Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS

I. SỰ CẦN THIẾT NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SÔ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỔ TỤNG DÂN SỰ

Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15- 6-2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-2005. Sau hơn năm năm thi hành, có thể nói BLTTDS đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Bảo đảm trình tự và thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai, đơn giản, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự. Bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS trong những năm qua cho thấy, một số quy định của BLTTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp), chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau; có những quy định chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; có những quy định chưa đáp ứng được các yêu cầu cam kết quốc tế đa phương và song phương. Có thể thấy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS là cần thiết nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục từng bước hoàn thiện căn bản hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nói chung và Bộ luật tố tụng dân sự nói riêng. Bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giải quyết các vụ việc dân sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bảo đảm trình tự thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai, thuận lợi cho người tham gia tố tụng; đề cao vai trò trách nhiệm của cá nhân cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng dân sự.

Một trong những vấn đề có tính chất quyết định khi xây dựng pháp luật nói chung đó là việc xác định những quan điểm chỉ đạo cần được thể trong nội dung của luật. Luật sửa đổi, bổ sung đã quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau:

1. Thể chế hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm về cải cách tư pháp đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 "từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy đinh rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị…; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ. Xây dựng Cơ Chế Xét Xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất đinh . . . "

2. Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; tính thống nhất của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS với hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Luật;

3. Bảo đảm trình tự và thủ tục tố tụng dân sự dân chủ, công khai, đơn giản, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng dân sự;

4. Bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành;

5. Bảo đảm cụ thể hoá và không có sự xung đột giữa các quy định của Luật với các quy định của các điều ước quốc tế mà Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

6. Trên cơ sở tổng kết, kế thừa, đánh giá các quy định của BLTTDS hiện hành, kinh nghiệm giải quyết các vụ việc dân sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế;

7. Phạm vi Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS tập trung sửa đổi, bổ sung những vấn đề mà trong quá trình thực hiện BLTTDS gặp nhiều vướng mắc, bức xúc.

II. BỐ CỤC CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BLTTDS

Luật đã sửa đổi, bổ sung 50 điều, bổ sung 12 điều và Chương XIXa, bãi bỏ 8 điều có bố cục như sau:

1. Chương II - Những nguyên tắc cơ bản

Luật sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS như sau: Điều 7 về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Điều 16 về bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự; Điều 21 về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

Luật bổ sung Điều 23a về bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự.

2. Chương III - Thẩm quyền của Toà án

Luật sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS như sau: Điều 25 về những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; Điều 26 về những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; Điều 31 về những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; sửa đổi Điều 33 về thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ; Điều 36 về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu; Điều 37 về chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền.

Luật bổ sung Điều 32a về thẩm quyền của Toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức.

3. Chương VI - Người tham gia tố tụng

Luật sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS: Điều 58 về quyền, nghĩa vụ của đương sự; sửa đổi Điều 59 về quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn; sửa đổi Điều 60 về quyền, nghĩa vụ của bị đơn. Điều 63 về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

4. Về Chương VII - Chứng minh và chứng cứ

Luật sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS: Điều 82 về nguồn chứng cứ; Điều 85 về thu thập chứng cứ; Điều 90 về trưng cầu giám định; Điều 92 về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; Điều 94 về yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ.

5. Chương XI - Thời hạn tố tụng

Luật sửa đổi, bổ sung Điều 159 về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu.

6. Chương XII - Khởi kiện và thụ lý vụ án

Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS như sau: Điều 164 về hình thức, nội dung đơn khởi kiện; Điều 168 về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện; Điều 170 về khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện; Điều 176 về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn; Điều 177 về quyền yêu cầu độc lập và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

7. Chương XIII - Hòa giải và chuẩn bị xét xử

Sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS: Điều 184 về thành phần phiên hoà giải; Điều 189 về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Điều 192 về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Điều 193 về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Điều 195 về quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Luật bổ sung Điều 185a về phương thức hòa giải.

8. Chương XIV - Phiên tòa sơ thẩm

Sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS như sau: Điều 199 về sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Điều 202 về xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên toà; Điều 208 về thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa; Điều 234 về phát biểu của kiểm sát viên.

Luật bãi bỏ các Điều 200 về sự có mặt của bị đơn tại phiên toà; Điều 201 về sự có mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Điều 203 về sự có mặt của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

9. Chương XVI - Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Luật sửa đổi, bổ sung các Điều 257 về thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm; Điều 260 về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; Điều 262 về chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu; Điều 264 về những người tham gia phiên toà phúc thẩm; Điều 266 về hoãn phiên tòa phúc thẩm; Điều 271 về nghe lời trình bày của đương sự, Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm;

Luật bổ sung Điều 273a về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm.

10. Chương XVII - Thủ tục xét xử phúc thẩm

Sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS: Điều 275 về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm; Điều 277 về hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

11. Chương XVIII - Thủ tục giám đốc thẩm

Luật sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS gồm: Điều 284 về phát hiện bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm; Điều 288 về thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; sửa đổi Điều 297 về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm; Điều 299 về hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại.

Luật bổ sung Điều 284a về đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và Điều 284b về thủ tục nhận và xem xét đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.

12. Chương XIXa - Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trong chương này, Luật bổ sung các điều của BLTTDS như sau: Điều 310a về yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 310b về thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

13. Chương XX - Quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự

Luật sửa đổi, bổ sung các điều của BLTTDS: Điều 311 về phạm vi áp dụng; Điều 314 về thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự.

Bổ sung các điều: Điều 313a về quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự; Điều 339a về đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Điều 339b về chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Điều 339c về quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

14. Chương XXV - Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam

Luật Sửa đổi, bổ sung Điều 340 của BLTTDS về những việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

15. Chương XXX - Quy định chung về thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Luật sửa đổi, bổ sung Điều 375 về những bản án, quyết định của toà án được thi hành.

Bỏ các điều 376, 377, 378, 378, 383 do có quy định trong Luật thi hành án.

16. Chương XXXI - Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Bãi bỏ các điều: Điều 376 về căn cứ để đưa ra thi hành bản án, quyết định của Toà án; Điều 377 về quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Toà án; Điều 378 về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án; Điều 379 về kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Toà án; và Điều 383 về thời hiệu yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

III. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BLTTDS

1.     Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

Sau hơn năm năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 cũng là thời kỳ tiếp diễn sâu rộng công cuộc cải cách tư pháp, tuy nhiên kết quả tổng kết thực tiễn phản ánh chất lượng công tác giải quyết các vụ việc dân sự còn nhiều hạn chế, tình trạng khiếu kiện các bản án quyết định của Toà án ngày càng gay gắt. Thực trạng này cho thấy cần có sự đánh giá khách quan vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự, trong hoạt động tư pháp. Việc hạn chế thẩm quyền của Viện kiểm sát tham gia tố tụng tại phiên toà sơ, phúc thẩm trong điều kiện hệ thống pháp luật thiếu hoàn chỉnh; đội ngũ cán bộ tư pháp hạn chế về năng lực trình độ, kỹ năng nhận thức luật, đạo đức nghề nghiệp; người dân thiếu hiểu biết, thiếu ý thức pháp luật; sự yếu kém, không ổn định trong công tác quản lý trong chính sách quản lý Nhà nước đối với tài sản công, với đất đai, nhà ở; những bất cập của hệ thống bổ trợ tư pháp; người dân gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là bước đi vội vã, thiếu cơ sở lý luận, xa rời thực tiễn. Có nhiều ý kiến cho rằng, do hạn chế phạm vi tham gia phiên toà của Viện kiểm sát là một nguyên nhân dẫn đến một số vụ việc dân sự giải quyết thiếu khách quan, không bảo vệ kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp. Tuy chưa có sự đánh giá thật đầy đủ về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhưng Đảng, Nhà nước đã ghi nhận sự cần thiết phải có một cơ chế kiểm sát hữu hiệu đối với công tác giải quyết vụ việc dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là Luật sửa đổi, bổ sung) thể chế hoá quan điểm trên khi quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền của Viện kiểm sát tham gia các phiên tòa dân sự, bảo đảm việc thực hiện có hiệu quả chức năng kiểm sát. Điều 21 kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sư; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lơi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần.

3. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. "

2. Về thẩm quyền của Toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức

Trước đây, tại Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989  quy định trong quá trình xét xử vụ án dân sự, Toà án có quyền huỷ quyết định rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức khác xâm phạm quyền lợi hợp pháp cần đương sự trọng vụ án mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết. Việc BLTTDS năm 2004 bỏ quy định về thẩm quyền này của Tòa án đã gây trở ngại cho hoạt động xét xử và không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong trường hợp quyết định của cơ quan, tổ chức khác rõ ràng trái pháp luật nhưng không được hủy bỏ. Thực tiễn thi hành BLTTDS cho thấy trong quá trình xét xử vụ án dân sự, có những quyết định của cơ quan, tổ chức khác liên quan đến vụ án rõ ràng trái pháp luật, nếu Tòa án chỉ có quyền kiến nghị hủy bỏ thì Toà án phải dừng việc giải quyết vụ án và chờ cơ quan, tổ chức khác xem xét huỷ bỏ quyết định trái pháp luật sau đó việc giải quyết vụ án mới được tiếp tục. Vì vậy, khoản 8 Điều 1 của Luật đã quy định bổ sung Điều 32a về thẩm quyền của Toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức theo hướng khi giải quyết vụ việc dân sự, Toà án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

Đây là quy định mới nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động xét xử của Tòa án thời gian qua.

3. Về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Để góp phần rút ngắn thời gian, thủ tục cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là thủ tục thành lập Hội đồng định giá, bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Luật sửa đổi, bổ sung Điều 92 về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản theo hướng các bên có quyền tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản Toà án chỉ ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong trường hợp: theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước, đồng thời đề cao trách nhiệm tham gia Hội đồng định giá của các cơ quan, cá nhân có liên quan. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá; người được cử tham. gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thi tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu

Tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS năm 2004 quy định: "Trong trường hợp pháp luật không có quy đinh khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy đinh như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lơi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chúc, lơi ích công cộng, lơi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

bị Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu” .

Quy định nêu trên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, phần lớn những việc dân sự không thể áp dụng thời hiệu được như: yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết. . .

Mặt khác, Điều 159 BLTTDS quy định việc tính thời hiệu khởi kiện kể từ thời điểm quyền và lợi ích bị xâm phạm là không hợp lý, ví dụ: trường hợp vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm hoặc môi trường nhưng đương sự không biết được thời điểm xảy ra vi phạm để khởi kiện đúng thời hiệu. Do đó, cần phải xác định thời điểm các bên biết hoặc phải biết quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm nên Điều 159 được sửa đổi, bổ sung theo hướng: trong trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện; đối với các tranh chấp không thuộc trường hợp này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm kể từ ngày biết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Đối với trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự thì thời hiệu yêu câu Toà án giải quyết là một năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp các việc dân sự liên quan đến quyền dân sự về nhân thân thì không áp dụng thời hiệu.

Qua rà soát quy định pháp luật cho thấy, hầu hết các quan hệ tranh chấp đã được quy định về thời hiệu. Cụ thể, trong Bộ luật Dân sự có các Điều 136 quy định về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, Điều 247 quy định về việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, Điều 427 quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự, Điều 607 quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Bồi thường thiệt hại, Điều 645 quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế; thời hiệu khởi kiện còn được quy định tại Điều 319 Luật Thương mại, Điều 167 Bộ luật lao động.

5. Bổ sung về phương thức hòa giải và trình tự hòa giải

Cơ chế hòa giải tại Tòa án là biện pháp hữu hiệu để giúp các bên đương sự giải quyết các tranh chấp dân sự hôn nhân gia đình và lao động. Việc hòa giải thành không chỉ đem lại lợi ích cho các đương sự cả về mặt tinh thần lẫn lợi ích kinh tế, mà còn giảm tải cho việc phải xét xử vụ án dân sự của Tòa án . . . Tuy nhiên, BLTTDS hiện hành chưa có quy định về phương thức và trình tự hòa giải dẫn đến khi thực hiện thủ tục hòa giải tại Tòa án, nhiều Thẩm phán còn gặp lúng túng khi thực hiện việc hòa giải dẫn đến hiệu quả hòa giải chưa cao. Luật đã sửa đổi Điều 184 về thành phần phiên hòa giải và bổ sung Điều 185a về trình tự hòa giải, cụ thể như sau:

"Điều 184. Thành phần phiên hoà giải

1. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.

2. Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải.

3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự.

Trong vụ án có nhiều đương sư, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đương sự có mặt, nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải. Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hoà giải và việc mở lại phiên hoà giải cho đương sự biết.

4. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chúc có liên quan tham gia phiên hoà giải.

5. Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt "

Bổ sung Điều 185a về trình tự hoà giải.

6. Về thủ tục giám đốc thẩm

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự trong thời gian qua cho thấy, có nhiều trường hợp gần hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Tòa án, Viện kiểm sát mới nhận được đơn khiếu nại của đương sự nên không có đủ thời gian để xem xét; có trường hợp đương sự gửi đơn trong thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không được người có thẩm quyền xem xét hoặc không kịp thời phát hiện các sai sót do đó khi phát hiện có sai lầm của bản án, quyết định của Tòa án thì đã hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của đương sự. Tình trạng này đã tồn tại từ nhiều năm nay nhưng không có cơ chế để giải quyết, tháo gỡ vướng mắc nêu trên.

Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 284 và Điều 288 BLTTDS và bổ sung Điều 284a và Điều 284b, theo đó quy định về hình thức đơn, thủ tục nhận đơn và xem xét đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm. Đồng thời, quy định đương sự có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có liệu lực pháp luật. Giữ nguyên quy định tại khoản 1 Điều 288 BLTTDS về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền là 03 năm.

Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị 3 năm nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị :

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 284 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

b) Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lơi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết đinh đã có hiệu lực pháp luật đó.

7. Về xem xét lại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Thực tiễn công tác giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao cũng đã phát hiện một số quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có sai lầm nghiêm trọng nhưng pháp luật tố tụng hiện hành cũng chưa quy định về vấn đề xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Mặt khác, khoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân chỉ quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chứ không quy định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng, do vậy cần thiết kế cơ chế đặc biệt khắc phục bất cập nêu trên. Do đó, bổ sung Chương XIXa quy định thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm Điều 310a và 310b với nội dung: khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán, đương sự không biết được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó. Đối với yêu cầu của ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao đề nghị thì Hội đồng Thẩm phân Toà an nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó. Nếu nhất trí với kiến nghị hoặc đề nghị trên thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không nhất trí với kiến nghị, đề nghị thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán giao cho Chánh án nghiên cứu hồ sơ để báo cáo Hội đồng Thẩm phán xem xét, quyết định. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra quyết định hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.

Việc quy định cơ chế xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như trên xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công tác xét xử. Đồng thời với ý nghĩa Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên việc xây dựng cơ chế cho phép Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tự xem xét lại quyết định của mình là nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Trên đây, là những nội dung chính của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

IV. NGHỊ QUYẾT SỐ 60/2011/QH12 VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BLTTDS

Để thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, ngày 29 tháng 3 năm 2011 Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ chín cũng đã thông qua Nghị quyết số 60/2011/QH12 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 1 Xác định Luật sửa đổi bổ sung có hiệu lực từ ngày 01-01 -2012

Điều 2.

Khoản 1. Quy định luật áp dụng kể từ ngày công bố Luật sửa đổi bổ sung đến ngày Luật có hiệu lực:

-Trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật được công bố được áp dụng theo quy định tại Điều 288 của BLTTDS năm 2004.

-Trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật được công bố được áp dụng Điều 284 và 288 của Luật sửa đổi bổ sung để tính thời hạn đề nghị xem xét, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

-Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định nêu trên thực hiện theo quy định của BLTTDS năm 2004.

Khoản 2. Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung có hiệu lực:

a. Đối với vụ việc đã được Toà án thụ lý trước ngày Luật có hiệu lực, nhưng kể từ ngày luật có hiệu lực mới giải quyết sơ thẩm thì áp dụng quy định của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung để giải quyết.

b. Đối với những vụ việc đã được Toà án giải quyết sơ thẩm trước ngày Luật có hiệu lực nhưng kể từ ngày Luật có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng quy định các quy định của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung để giải quyết

c. Đối với những bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày Luật có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng các quy định của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung để giải quyết.

d. Đối với những bản án, quyết định có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật được công bố cho đến ngày Luật có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền thì việc kháng nghị được thực hiện theo BLTTDS đã được sửa đổi bổ sung.

đ. Đối với những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật có hiệu lực mà kể từ ngày luật có hiệu lực mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này) thì căn cứ thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định BLTTDS năm 2004; việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện theo quy định của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Toà án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan đang khẩn trương chuẩn bị ban hành văn bản hướng dẫn.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi