Vị trí, vai trò của Viện Công tố Pháp, Viện kiểm sát Liên bang Nga và Viện kiểm sát Trung Quốc trong tố tụng dân sự

I. Vị trí, vai trò của Viện Công tố Pháp trong tố tụng dân sự                

 

Trong tố tụng dân sự, theo quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp, Viện công tố có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc với hai tư cách: Thứ nhất, với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công, Viện công tố Pháp tham gia tố tụng với tư cách là bên chính tố (tức là với tư cách như một bên đương sự chính, mà theo cách gọi của ta là với tư cách người tham gia tố tụng); thứ hai, với vai trò bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, và vì lợi ích của Luật, Viện công tố Pháp tham gia tố tụng với tư cách là bên phụ tố (mà theo cách gọi của ta là cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng). 

 

Với tư cách là bên chính tố (như một bên đương sự), Viện công tố có thể tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự hoặc tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước khi bị kiện. Trong trường hợp này, Viện công tố là một bên đương sự thông thường trong vụ án dân sự và có đầy đủ quyền, nghĩa vụ như các bên khác (kể cả quyền kháng cáo tái thẩm, kháng cáo theo thủ tục phá án - giám đốc thẩm). Theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, các trường hợp Viện công tố tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự là tương đối đa dạng. Ví dụ, Viện công tố có thể tự mình: Khởi kiện (khởi tố) để yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật (Điều 184, 191); khởi kiện để yêu cầu dỡ bỏ một công trình xây dựng không có giấy phép; khởi kiện để yêu cầu Toà án tước quyền của cha mẹ đối với con của họ (Điều 378-1)…     

 

Ngoài ra, với tư cách là bên chính tố (như một bên đương sự), Viện công tố cũng có thể tham gia vào các việc dân sự. Trong trường hợp này, Viện công tố là bên đưa yêu cầu giải quyết việc dân sự ra trước Toà án. Ví dụ, theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, Viện công tố có thể tự mình đưa ra yêu cầu tuyên bố một người mất tích hay là đã chết (Điều 88, 122); đưa ra các yêu cầu có liên quan đến lợi ích của người bị suy đoán mất tích (Điều 117); đưa ra yêu cầu Toà án giao đứa con cho người thứ ba chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 289, 373-3, 374-1); đưa ra yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp hỗ trợ giáo dục đối với vị thành niên chưa có quyền tự lập trong trường hợp nếu sức khỏe, sự an toàn hoặc đạo đức của vị thành niên đó trong tình trạng báo động hoặc trong trường hợp nếu các điều kiện giáo dục bị tổn hại nghiêm trọng (Điều 375); đưa ra yêu cầu Toà án chỉ định người quản lý di sản thừa kế (Điều 812); đưa ra yêu cầu Toà án quyết định việc mở giám hộ đối với người thành niên cần được giám hộ một cách liên tục trong đời sống dân sự (Điều 493).v.v.  

 

Với tư cách là bên phụ tố (là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng) nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, vì lợi ích của luật, Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) và tham gia tố tụng để cho ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong một vụ việc dân sự đang được giải quyết tại Toà án, sau khi được Toà án thông báo về vụ việc dân sự đó.

 

Về các trường hợp Toà án thông báo vụ việc dân sự cho Viện công tố, Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp quy định ba trường hợp: 

 

Thứ nhất, thông báo theo quy định của pháp luật: Pháp luật quy định cụ thể những loại vụ việc bắt buộc phải thông báo cho Viện công tố để Viện công tố cho ý kiến; nếu Toà án xét xử mà không thông báo thì bản án sẽ bị vô hiệu. Những vụ việc pháp luật quy định bắt buộc phải thông báo là những vụ việc liên quan đến: Quan hệ cha, mẹ và con; ủy quyền thực hiện quyền của cha mẹ đối với con; tổ chức giám hộ đối với người chưa thành niên; mở thủ tục giám hộ hoặc thay đổi việc giám hộ đối với người thành niên; phá sản doanh nghiệp; thuê khoán sản nghiệp thương mại; yêu cầu thay đổi chế độ tài sản giữa vợ và chồng; đơn yêu cầu Toà Phá án cho ý kiến; yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án nước ngoài…

 

Thứ hai, thông báo theo quyết định của Toà án. Đây là trường hợp Toà án chủ động thông báo vụ việc cho Viện công tố để Viện công tố cho ý kiến (Điều 427 Bộ luật). 

 

Thứ ba, thông báo theo yêu cầu của Viện công tố: Viện công tố có quyền yêu cầu Toà án thông báo về những vụ việc mà Viện công tố xét thấy cần thiết phải tham gia ý kiến (Điều 426 Bộ luật).  

 

Đối với các trường hợp được thông báo, Viện công tố phải đưa ra ý kiến kết luận của mình về mặt pháp luật cũng như về mặt thực tế (về các tình tiết vụ việc). Tuy nhiên, Viện công tố không nhất thiết phải tham dự phiên toà mà có thể gửi bản phát biểu kết luận viết cho Toà án. Trong trường hợp tham dự phiên toà, với tư cách là bên phụ tố (là cơ quan tiến hành tố tụng, là người tiến hành tố tụng), Viện công tố phát biểu cuối cùng. 

 

Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) của Viện công tố trong tố tụng dân sự, tại Điều 618-1 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp quy định: Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà Phá án có quyền kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) trước Toà Phá án vì lợi ích của luật và yêu cầu Viện công tố bên cạnh Toà án đã ra bản án tống đạt kháng nghị cho các bên. Thư ký Toà án tống đạt kháng nghị của Viện công tố bằng thư bảo đảm có yêu cầu xác nhận. Thời hạn kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp là hai tháng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối với những bản án xét xử vắng mặt thì thời hạn kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) tính từ ngày hết hạn kháng án vắng mặt.         

 

Về căn cứ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm), Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp không đưa ra một giới hạn chặt chẽ mà chỉ quy định một cách chung chung là “Toà Phá án có thể giám đốc bản án chung thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vì đã xét xử không đúng pháp luật” (Điều 604 Bộ luật)(1). Do đó, quyền tùy nghi của Toà Phá án trong việc chấp nhận hoặc bác kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) là rất lớn: Toà Phá án có thể bác kháng cáo, kháng nghị vì không có đầy đủ căn cứ pháp luật, có thể bác kháng cáo, kháng nghị vì căn cứ trong kháng cáo, kháng nghị đưa ra không thỏa đáng, hoặc thậm chí cũng có thể chấp nhận kháng cáo, kháng nghị căn cứ vào một lý lẽ pháp lý thuần túy do Toà Phá án tự nêu ra (Điều 620 Bộ luật).

 

II. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Liên bang Nga trong tố tụng dân sự

 

Trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát Liên bang Nga có vị trí, vai trò tương đối đặc trưng. Tính đặc trưng này thể hiện ở chỗ: Viện kiểm sát không thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động xét xử vụ việc dân sự của Toà án, Viện kiểm sát tham gia tố tụng để bảo đảm vị thế tối thượng của luật, củng cố và tăng cường tính thống nhất của pháp chế (tức vì lợi ích của luật), đồng thời Viện kiểm sát hướng tới Toà án như một phương tiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những đối tượng mà sự vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp ấy có ảnh hưởng nghiêm trọng về phương diện xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà tại khoản 3 Điều 1 và tại khoản 4 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga (Luật được ban hành lần đầu năm 1995 và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho đến ngày hôm nay) có quy định: “Theo quy định của pháp luật tố tụng Liên bang Nga, các Kiểm sát viên tham gia các phiên toà xét xử của Toà án, có quyền kháng án đối với các bản án, các quyết định và các phán quyết khác của Toà án có vi phạm luật”; “trong trường hợp việc vi phạm quyền tự do và các quyền khác của con người và của một công dân nói chung được bảo vệ theo trình tự tố tụng dân sự, khi người bị hại vì lý do sức khỏe hay vì tuổi tác đã cao hay do một số nguyên nhân khác không tự bảo vệ quyền lợi trước phiên toà hoặc khi vi phạm quyền tự do và các quyền khác của (số lượng) nhiều công dân hoặc khi mà trong một số tình huống đặc biệt khác nếu việc vi phạm có ảnh hưởng nghiêm trọng về phương diện xã hội, thì Kiểm sát viên khởi kiện vụ án dân sự đến Toà án và trong các phiên toà ấy, Kiểm sát viên sẽ bảo vệ lợi ích cho người bị hại”.  

 

Cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 1, khoản 4 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga, tại Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga (Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga được Duma quốc gia (tương đương Hạ nghị viện) thông qua ngày 23/10/2002 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2003) đã quy định:

 

“1. Kiểm sát viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người không xác định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương. Kiểm sát viên chỉ khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân trong trường hợp công dân đó không thể tự mình khởi kiện vì lý do sức khoẻ, tuổi tác, không có năng lực hành vi hoặc vì những lý do chính đáng khác.

 

2. Khi khởi kiện Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ trả lệ phí. Trong trường hợp Kiểm sát viên rút đơn khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác thì việc giải quyết vụ án vẫn tiếp tục nếu nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp nguyên đơn rút đơn kiện, Toà án đình chỉ vụ án nếu điều đó là không trái pháp luật hoặc không vi phạm đến quyền và lợi ích của những người khác.

 

3. Với mục đích thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Kiểm sát viên tham gia tố tụng và phát biểu kết luận đối với những vụ án liên quan đến việc buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ, hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này và luật liên bang quy định”.

 

Theo quy định của Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, có hai hình thức tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự:

 

Thứ nhất, Kiểm sát viên tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người “châm ngòi”, người khởi động các thủ tục xét xử sơ thẩm, chống án, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bằng việc đệ đơn khởi kiện, đơn kháng kiện (đơn đề nghị chống án, đơn đề nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) đối với bản án, quyết định không có căn cứ của Toà án.  

 

Theo quy định tại Điều 45 nêu trên, có 3 loại việc dân sự mà Kiểm sát viên có thể khởi kiện, đó là: 

 

1. Loại việc dân sự liên quan trực tiếp đến lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa phương. 

 

2. Loại việc dân sự liên quan trực tiếp đến quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân trong trường hợp công dân đó không thể tự mình khởi kiện vì lý do sức khoẻ, tuổi tác, không có năng lực hành vi hoặc vì những lý do chính đáng khác. Ví dụ, theo quy định của luật liên bang “Bộ Luật Hôn nhân và gia đình Liên bang Nga”, Kiểm sát viên có quyền khởi kiện: Yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật (Điều 28); yêu cầu tước bỏ hoặc hạn chế quyền của cha mẹ (Điều 70, 73); yêu cầu tuyên bố thỏa thuận cấp dưỡng vi phạm quyền, lợi ích của người được cấp dưỡng (Điều 102); yêu cầu hủy bỏ việc nhận nuôi con nuôi (Điều 142).     

 

3. Loại việc dân sự liên quan trực tiếp đến quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của tập hợp người không xác định. Chẳng hạn, Kiểm sát viên có quyền khởi kiện cơ sở công nghiệp nào đó mà do hoạt động của cơ sở này đã xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của nhiều người hoặc làm ô nhiễm môi trường; hoặc Kiểm sát viên cũng có quyền khởi kiện văn bản pháp quy trái luật đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tập hợp một số người nào đó (ví dụ như trường hợp, theo đơn khởi kiện của Kiểm sát viên, Toà án thành phố Bijsk vùng Antai đã tuyên hủy văn bản pháp quy của một tổ chức dịch vụ công với lý do: Văn bản này có nội dung trái với Điều 17 Luật liên bang “Về bảo đảm an sinh xã hội cho các thương binh ở Liên bang Nga” khi tự đưa ra quy định tước bỏ những ưu đãi dành cho “tập hợp” toàn bộ thương binh trên địa bàn thành phố).           

 

Thứ hai, Kiểm sát viên tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và phát biểu kết luận đối với những vụ án liên quan đến việc buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn tham gia và phát biểu kết luận về vụ án trong những trường hợp khác do Bộ luật này và luật liên bang quy định. Ví dụ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, Kiểm sát viên còn có quyền tham gia phiên toà và phát biểu kết luận đối với những vụ án như: Giải quyết đơn yêu cầu bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (Điều 252); giải quyết đơn yêu cầu bảo vệ quyền bầu cử và quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga (Điều 260); giải quyết đơn yêu cầu nhận nuôi con nuôi (Điều 273); giải quyết đơn yêu cầu công nhận công dân bị mất tích hoặc là đã chết (Điều 278); giải quyết đơn yêu cầu hạn chế năng lực hành vi của công dân, thừa nhận người không có năng lực hành vi, hạn chế hoặc tước quyền của người chưa thành niên từ 14 đến 18 tuổi trong việc tự định đoạt thu nhập của mình (Điều 284); giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố người chưa thành niên có năng lực hành vi đầy đủ (Điều 288); giải quyết đơn yêu cầu buộc công dân chữa bệnh tại bệnh viện tâm thần hoặc gia hạn thời hạn bắt buộc chữa bệnh đối với công dân bị rối loạn thần kinh (Điều 304)…    

 

Tuy nhiên, cần lưu ý là, dù tham gia tố tụng dân sự dưới hình thức nào thì việc tham gia của Kiểm sát viên không phải là để bảo vệ lợi ích của riêng Viện kiểm sát mà là nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của một số người khác và của tập hợp người không xác định, vì lợi ích của những người này cũng có tính chất công và mang ý nghĩa xã hội. Cùng với sự tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, sự tham gia của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự là sự tiếp tục khẳng định những mục đích hoạt động của Viện kiểm sát Liên bang Nga là “bảo đảm tính tối cao của luật pháp, củng cố và tăng cường tính thống nhất của pháp chế, bảo vệ quyền tự do và các quyền khác của con người và của công dân, cũng như các lợi ích của xã hội và Nhà nước được luật pháp bảo vệ” (khoản 2 Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga).

 

Vị trí của Kiểm sát viên khi tham gia tố tụng dân sự:

 

1. Vị trí của Kiểm sát viên khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người “châm ngòi”, người khởi động các thủ tục xét xử sơ thẩm  

 

Tại khoản 2 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga quy định: “Khi khởi kiện Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, trừ quyền hoà giải và nghĩa vụ trả lệ phí. Trong trường hợp Kiểm sát viên rút đơn khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác thì việc giải quyết vụ án vẫn tiếp tục nếu nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp nguyên đơn rút đơn kiện, Toà án đình chỉ vụ án nếu điều đó là không trái pháp luật hoặc không vi phạm đến quyền và lợi ích của những người khác”.

 

Như vậy, dưới góc độ của luật tố tụng thì khi khởi kiện Kiểm sát viên là nguyên đơn. Và vì là nguyên đơn dưới góc độ của luật tố tụng nên Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng tương tự như nguyên đơn. Tuy nhiên, trên phương diện của luật nội dung, Kiểm sát viên không phải là nguyên đơn, không phải là bị đơn và cũng không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do đó, Kiểm sát viên không có quyền hoà giải và không có nghĩa vụ trả lệ phí; trong trường hợp Kiểm sát viên rút đơn khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác thì việc giải quyết vụ án vẫn tiếp tục nếu nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Toà án đình chỉ vụ án dân sự nếu điều đó là không trái pháp luật và không vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác. 

 

Khi khởi kiện, Kiểm sát viên có trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Tại phiên toà xét xử dân sự, Kiểm sát viên là người trình bày đầu tiên, có quyền tham gia vào việc nghiên cứu, xem xét chứng cứ, thẩm định tại chỗ, đặt câu hỏi cho người làm chứng, người giám định và những người tham gia tố tụng khác, có quyền tham gia tranh luận nhưng không có quyền kết luận đối với vụ án mà mình khởi kiện.

 

2. Vị trí của Kiểm sát viên khi tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và phát biểu kết luận đối với vụ án

 

Khi tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và phát biểu kết luận đối với vụ án, Kiểm sát viên là người nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội. Khác với hình thức tham gia tố tụng khi tự mình khởi kiện, khi tham gia phiên toà do người khác khởi kiện, Kiểm sát viên không phải trình bày, giải thích với Hội đồng xét xử, không bảo vệ yêu cầu của bên nguyên hay bên bị, không tham gia tranh luận, đối đáp với các bên, nhưng có quyền tham gia vào việc nghiên cứu, xem xét chứng cứ, thẩm định tại chỗ, đặt câu hỏi cho người làm chứng, người giám định và những người tham gia tố tụng khác, và phát biểu kết luận đối với vụ án khi kết thúc phần xét hỏi.                

 

Về vị trí, vai trò Viện kiểm sát Liên bang Nga trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo quy định mới của Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, Viện kiểm sát Liên bang Nga không thực hiện thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm như trước đây nữa. Thay vào đó, Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, Phó Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, Kiểm sát trưởng các cấp và cấp Phó của họ chỉ có quyền đưa ra văn bản đề nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những trường hợp có Kiểm sát viên tham gia tố tụng tại phiên toà dưới hai hình thức nêu trên. Đứng về mặt tố tụng, quyền đề nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát có “vị trí” pháp lý tương đương với quyền kháng cáo phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của các bên đương sự(2). Và vì thế, cũng giống như đơn kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm của đương sự, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của Viện kiểm sát không đương nhiên dẫn tới việc mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm mà phải trải qua một thủ tục tố tụng “riêng và đặc biệt” do Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm tiến hành nhằm kiểm tra, xem xét việc kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm hay việc đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đó có cơ sở hay không rồi mới quyết định việc mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm.          

 

Về căn cứ đề nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án. Theo quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, Viện kiểm sát có thể đề nghị giám đốc thẩm trong trường hợp có những vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung hoặc pháp luật tố tụng. Riêng đối với quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án tối cao Liên bang Nga, thì Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, Phó Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga chỉ có thể đề nghị giám đốc thẩm lên Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao Liên bang Nga nếu quyết định giám đốc thẩm đó vi phạm tính thống nhất của thực tiễn xét xử (khoản 3 Điều 377). Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao Liên bang Nga là quyết định cuối cùng, không bị kháng cáo hoặc đề nghị giám đốc thẩm lại lần nữa (khoản 1 Điều 376).

 

III. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Trung Quốc trong tố tụng dân sự

 

Trong tố tụng dân sự, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát Trung Quốc được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu sau đây:   

 

Thứ nhất, nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng để khởi kiện vụ án dân sự. Theo quy định tại Điều 77, 78 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc (được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thông qua ngày 17/3/1996 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1997) và theo hướng dẫn của Bản giải thích của Toà án nhân dân tối cao Trung Quốc “Về một số vấn đề chấp hành Luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, nếu tài sản quốc gia, tài sản tập thể bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây nên, mà cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không tự đề xuất khởi kiện dân sự, Viện kiểm sát nhân dân có thể quyết định việc khởi kiện dân sự kèm theo cùng với việc đưa ra cáo trạng buộc tội. Việc khởi kiện dân sự sẽ được xét xử đồng thời với vụ án hình sự. Trong trường hợp cần thiết (ví dụ như trường hợp mà ngay một lúc khó xác định tổn thất vật chất người bị hại phải gánh chịu hoặc trường hợp đương sự chưa thể tới tham dự phiên toà…), thì để tránh việc kéo dài quá mức thời gian xét xử vụ án hình sự, việc khởi kiện dân sự kèm theo có thể do cùng một Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết sau khi xét xử xong phần hình sự. Nếu thành viên nào đó của Hội đồng xét xử không thể tiếp tục tham gia xét xử, thì có thể thay thế. Khi Toà án giải quyết vụ án dân sự kèm theo, ngoài việc áp dụng Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, còn cần phải áp dụng các quy định liên quan của Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự; còn Kiểm sát viên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án có quyền, nghĩa vụ tương tự như nguyên đơn, trừ quyền hòa giải và nghĩa vụ nộp các lệ phí tố tụng.                   

 

Thứ hai, thực hiện chức năng giám sát pháp luật trong tố tụng dân sự thông qua hoạt động kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

 

Liên quan đến thẩm quyền kháng nghị này của Viện kiểm sát, có ba điểm đặc biệt cần lưu ý sau đây:

 

Một là, khác với thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Trung Quốc được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả thủ tục tái thẩm. Điều này thể hiện ở chỗ: Thủ tục giám đốc thẩm không chỉ áp dụng trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án mà còn được áp dụng cả trong trường hợp có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung phán quyết của Toà án mà Toà án không biết được khi ra phán quyết đó. Xuất phát từ lý do đó, tại Điều 185 Luật tố tụng dân sự Trung Quốc đã không có sự phân biệt giữa căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm như ở nước ta khi đưa ra quy định Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong các trường hợp sau: “1. Những chứng cứ mà bản án, quyết định cũ chủ yếu được dùng để nhận định sự thật của vụ án, là không đầy đủ hoặc không đúng; 2. Bản án, quyết định cũ thực sự có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật; 3. Toà án nhân dân vi phạm trình tự luật định có thể ảnh hưởng đến sự đúng đắn của bản án, quyết định đối với vụ án; 4. Thẩm phán trong khi xét xử vụ án đã có hành vi tham ô, hối lộ, hoặc do động cơ cá nhân gian lận mà ra bản án, quyết định trái pháp luật”;

 

Hai là, khác với Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004, bên cạnh việc quy định về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Toà án, Viện kiểm sát, Luật tố tụng dân sự Trung Quốc còn ghi nhận quyền kháng cáo giám đốc thẩm của đương sự;  

 

Ba là, giống như nguyên tắc thực hiện thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004, trong Luật tố tụng dân sự Trung Quốc, cả Toà án và Viện kiểm sát đều có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và việc kháng nghị giám đốc thẩm cũng được thực hiện theo nguyên tắc: Kháng nghị được tiến hành tại Toà án cấp dưới hoặc cấp tương đương; và Toà án nhân dân tối cao cũng như Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều có quyền kháng nghị giám đốc thẩm tại Toà án nhân dân các cấp. Tuy nhiên, khác với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam năm 2004, trong Luật tố tụng dân sự Trung Quốc cũng như trong Bản giải thích của Toà án nhân dân tối cao Trung Quốc, đối với cơ quan Viện kiểm sát, không có quy định cụ thể về chức danh của những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Điều này có thể hiểu, trong tố tụng dân sự Trung Quốc, không chỉ Viện trưởng, Phó Viện trưởng mà có thể cả Kiểm sát viên cũng có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm./.

__________

 (1) Tuy nhiên, cần lưu ý là, mặc dù không có quy định chặt chẽ về căn cứ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm), nhưng trong tố tụng dân sự Pháp lại có những cơ chế khác để hạn chế kháng cáo, kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) tràn lan, thiếu căn cứ, ví dụ như cơ chế chỉ tiến hành xem xét kháng cáo phá án (giám đốc thẩm) nếu vụ án bị kháng cáo có giá ngạch cao, hoặc cơ chế phạt tiền đối với những trường hợp lạm dụng kháng cáo phá án (giám đốc thẩm) không có căn cứ nhằm mục đích kéo dài vụ án…

 

(2) Bên cạnh quyền kháng cáo giám đốc thẩm của các bên đương sự, quyền đề nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát, thì Chánh án và Phó Chánh án Toà án tối cao Liên bang Nga cũng có quyền đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao Liên bang Nga xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm nhằm bảo đảm tính thống nhất của thực tiễn xét xử và bảo vệ pháp chế (Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga).

 


 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi