Pháp luật và hợp đồng điện tử

Th.s Trần Văn Biên

Viện Nhà nuớc và pháp luật

1.Xu hướng xây dựng pháp luật về hợp đồng điện tử

Giữa pháp luật và công nghệ thông tin có nhiều tác động qua lại. Có ý kiến cho rằng, một trong những lý do dẫn đến cần phải cải cách pháp luật nói chung là khi có sự ra đời của công nghệ mới mà pháp luật hiện hành không đủ khả năng điều tiết1. Theo GS. Yves Poullet, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu khoa học và pháp luật, Đại học Namur, vương quốc Bỉ, công nghệ phát triển làm nên cuộc cách mạng của pháp luật, thậm chí làm mất cả nền tảng của pháp luật2. Sự trở lại của công nghệ thông tin là do ngày nay Internet đã trở thành một hiện tượng xã hội quan trọng và ứng dụng Internet đang ngày càng phổ biến trong hoạt động của các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các gia đình và trong các mối quan hệ giữa con người với nhau. Hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật theo các phương thức truyền thống hiện nay đang bị tác động sâu sắc trong xã hội Internet, bởi chính các đặc tính của công nghệ này.

Hợp đồng điện tử là hợp đồng được giao kết thông qua việc sử dụng phương tiện điện tử. Nói đến hợp đồng điện tử là nói đến một phương thức thiết lập hợp đồng chứ không phải là một loại hợp đồng dựa trên một đối tượng cụ thể nào. Công nghệ thông tin không làm thay đổi về mặt bản chất của hợp đồng. Nếu trước đây, để thiết lập một hợp đồng, nguời ta chỉ có thể thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình dưới hình thức là giao kết bằng miệng hoặc giao kết bằng văn bản, nay nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà chúng ta có thêm hình thức giao kết phương tiện điện tử. Vì vậy, dù hợp đồng được giao kết bằng phương thức gì thì những nguyên tắc chung, cơ bản nhất áp dụng trong giao dịch, hợp đồng vẫn đương nhiên được áp dụng. Ví dụ: Ở Việt Nam, khi giao  kết một hợp đồng mua bán tài sản, dù hợp đồng đó được giao kết bằng bất kỳ phương thức nào (kể cả bằng phương tiện điện tử), thì các bên có liên quan vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc, các quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng. Như vậy, có thể khẳng định rằng nguyên tắc, quy định mang tính cốt lõi trong pháp luật hợp đồng truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng điện tử.

Tuy nhiên, thực tế giao kết hợp đồng tử cũng cho thấy sự phức tạp mà hợp đồng điện tử mang lại đối với luật hợp đồng hiện có và những vấn đề có thể nảy sinh khi áp dụng quy định hiện tại đối với hợp đồng điện tử như vấn đề về xác định năng lực chủ thể của các bên, bảo vệ quyền lợi nguời tiêu dùng, xác thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng, vấn đề bản gốc, công chứng hợp đồng điện tử... Pháp luật hợp đồng truyền thống chưa đề cập đến những vấn đề như thông điệp dữ liệu, giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử... và vì vậy, chưa thể giải quyết những đề rất đặc thù phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Do đó, ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh các đạo luật hợp đồng truyền thống, người ta đã phải sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những giao dịch đuợc tiến hành bằng phuơng tiện điện tử. Các văn bản quy phạm pháp luật này sau khi được ban hành sẽ có hai tác dụng: 1. Đem lại niềm tin cho các bên tham gia giao kết hợp đồng điện tử (bởi giờ đây các hoạt động mua bán, kinh doanh trên mạng đã được pháp luật thừa nhận và bảo hộ), từ đó sẽ kích thích các bên tham gia giao kết hợp đồng điện tử nhiều hơn và với khối lượng giao dịch lớn hơn; 2. Tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc giao kết hợp đồng điện tử. Như vậy, quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử ngoài việc phải tuân thủ các quy định pháp luật về hợp đồng nói chung, còn chịu sự điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật đặc thù dành riêng cho hợp đồng điện tử.

Khi phương thức giao kết hợp đồng thay đổi thì nhu cầu cần thiết là pháp luật về hợp đồng cũng cần phải có sự thay đổi cho phù hợp. Tuy nhiên, những thay đổi đó chỉ mang tính hình thức, mang tính chất kỹ thuật, còn bản chất và mục đích của những giao dịch này vẫn không có gì thay đổi. Do đó, xây dựng một đạo luật riêng về hợp đồng điện tử là không cần thiết. Một luật chuyên biệt về hợp đồng điện tử sẽ chỉ là sự diễn đạt lại một cách khôn khéo những quy định pháp luật hợp đồng hiện tại để bao gồm cả hợp đồng điện tử. Trên thế giới, chúng ta chưa chứng kiến quốc gia nào xây dựng một đạo luật riêng điều chỉnh việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Thay vào đó, người ta thường ban hành những đạo luật điều chỉnh về hình thức điện tử của tất cả các giao dịch pháp lý (các điều kiện, cách thức để các giao dịch tiến hành bằng phương tiện điện tử được xem là có giá trị pháp lý như các giao dịch tiến hành bằng các phuơng tiện truyền thống), trong đó có hợp đồng; những vấn đề về nội dung của từng loại giao dịch vẫn do pháp luật chuyên ngành điều chỉnh. Hợp đồng điện tử là một giao dịch và những quy định về giao kết hợp đồng điện tử chỉ là một phần trong pháp luật về giao dịch điện tử hoặc thương mại điện tử mà thôi.

Trên thế giới, xu huớng xây dựng pháp luật về giao dịch điện tử thường quy định ba nhóm vấn đề cơ bản: 1) Thừa nhận các giao dịch điện tử (qua việc thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu); 2) Thừa nhận chữ ký điện tử (chữ ký số) nhằm bảo đảm tính an toàn và bảo mật của các hệ thống thông tin; 3) Quy định về những khía cạnh liên quan tới giao dịch điện tử gồm: Quyền và nghĩa vụ của các nhà cung cấp dịch vụ mạng; thanh toán trực tuyến, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên mạng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân trên mạng, tội phạm, vi phạm trên mạng và cơ chế giải quyết tranh chấp trên mạng.

Tùy thực tế phát triển của mình, từng nước sẽ hình thành các chế định pháp lý về giao dịch điện tử theo 5 khuynh hướng sau:

a.Xây dựng một luật độc lập bao quát cả ba nhóm vấn đề nêu trên. Cách này tránh khỏi việc sửa đổi, bổ sung những văn bản luật hiện hành và kịp thời đưa ra các quy định điều chỉnh các giao dịch điện tử. Tuy nhiên, một luật như trên liên quan tới nhiều lĩnh vực, việc xây dựng không đơn giản, do đó đòi hỏi trình độ lập pháp cao. Hàn Quốc đã xây dựng Luật cơ bản về thương mại điện tử bao quát cả ba nhóm vấn đề trên, tuy nhiên đối tượng điều chỉnh chỉ là các giao dịch thuơng mại, không mở rộng cho mọi giao dịch điện tử.

b.Xây dựng nhiều luật độc lập quy định về từng vấn đề cụ thể trong ba nhóm vấn đề trên. Điển hình là Malaysia với các Luật Chữ ký số, Luật Chữa bệnh từ xa, Luật Truyền thông và đa phương tiện... Cách này không đòi hỏi phải sửa đổi pháp luật chuyên ngành, có khả năng nhanh chóng xây dựng các văn bản pháp lý điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của giao dịch điện tử. Tuy nhiên, đòi hỏi phải hình thành một cơ quan chuyên nghiên cứu và đề xuất chính sách liên quan tới công nghệ thông tin (Malaysia đã thành lập MSC - Multimedia Super Cor- ridor - có trách nhiệm đề xuất và xây dựng nội dung các vấn đề pháp lý liên quan tới công nghệ thông tin).

c.Xây dựng luật riêng thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và/hoặc chữ ký điện tử (chữ ký số). Các vấn đề khác liên quan đến giao dịch điện tử được quy định bằng cách sửa đổi, bổ sung pháp luật chuyên ngành, ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc khuyến nghị các nước theo huớng này với việc ban hành Luật mẫu về Thương mại điện tử (phạm vi điều chỉnh có thể được mở rộng cho mọi giao dịch điện tử) và Luật mẫu về Chữ ký điện tử. Philippines cũng theo hướng này với việc hợp nhất nội dung hai Luật mẫu của UNCITRAL.

d.Xây dựng luật riêng thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và/hoặc chữ ký điện tử (chữ ký số). Luật này cũng bao gồm cả một số vấn đề được coi là quan trọng như quyền và nghĩa vụ của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến, thanh toán điện tử. Các vấn đề còn lại liên quan đến giao dịch điện tử được quy định bằng cách sửa đổi, bổ sung pháp luật chuyên ngành. Điển hình là Mỹ với Luật Thống nhất về giao dịch điện tử (1999) và Luật E-Sign (Luật Chữ ký điện tử trong pháp luật thương mại quốc gia và quốc tế), Canada, Australia, Singapore...

e.Không xây dựng luật mới mà chỉ sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành và đưa ra các quy định duới luật. Pháp đã sửa đổi Bộ luật Dân sự (Điều 1316-4) để thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử, dựa vào Điều 1316-4 và Chỉ thị về chữ ký điện tử của Liên minh châu Âu, Pháp cũng đã xây dựng một Nghị định về chữ ký điện tử, cung cấp các dịch vụ, vừa có những nội dung hoạt động xã hội mới (như cửa hàng ào, kinh doanh qua mạng...)3.

2.Kinh nghiệm xây dựng pháp luật liên quan đến hợp đồng điên tử trong khuôn Liên hợp quốc

Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, năm 1996, ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc đã soạn thảo Luật mẫu về Thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ mặt pháp lý cho những tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia thương mại điện tử. Luật mẫu tài là liệu tham khảo chính cho các nhà lập pháp của phần lớn các quốc gia trong quá trình xây dựng pháp luật về thương mại điện tử (trong đó có hợp đồng điện tử) của mình. 5 năm sau, vào năm 2001, Luật mẫu của UNCITRAL về Chữ ký điện tử được ban hành làm rõ thêm về khái niệm chữ ký điện tử được quy định tại Điều Luật mẫu về Thương mại điện tử. Luật mẫu đã đưa ra một loạt các quy định liên quan đến việc sử dụng an toàn và đảm bảo giá trị pháp lý của chữ ký điện tử. Đóng góp mới nhất của UNCITRAL là Công ước của Liên hợp quốc về việc sử dụng các giao dịch điện tử trong các hợp đồng quốc tế (được thông qua năm 2005) đã góp phần tăng cường tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng quốc tế được giao kết bằng phương tiện điện tử.

2.1. Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử năm 1996 (sửa đổi năm 1998)

Luật mẫu về Thương mại điện tử được coi như là văn bản nền tảng của pháp luật thương mại điện tử quốc tế. Được thông qua ngày 12/6/1996, sau nhiều năm nghiên cứu soạn thảo, luật mẫu này nhằm đơn giản hóa việc sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại và lưu trữ thông tin. Nhận thấy rằng, “các giao dịch thi mại quốc tế ngày càng có nhiều việc trao đổi các dữ liệu điện tử”, Liên hợp quốc, trong Nghị quyết ngày 30/01/1997 đã khẳng định rằng, Luật mẫu này cùng với văn bản hướng dẫn việc áp dụng vào hệ thống luật quốc gia, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại điện tử “và có thể góp phần đáng kể vào sự phát triển hài hòa các quan hệ kinh tế”.

Luật mẫu về Thương mại điện tử được chia thành 2 phần với 17 điều:

Phần I. Thương mại điện tử nói chung (gồm 3 chương): Chương 1. Các quy định chung, Chương 2. Các điều kiện luật định đối với thông điệp dữ liệu, Chương 3. Truyền gửi các thông điệp dữ liệu.

Phần II. Thương mại điện tử trong các lĩnh vực cụ thể (gồm 1 chương): Chương 1. Vận chuyển hàng hóa.

Về tổng thể, Luật mẫu về Thương mại điện tử quy định một số nội dung chính sau:

-   Định nghĩa về một số thuật ngữ được sử dụng trong Luật (Điều 2). Một trong số đó, thuật ngữ “thông điệp dữ liệu” - yếu tố quan trọng trong giao kết hợp đồng điện tử, theo Điều 2.a, được định nghĩa khá rộng và bao hàm các phương thức truyền thông điện tử đa dạng. Khái niệm này chi các “thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự, và bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax

-  Công nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu (Điều 5).

-  Công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử (Điều 7).

-  Công nhận các giá trị như văn bản, giá trị bản gốc, giá trị chứng cứ và khả năng lưu giữ được của thông điệp dữ liệu (Điều 6, Điều 8, Điều 9 và Điều 10).

-  Quy định về sự sở hữu của người khởi tạo đối với thông điệp dữ liệu (Điều 13).

-  Quy định về thời điểm và địa điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu (Điều 15).

-  Quy định về sự hình thành và hiệu lực của hợp đồng điện t: “Trong khuôn khổ hình thành hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, một chào hàng và chấp nhận một chào hàng được phép thể hiện bằng phương tiện các thông điệp dữ liệu. Khi một thông điệp dữ liệu được sử dụng trong việc hình thành một hợp đồng, thì giá trị và hiệu lực thi hành của hợp đồng đó không thể bị phủ nhận chỉ với lý do rằng một thông điệp dữ liệu đã được dùng vào mục đích ấy” (Điều 11).

Trong quá trình xây dựng Luật mẫu về Thương mại điện tử, một nguyên tắc soạn thảo quan trọng được UNCITRAL sử dụng đó là nguyên tắc tương đương chức năng. Tương đương chức năng ở đây có nghĩa là Luật mẫu tìm ra những chức năng cơ bản của một văn bản giấy, so sánh và chứng minh rằng thông điệp dữ liệu hoàn toàn đáp ứng được các chức năng đó, tức là thông điệp dữ liệu cũng có chức năng tương đương như văn bản giấy. Từ đó công nhận thông điệp dữ liệu có giá trị pháp lý trong các giao dịch tương tự văn bản giấy là hình thức được nhiều người tin tưởng. Thay vì xây dựng những quy định hoàn toàn mới, UNCITRAL đã đưa ra những quy định tương ứng với những khái niệm đã tồn tại như văn bản viết, chữ ký và bản gốc nhằm đảm bảo tính quen thuộc của các quy định áp dụng trong lĩnh vực thương mại điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng.

Luật mẫu về Thương mại điện tử đã có thành công nhất định khi một số lượng lớn các quốc gia đã sử dụng nó như một tài liệu mẫu hoặc mô phỏng, trích dẫn lại Luật mẫu trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý của hoạt động thương mại điện tử. Thực tế các văn bản pháp luật xây dựng trên cơ sở Luật mẫu về Thương mại điện tử đã được thông qua ở hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó có Việt Nam (năm 2005); và những quy định pháp luật đồng bộ mô phỏng từ Luật mẫu và các nguyên tắc cơ bản của Luật này đă đuợc xây dựng ở Mỹ và Canada. Ngay cả khi Luật mẫu không nhằm hợp nhất pháp luật mà chỉ là hài hóa về mặt pháp luật, thì hiệu quả của Luật mẫu này là không thể phủ nhận. Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã thừa nhận Luật mẫu bằng việc tuyên bố trong Nghị quyết về chữ ký điện tử rằng Luật mẫu về Thương mại điện tử “là văn bản quy chiếu mang tính toàn cầu đặc biệt quan trọng đối với luật về thương mại điện tử”4.

2.2.Luật mẫu về Chữ ký điện tử năm 2001

Ngày 05 tháng 7 năm 2001, UNCITRAL đã thông qua Luật mẫu về Chữ ký điện tử và sách huớng dẫn về việc áp dụng. Công việc biên soạn đã được bắt đầu ngay sau khi Luật mẫu đầu tiên được thông qua (cuối năm 1996). Phải mất gần 5 năm thì Luật mẫu thứ hai này mới được thông qua sau quá trình tranh luận lâu dài. Điều này là do chữ ký điện tử cũng như chữ ký giấy đều có vai trò rất quan trọng trong tất cả các hệ thống luật, dù là hệ thống luật thông lệ hay hệ thống luật thành văn. Ý thức về tính cần thiết của công nghệ mới là “chữ ký điện tử”, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã khuyến cáo các quốc gia rằng Luật mẫu này sẽ bổ sung hiệu quả cho Luật mẫu đầu tiên và để đảm bảo tính an toàn pháp lý nhờ vào việc hài hóa các quy định về chứng cứ điện tử.

Mục đích của việc ban hành Luật mẫu thứ hai này là nhằm hướng dẫn các quốc gia thành viên trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về chữ ký điện tử, góp phần hài hòa pháp luật quốc tế về lĩnh vực này. Luật mẫu về Chữ ký điện tử đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể để đảm bảo độ an toàn kỹ thuật và pháp lý cho các giao dịch điện tử, cũng như giao kết hợp đồng điện tử, quy định trách nhiệm của các bên liên quan, từ đó đem lại sự tin tưởng khi sử dụng các kỹ thuật về chữ ký điện tử trong các giao dịch điện tử và góp phần phát triển thương mại điện tử.

Vẫn dựa trên nguyên tắc soạn thảo được sử dụng khi xây dựng Luật mẫu về Thương mại điện tử, đó là nguyên tắc tương đương chức năng, nguyên tắc không phân biệt và nguyên tắc trung lập về công nghệ, với 12 điều luật, Luật mẫu Chữ ký điện tử quy định một số nội dung cơ bản sau:

-    Định nghĩa về một số thuật ngữ đưc sử dụng trong Luật. Theo Điều 2.a, chữ điện tử được định nghĩa là “Các dữ liệu dưới dạng điện tử chứa đựng trong một thông điệp dữ liệu gửi kèm hay gắn liền vào thông điệp dữ liệu, có thể sử dụng để nhận dạng người ký trong khuôn khổ của thông điệp dữ liệu đó và chỉ ra rằng người ký đã chấp thuận thông tin chứa đựng trong thông điệp dữ liệu đó”.

-   Công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử.

-  Quy định những điều kiện để một chữ ký điện tử được coi là an toàn và tin cậy. Khoản 3 Điều 6 nêu rõ 4 điều kiện cần phải được đảm bảo để chữ ký được coi là tin cậy:

i)  Các dữ liệu để thiết lập chữ ký điện tử phải liên hệ mật thiết với người ký;

ii)   Các dữ liệu được cung cấp để thiết lập chữ ký điện tử cần phải có sự kiểm tra đối nguời ký ở thời điểm ký;

iii)  Tất cả những thay đổi liên quan đến chữ ký điện tử sau khi chữ ký được thiết lập phải được phát hiện;

iv) Thông điệp được ký phải giữ nguyên vẹn (“tất cả những thay đổi liên quan đến thông tin được ký sau khi đã ký đều phải được phát hiện”)

-  Những yếu tố được tính đến khi xem xét độ tin cậy của một chữ ký điện tử.

-  Bảo đảm tính trung lập về công nghệ, công nhận giá trị của chữ ký điện tử không phụ thuộc vào loại công nghệ được sử dụng trong giao dịch. Luật mẫu về Chữ ký điện tử tiếp cận trên cơ sở sử dụng công nghệ mã hóa mật mã công cộng (có tổ chức công cộng chứng nhận và thực hiện việc mã hóa), hay còn gọi là chữ ký số (digital signature). Mặc dù vậy, Luật mẫu cũng đề cập đến việc sử dụng các công nghệ mới như sinh trắc học (biometrics)- dùng các dấu hiệu của các bộ phận trong cơ thể con người như dấu vân tay, ảnh mặt, ảnh mắt... để nhận ra một cá thể; mã số xác nhận cá nhân - số PIN (Personal Identification Number) và các công nghệ tương tự.

-  Quy định trách nhiệm của các bên liên quan gồm: Người có chữ ký điện tử, người chấp nhận chữ ký điện tử và nguời cung cấp dịch vụ chứng nhận chữ ký điện tử.

-  Không phân biệt đối xử với chữ ký điện tử nước ngoài: Việc công nhận hay không công nhận một chữ ký điện tử là dựa trên độ tin cậy của chữ ký điện tử đó chứ không phân biệt nguồn gốc của chữ ký hay của cơ quan chứng nhận chữ ký. Một chữ ký điện tử hay chứng nhận chữ ký điện tử có thể được thừa nhận ở nước ngoài nếu như có được mức độ tin cậy tương đương dựa trên các quy định quốc tế và các điều kiện được quy định trong pháp luật của nước sở tại.

Với những nội dung ở trên, Luật mẫu về Chữ ký điện tử đã đưa ra những quy định nhằm loại bỏ những rào cản trong việc sử dụng chữ ký điện tử, tạo sự tin tưởng khi sử dụng chữ ký điện tử trong các giao dịch điện tử. Những quy định như vậy sẽ bảo đảm tính an toàn, giá trị chứng cứ của các hợp đồng điện tử và quan trọng hơn nó giúp cho các bên thực sự yên tâm về tính khả thi của nó trong quá trình thực hiện các hợp đồng điện tử đã giao kết.

Tuy nhiên, nếu so sánh về số lượng các nước xây dựng pháp luật trên cơ sở tham khảo Luật mẫu, thì có thể nói Luật mẫu về Chữ ký điện tử không có nhiều thành công như Luật mẫu về Thương mại điện tử. Điều này được thể hiện là nhiều nước, ví dụ như các nước thành viên Liên minh châu Âu đã xây dựng một hệ thống luật pháp hướng theo Chỉ thị về Chữ ký điện tử ngày 13/12/1999 của ủy ban châu Âu. Đến nay, UNCITRAL chỉ tổng kết đuợc 4 nước đã ban hành luật dựa trên Luật mẫu về Chữ ký điện tử là: Thái Lan, Việt Nam, Mêhicô và Trung Quốc5.

2.3.Công ước Liên hợp quốc về sử dụng các giao dịch điện tử trong các hợp đồng quốc tế năm 2005

Đuợc bắt đầu từ năm 2001, ngay sau Luật mẫu về Chữ ký điện tử được ban hành. Việc xây dựng Công ước quốc tế về sử dụng các giao dịch điện tử trong các hợp đồng quốc tế đã hoàn tất vào ngày 23/11/2005 sau khi được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua. Công ước này bao gồm các điều khoản quy định về những vấn đề liên quan đến hợp đồng điện tử nhằm mục đích tăng cuờng tính an toàn pháp lý và khả năng tiên lượng trong thương mại khi mà các giao dịch hợp đồng quốc tế được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử.

Việc lựa chọn của UNCITRAL về hình thức pháp lý của văn bản mới này khá lý thú. Thực tế, UNCITRAL đã quyết định thay đổi hình thức Luật mẫu bằng hình thức mang tính ràng buộc pháp lý cao. Một Công ước quốc tế là một công cụ có hiệu lực bắt buộc khi mà một nuớc phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước đó. Cả Luật mẫu và Công ước đều là văn bản mang tính pháp lý, nhưng lại có mục đích và tính chất khác nhau. Công ước là nhằm mục đích thống nhất về mặt pháp luật: Nếu các quốc gia quyết định ký một Công ước và đưa vào trong hệ thống pháp luật của mình thì Công ước này sẽ đuơng nhiên là một phần trong hệ thống pháp luật đó mà không cần phải thông qua một văn bản điều chỉnh nào khác. Ngược lại, Luật mẫu chi nhằm “đưa ra một cơ sở tham khảo cho các nhà làm luật mỗi nuớc”. Đối tượng hướng đến của hai loại văn bản này cũng khác nhau, các Luật mẫu hướng đến các nhà xây dựng luật, còn các Công ước thì hướng trực tiếp đến Chính phủ.

Với 4 chương và 25 điều, Công ước quốc tế về sử dụng các giao dịch điện tử trong các hợp đồng quốc tế đưa ra các quy định nhằm xóa bỏ trở ngại đối với việc sử dụng phương tiện điện tử trong quá trình giao kết hợp đồng, bao gồm cả những trở ngại tạo ra bởi hệ thống văn bản luật thương mại quốc tế hiện hành, qua đó nâng cao tính chắc chắn về phương diện pháp lý cũng như tính ổn định về phương diện thương mại cho các hợp đồng quốc tế, đồng thời giúp các doanh nghiệp, thương nhân và người tiêu dùng tiếp cận được những phương thức tiến hành thương mại hiện đại. Một số nội dung đáng chú ý trong Công ước này là:

Công ước đã mở rộng phạm vi của mình đối với các hợp đồng liên quan đến Công ước quốc tế khác nhau (Điều 20) như Công ước New York về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài năm 1958, Công ước Vienne về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980, cũng như tất cả các Công ước quốc tế khác có liên quan mà một quốc gia tham gia vào Công ước này đã ký kết. Như vậy, Công ước đã cho phép các giao dịch điện tử có thể được sử dụng trong khuôn khổ các Công ước quốc tế khác mà không cần đàm phán hay sửa đổi lại.

Công uớc này không nhằm mục đích điều chỉnh nội luật các nước mà chỉ hướng đến “việc sử dụng các giao dịch điện tử liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng giữa các bên có địa điểm kinh doanh tại những quốc gia khác nhau” (Điều 1). Phạm vi áp dụng Công ước này khá rộng bởi vì ngược lại với các Luật mẫu chỉ áp dụng trong lĩnh vực thương mại, các nhà soạn thảo Công ước muốn có một phạm vi áp dụng tổng quan hơn bằng việc loại trừ các truờng hợp cụ thể của từng lĩnh vực, ví dụ như lĩnh vực dân sự (giữa những người tiêu dùng) và một vài hoạt động ngân hàng hay chứng khoán được liệt kê tại Điều 2. Mặt khác, Công uớc này cũng được áp dụng trong các mối quan hệ với người tiêu dùng (“mà không cần xem xét đến quốc tịch cũng như tư cách dân sự hay thương mại của các bên hay của hợp đồng” - Điều 1 khoản 3).

Tiêu chí áp dụng của Công ước là địa điểm kinh doanh của các bên được đặt ở các quốc gia khác nhau. Công uớc cũng nêu rõ trong Điều 6 các tiêu chí xác định địa điểm kinh doanh của các bên. Theo đó, địa điểm kinh doanh của một bên là địa điểm do bên đó chỉ ra, trừ khi bên khác nêu rõ bên đó không có địa điểm kinh doanh tại nơi này. Trong trường hợp thiếu yếu tố để xác định, thì sẽ xem xét đến địa điểm kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng liên quan xét tới mọi bối cảnh trước hoặc tại thời điểm ký kết hợp đồng. Ngoài ra, Công ước cũng chỉ rõ rằng việc một bên sử dụng tên miền hay địa chỉ thư điện tử gắn với một quốc gia cụ thể, ví dụ: de (Đức), fr (Pháp), jp (Nhật Bản), uk (Anh), vn (Việt Nam)... không thể dẫn đến một suy đoán là bên đó có địa điểm kinh doanh tại quốc gia này. Đồng thời trong Điều 10 cũng quy định các tiêu chí xác định thời điểm và nơi nhận, gửi các thông điệp dữ liệu. Và các địa điểm này có thể được xác định là địa điểm kinh doanh của các bên trong hợp đồng.

Công ước đã định nghĩa một giao dịch là “mọi thông báo, tuyên bố, yêu cầu hoặc đề nghị bao gồm cả chào hàng và chấp nhận chào hàng mà các bên được yêu cầu đưa ra hoặc tự đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện một hợp đồng”, tức là bao gồm cả những giao dịch tiền hợp đồng và trong hợp đồng, bắt buộc không bắt buộc. Các giao dịch điện tử là các giao dịch được tiến hành thông qua thông điệp dữ liệu.

Công ước dựa trên nguyên tắc về không phân biệt đối xử, công bằng và tương đương mặt chức năng. Như vậy, “Một giao dịch hoặc hợp đồng sẽ không bị phủ nhận giá trị hoặc hiệu lực pháp lý chỉ vì được thực hiện dưới dạng giao dịch điện tử” (Điều 8). Ngoài ra, về các điều kiện hình thức, Công ước cũng nhắc lại các định nghĩa về văn bản, chữ ký và bản gốc trong Luật mẫu về Thương mại điện tử năm 1996 và Luật mẫu về Chữ ký điện tử năm 2001, nhắc lại nguyên tắc chức năng tương đương đối với cả các giao dịch được sử dụng trong việc ký một hợp đồng quốc tế.

Theo Điều 12 của Công ước, hợp đồng cũng có thể được hình thành thông qua việc giao dịch giữa một hệ thống thông tin tự động với một hệ thống thông tin tự động khác hay với một người. Quy định này nhằm vào các hợp đồng điện tử được giao kết thông qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) hay website, ví dụ như các trang web chào bán các sản phẩm hay dịch vụ đã hoàn toàn được tin học hóa như bán vé tàu hay vé máy bay trực tuyến.

Công ước này cũng cảnh báo những hậu quả do nhầm lẫn có thể được sửa chữa trong các giao dịch điện tử với các hệ thống thông tin tự động. Bên mắc lỗi có quyền rút lại phần giao dịch có lỗi nếu như thông báo được cho bên kia sớm nhất (có thể) ngay sau khi nhận ra lỗi và chưa hưởng lợi từ điều đó (Điều 14).

Cho đến nay, nhiều quốc gia đã tham gia ký kết Công ước này như: Cộng hòa Trung Phi, Li Băng, Madagasca, Sê-nê-gan, Trung Quốc, Sierra Leone, Singapore và Sri Lanca6.

Việt Nam chúng ta mặc dù chưa gia nhập Công ước này, nhưng một số nội dung của Công ước đã được Việt Nam tiếp nhận và quy định trong Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9/6/2006 về Thương mại điện tử.

3. Lời kết

Hợp đồng điện tử không làm thay đổi bản chất của các hợp đồng nhiều như nó thay đổi quá trình đi đến thoả thuận.Vì vậy, giới luật gia không nên kỳ vọng rằng cụm từ này sẽ dẫn đến sự cần thiết phải ra đời một tập hợp quy định dành riêng cho loại hợp đồng này. Cũng không nên tin rằng, luật truyền thống sẽ không thay đổi, bất chấp các phương thức thiết lập hợp đồng mới. Vì sự tiến bộ công nghệ ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật, nên luật hợp đồng phải thừa nhận và điều chỉnh một cách hợp lý những thay đổi cơ bản trong cách thức thiết lập hợp đồng. Mục tiêu không phải là soạn ra một khung pháp lý không được kiểm định mà là đặt niềm tin vào mục đích của các quy định đã có sẵn từ hàng thập kỷ, thậm chí là hàng thế kỷ nay, để khuyến khích thương mại và bảo vệ những người tham gia.

Tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng pháp luật về hợp đồng điện tử trên thế giới cho thấy, theo đúng như cách tiếp cận của UNCITRAL, hầu như các quốc gia không xây dựng một đạo luật riêng cho hợp đồng điện tử. Những quy định pháp lý về hợp đồng điện tử và giao kết hợp đồng điện tử thường được lồng ghép trong một đạo luật chung gọi là Luật Giao dịch điện tử hay Luật Thương mại điện tử quy định về các điều kiện, cách thức để các giao dịch (trong đó có hợp đồng) tiến hành bằng phương tiện điện tử có giá trị pháp lý tương đương như các giao dịch tiến hành bằng các phương thức truyền thống. Việc xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng điện tử thường dựa trên 3 nguyên tắc chủ đạo: 1) Nguyên tắc tương đương về mặt chức năng, 2) Nguyên tắc không phân biệt đối xử và 3) Nguyên tắc trung lập về công nghệ. □

 

1. TS. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.15.

2. Gs. Yves Poullet (2009), “Pháp luật và Internet", Kỷ yếu hội thảo: “Những thách thức về mặt pháp lý của sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông: thực trạng và triển vọng", Hà Nội, tr. 11.

3. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Tìm hiểu về thương mại điện tử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 55-56.

4. Nhà Pháp luật Việt - Pháp (2009), Kỷ yếu hội thảo: “Những thách thức về mặt pháp lý của sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông: thực trạng và triển vọng", Hà Nội, tr. 58-59.

5. Nhà Pháp luật Việt - Pháp (2009), Kỷ yếu hội thảo: "Những thách thức về mặt pháp lý của sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông: thực trạng và triển vọng , Hà Nội, tr. 63.

6. Nhà Pháp luật Việt - Pháp (2009), Kỷ yếu hội thảo: "Những thách thức về mặt pháp lý của sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông: thực trạng và triển vọng", Hà Nội, tr. 66.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi