS thì vẫn có những cơ quan, tổ chức không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác, không đúng thời hạn.

Vì vậy, chúng tôi cho rằng, BLTTDS cần bổ sung quy định xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức khi các cơ quan, tổ chức này không thực hiện yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện Kiểm sát về cung cấp tài liệu, chứng cứ. Điều 389 BLTTDS đã khẳng định cá nhân, cơ quan, tổ chức không thi hành quyết định của Toà án về việc cung cấp chứng cứ mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Toà án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc cưỡng chế thi hành. Điều 390 BLTTDS còn nêu “Thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động TTDS do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định”, nhưng đến nay, vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền đối với hành vi cản trở hoạt động TTDS nói chung và hành vi của cá nhân, cơ quan tổ chức không thi hành quyết định của Tòa án nói riêng, nên trong thực tiễn giải quyết các VADS, mặc dù có hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ của cơ quan, tổ chức, nhưng không thể áp dụng biện pháp phạt tiền vì không có cơ sở pháp lý cụ thể để áp dụng chế tài này. Vì vậy, để đảm bảo cho việc giải quyết VADS được chính xác và đúng thời hạn tố tụng, chúng tôi cho rằng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần sớm ban hành văn bản pháp luật quy định cụ thể thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền đối với từng hành vi cản trở các hoạt động TTDS.

3.2. Thời hạn xuất trình chứng cứ

Theo Điều 79 BLTTDS, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ. Trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó (Điều 84 BLTTDS). Như vậy, BLTTDS quy định đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và hậu quả của việc không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ, nhưng lại không quy định thời hạn mà đương sự phải thực hiện việc giao nộp chứng cứ. Điều này có mặt tích cực là tạo điều kiện để đương sự có thể phát huy hết khả năng trong việc tự chứng minh cho yêu cầu cũng như tự bảo vệ quyền lợi của mình, nhưng có hạn chế là không đề cao được trách nhiệm của đương sự trong việc tìm kiếm, thu thập và xuất trình chứng cứ cho Tòa án; hoặc thái độ bất hợp tác với Tòa án cấp sơ thẩm của đương sự. Nhiều đương sự sau khi khởi kiện đã không tự giác thu thập chứng cứ để giao nộp tài liệu, chứng cứ hoặc cố tình trì hoãn việc giao nộp chứng cứ, làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án; hoặc không giao nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm, chỉ nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm, cá biệt có trường hợp chỉ giao nộp chứng cứ trong giai đoạn khiếu nại yêu cầu giám đốc thẩm, tái thẩm, làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài. Hậu quả là nhiều VADS bị hủy nhiều lần, gây tốn kém về thời gian, công sức của Tòa án và các bên đương sự.

Giải pháp cho vấn đề này là cần bổ sung trong BLTTDS quy định, trong đó ấn định thời hạn đương sự xuất trình chứng cứ. Hết thời hạn này, nếu đương sự mới xuất trình chứng cứ thì Tòa án có quyền không sử dụng chứng cứ đó.

3.3. Biện pháp định giá tài sản

Trong nhiều VADS, kết quả định giá là căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án. Điều 92 BLTTDS cũng như Mục 7, Phần IV Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP đã quy định và hướng dẫn về biện pháp định giá tài sản.. Điều 16 BLTTDS cũng đã bổ sung quy định thành viên Hội đồng định giá không được tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng, họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. BLTTDS cũng nêu chế tài áp dụng đối với cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá; người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự cho thấy, các quy định về định giá tài sản trong pháp luật TTDS hiện hành vẫn chưa thật sự đầy đủ, cụ thể. Vì vậy, việc áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ này của các Tòa án còn thiếu thống nhất và gặp rất nhiều khó khăn cả về cơ sở pháp lý cũng như cách thức tổ chức thực hiện. Để cho việc giải quyết vụ án dân sự được thống nhất, không bị kéo dài,  BLTTDS cần bổ sung các quy định cụ thể về  nghĩa vụ, quyền hạn của thành viên Hội đồng định giá, số lượng thành viên của Hội đồng định giá; những trường hợp áp dụng khoản 8 Điều 83 BLTTDS; định giá lại, định giá bổ sung; chi phí định giá; nguyên tắc xác định giá.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi