Một số ý kiến trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (hiện nay Nghị định số 05/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 đã thay thế Nghị định số 182/2004/NĐ-CP), song việc áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai còn có những quan điểm khác nhau. Chúng tôi xin đơn cử một số trường hợp như sau:
 

1. Đối với trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích: Năm 2007, có một số Doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Nam Định đã nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân và tự ý vượt lập, san lấp và xây dựng công trình trên phần đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép; hiện nay còn có những quan điểm khác nhau trong việc xử lý vi phạm đối với trường hợp này.

 

Theo quan điểm thứ nhất thì mặc dù hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng đất là trái phép, song do hành vi vi phạm này được thực hiện đến nay đã quá 02 năm, bởi vậy người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ ra quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép...

 

Theo quan điểm thứ hai thì do hành vi tự ý chuyển mục đích sử dụng là trái với quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số 105/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, nên hành vi vi phạm này phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

 

Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai vì: Hành vi sử dụng đất không đúng mục đích là hành vi sử dụng đất không đúng với mục đích sử dụng, loại đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai; hơn nữa mặc dù hành vi sử dụng đất không đúng mục đích chưa chấm dứt mà vẫn đang diễn ra, bởi vậy người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.

 

2. Đối với hành vi chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai

 

Trên địa bàn tỉnh Nam Định có một số doanh nghiệp được Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định cho thuê đất và đã được giao đất tại thực địa từ ngày 01/01/2006; theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì doanh nghiệp phải hoàn thành dự án đầu tư và đưa vào sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh từ ngày 31/12/2006, song hiện nay doanh nghiệp mới xây dựng được 1/2 các hạng mục công trình theo dự án đầu tư, thậm chí có doanh nghiệp mới chỉ san lấp mặt bằng và xây tường bao... Đối với những trường hợp này hiện nay còn có những quan điểm khác nhau về đường lối xử lý vụ việc.

 

Theo quan điểm thứ nhất thì hành vi không sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư quá thời hạn mười hai (12) tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai bốn (24) tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép phải bị xử phạt vi phạm hành chính, trong trường hợp này mặc dù đến nay đã quá thời hạn 2 năm kể từ ngày được giao đất, nhưng hiện người sử dụng đất vẫn không thực hiện đúng theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư; bởi vậy người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm đưa đất vào sử dụng là phù hợp với quy định của pháp luật.

 

Theo quan điểm thứ hai thì trong trường hợp này người có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai từ ngày 01/01/2006 doanh nghiệp được bàn giao đất, theo tiến độ đầu tư được ghi trong dự án thì doanh nghiệp phải hoàn thành dự án đưa vào phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh từ ngày 31/12/2006, song hiện doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, như vậy, tính đến thời điểm này (năm 2011) đã quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là hai năm (02 năm); bởi vậy, đối với những trường hợp này nếu người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là trái với quy định của pháp luật.

 

Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai vì theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 và khoản 1 Điều 4 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm hành chính được thực hiện; đối với trường hợp này thì chúng ta phải xác định thời hiệu để xử phạt vi phạm hành chính là 2 năm tính từ ngày 01/01/2008 đến ngày 31/12/2009, kể từ sau ngày 01/0/2010 trở đi thì người có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì đã quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính; bởi vậy không thể áp dụng khoản 2 Điều 20 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP để xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp được.

 

Sau khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có hiệu lực thi hành thì Viện kiểm sát nhân dân các cấp không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội; trong đó có lĩnh vực kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính; việc kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực này có phần còn buông lỏng, hiện nay công tác này chưa được giao cho một cơ quan nào kiểm tra, giám sát thường xuyên; bởi vậy việc xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai còn có những điểm bất cập.

 

Để việc xử lý các hành vi vi phạm hành chính nói chung và hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai nói riêng được triệt để và thống nhất, chúng tôi đề nghị các Bộ, ngành Trung ương có văn bản hướng dẫn cụ thể để địa phương thực hiện./.

 

Phạm Đức Hiệp

 

(Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định)

Theo http://tapchikiemsat.org.vn

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi