Những điểm mới cơ bản về vai trò của VKS trong tố tụng dân sự theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điểu của BLTTDS

Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS) ra đời, một trong những vấn đề quan trọng, có sự thay đổi lớn so với các quy định về tố tụng dân sự kinh tế, lao động trước đây là hạn chế phạm vi tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân. Thực tiễn thi hành BLTTDS trong thời gian qua cho thấy, quy định của BLTTDS về sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, chưa có điều kiện mời Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ Luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa, hệ thống pháp luật còn bất cập, thiếu ổn định, quản lý hành chính nhà nước còn nhiều sơ hở, hoạt động bổ trợ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp cần bất cập so với yêu cầu cải cách tư pháp... Thực tế, có nhiều vụ việc giải quyết chưa bảo đảm tính khách quan, gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài, khiếu kiện đông người làm mất ổn định trật tự xã hội nhưng Viện kiểm sát không kịp thời phát hiện để kháng nghị. Hàng năm, tỷ lệ bản án, quyết định dân sự của Tòa án bị hủy, bị sửa do có sai sót vẫn không giảm (ở cấp sơ thẩm tới trên 50%). Tại Thông báo số 230 -TB/TW của Ban Chấp hành Trung ương ngày 26/3/2009 "Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về kết 3 năm thực hiện Nghi quyết 49 - NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” cũng nêu rõ "Tiến độ giải quyết các vụ việc dân sự còn chậm, chất tương xét xử các vụ án dân sự còn thấp, . . . trong đó có nguyên nhân là chưa có cơ chế giám sát kiểm sát có hiệu quả việc giải quyết các vụ án dân sư”.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, cần phải nghiên cứu, cải cách thủ tục tố tụng tư pháp dân sự, bảo đảm phù hợp với thực tế khách quan của sự phát triển kinh tế, xã hội và thực trạng hoạt động tư pháp dân sự ở nước ta, trong đó có vấn đề xác định đúng đắn vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự. Vừa qua, ngày 29 tháng 3 năm 2011, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây xin viết tắt là Luật sửa đổi, bổ sung), Luật này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012. Luật sửa đổi, bổ sung gồm 02 Điều, trong đó Điều 1 sửa đổi, bổ sung 50 Điều, bổ sung mới 12 Điều, quy định bãi bỏ 8 Điều của BLTTDS hiện hành; bổ sung một chương mới (Chương XIX a) quy định về "Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân dân tối cao" và Điều 2 quy định về hiệu lực thi hành của Luật. Những nội dung mới quan trọng liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong Luật sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

1. Sửa đổi bổ sung quy định về nguyên tắc “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự"

Tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi, bổ sung Điều 21 BLTTDS hiện hành theo hướng tiếp tục khẳng định "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sư” là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, theo đó " Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy đinh của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Tuy nhiên, nội dung điều luật này đã có sửa đổi căn bản so với Điều 21 BLTTDS hiện hành; cụ thể là:

Tại Điều 21 BLTTDS hiện hành quy định nguyên tắc "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sư”, theo đó đã giới hạn quyền tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đối với những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại; tham gia các phiên họp giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án; tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; đồng thời tham gia các phiên toà giám đốc thẩm và tái thẩm do Toà án kháng nghị theo thẩm quyền.

Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tồ chức VKSND, trên cơ sở điều kiện thực tế về biên chế và đội ngũ kiểm sát viên của ngành Kiểm sát và căn cứ vào tính chất, đối tượng của các vụ việc dân sự, Điều 21 BLTTDS đã được sửa đổi theo hướng quy định: Viện kiểm sát tham gia các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần. Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự, phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung đã giao nhiệm vụ cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể thi hành điều luật này.

2. Sửa đổi, bổ sung quy định về việc tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân

2.1. Về các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự

Điều 21 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi trách nhiệm tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của viện kiểm sát, theo đó Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự trong các trường hợp sau đây:

- Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự trong 04 trường hợp sau:

Một là, những vụ án dân sự do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ.

Trong trường hợp này, bất cứ vụ án dân sự nào Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia phiên tòa, không phụ thuộc vào việc đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của Tòa án hay không. Đây là điểm mới so với quy định hiện hành (Điều 21 BLTTDS hiện hành quy định Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại).

Hai là, những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng.

Ba là, những vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, nhà ở

Bốn là, những vụ án dân sự có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

- Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự; tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc dân sự. So với quy định hiện hành của BLTTDS, quy định này có một điểm mới quan trọng là mở rộng quyền tham gia phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự của Viện kiểm sát (theo quy định hiện hành, Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự trong ba trường hợp: (i) Viện kiểm sát đã tham gia phiên tòa sơ thẩm; (ii) Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; (iii) đương sự khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm).

Để bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình khi tham gia các phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự trong các trường hợp nêu trên, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ trách nhiệm của Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát nghiên cứu trước khi tham gia phiên tòa phiên họp (tại các điều 195, 262, khoản 2 Điều 290 của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung).

2.2. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự

Luật sửa đổi, bổ sung tiếp tục quy định: khi tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham giạ tố tụng; đồng thời,.với tư cách là người tiến hành tố tụng, đại diện cho Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên phải phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự (bao gồm cả việc tuân theo pháp luật về nội dung và pháp luật về thủ tục tố tụng); Kiểm sát viên có thể hỏi đương sự khi xét thấy cần thiết. Đối với phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm mà Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên còn phải trình bày và bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát.

Một điểm mới quan trọng trong quy định của Luật sửa đổi, bổ sung là có sự phân biệt nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm vụ án dân sự, cụ thể là:

- Tại phiên tòa sơ thẩm, theo Điều 234 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung quy định "Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sư, kể tử khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án".

Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án như hiện nay mà chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đồng thời phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật (bao gồm cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng) của những người tham gia tố tụng.

 - Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung thêm một điều luật mới (Điều 273a) quy định về "Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm", theo đó nêu rõ “sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm". Trong giai đoạn này, ngoài việc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng , kiểm sát viên có quyền phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án của Tòa án. Phát biểu của Kiểm sát viên ở phiên tòa phúc thẩm phải thể hiện rõ thái độ, trách nhiệm của Viện kiểm sát trước sự đúng - sai của bản án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để giúp Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, quyết định.

- Tại phiên họp giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, theo quy định tại Điều 280 BLTTDS : "Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị . . . Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định ".

- Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Theo Điều 295 BLTTDS quy định: "Đại diện Viện kiểm sát phát  biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị. . .phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án".

3. Sửa đổi, bổ sung quy định về trả lại đơn khởi kiện, khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện theo hướng bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện được quyền kiểm sát đối với việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 168 BLTTDS hiện hành thì khi đương sự nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự cho Tòa án, nếu thấy có một trong các căn cứ nêu tại khoản 1 Điều 168 BLTTDS, Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện cho đương sự và không thụ lý vụ án. Khi trả lại đơn khởi kiện cho đương sự, Tòa án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Điều 170 BLTTDS hiện hành cũng quy định, trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án là quyết định cuối cùng.

Thực tiễn thi hành các quy định nêu trên cho thấy, có thể xảy ra trường hợp Tòa án áp dụng các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 168 để trả đơn kiện cho đương sự không chính xác, mà pháp luật lại không quy định cơ chế bảo đảm để Viện kiểm sát thực hiện được quyền kiểm sát đối với việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.Để khắc phục vướng mắc này, Khoản 2 Điều 168 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung quy định rõ "Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phái có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp"; đồng thời, Điều 170 BLTTDS cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng: bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận quyền của đương sự được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, điều luật còn quy định: trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát, Chánh án phải ra quyết định trả lời kiến nghị. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Chánh án Tòa án cấp trên phải ra quyết định giải quyết. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.

4. Sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục giám đốc thẩm, theo đó quy định kéo dài thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của người có thẩm quyền kháng nghị (trong đó có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đối với một số trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm

Điều 288 BLTTDS hiện hành quy định: thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Theo quy định này, ở bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn ba năm đó, đương sự có quyền phát hiện vi phạm và thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị để xem xét, quyết định việc kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 284 BLTTDS. Thực tế áp dụng quy định này, có nhiều trường hợp, gần hết thời hạn ba năm đương sự mới gửi đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, do không đủ thời gian xem xét nên hết thời hạn kháng nghị mà đơn đề nghị kháng nghị vẫn không được xem xét giải quyết hoặc tuy có xem xét nhưng không phát hiện được vi phạm nên đã không kháng nghị giám đốc thẩm, do đó đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự. Để khắc phục hạn chế này, Luật sửa đổi, bổ sung đã quy định sửa khoản 1 Điều 284 BLTTDS theo hướng quy định "Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm"; đồng thời, sửa Điều 288 "Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm" theo hướng quy định : trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị là ba năm nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị: (i) Đương sự đã có đơn đề nghị trong thời hạn một năm theo quy định tại khoản 1 Điều 284 của BLTTDS và sau khi hết thời hạn kháng nghị (hết ba năm) đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị; (ii) Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (theo Điều 283 BLTTDS), xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.

5. Bổ sung một chương mới (Chương XIX a) quy định về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong đó quy định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kiến nghị với Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định đó. Đây là một quy định hoàn toàn mới trong tố tụng tư pháp, thủ tục này mới được quy định trong Luật tố tụng hành chính mới được Quốc hội Khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 8 và trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự lần sửa đổi này.

Luật sửa đổi, bổ sung cũng quy định rõ, khi có kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị của Viện trưởng, khi đó, có thể xảy ra các trường hợp sau:

- Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thì Hội Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Trường hợp Hội đồng thẩm phán không nhất trí với kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; phiên họp của Hội đồng thẩm phán xem xét kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (và cả trường hợp xét kiến nghị của ủy ban tư pháp, đề nghị của Chánh án TAND tối cao) phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Tất cả các phiên họp của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (kể cả trong trường hợp Viện trưởng VKSNDTC kiến nghị và không có kiến nghị) phải có sự tham dự của Viện trưởng VKSNDTC.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi