Những quy định mới về việc tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của VKSND

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sau đây viết tắt là BLTTDS năm 2004) được ban hành ghi dấu ấn sự phát triển hệ thống pháp luật tố tụng dân sự trong việc pháp điển hoá quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Đối với vấn đề vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, BLTTDS năm 2004 điều chỉnh theo hướng hạn chế thẩm quyền tham gia tố tụng tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm của Viện kiểm sát. Điều này được xem như một bước tiến trong nỗ lực bảo đảm nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, như một thành tựu đạt được trong công cuộc cải cách tư pháp. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thi hành BLTTDS thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự cho thấy số lượng bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, cải sửa vẫn chiếm tỷ lệ cao, tình trạng khiếu kiện sau khi xét xử gia tăng không chỉ về số lượng mà tính chất cũng gay gắt, phức tạp hơn; có không ít trường hợp khiếu kiện kéo dài, đông người gây mất ổn định trật tự xã hội. Thực trạng này cho thấy, cần đánh giá toàn diện những yếu tố chi phối đến hiệu quả, chất lượng công tác xét xử của Toà án trong đó vai trò của Viện kiểm sát được xem là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong điều kiện hiện nay. Theo quy định của Hiến pháp, của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, nhưng với quy định của BLTTDS năm 2004, tỷ lệ tham gia phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm của Viện kiểm sát không đáng kể; số liệu thống kê trong 5 năm thi hành BLTTDS Viện kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm chỉ đạt 0,09%, tham gia phiên toà phúc thẩm là 0,12%. Điều dễ nhận thấy, khi Viện kiểm sát không trực tiếp tham gia tố tụng tại phiên toà các thẩm quyền tố tụng liên quan cũng bị loại bỏ, bị hạn chế nên Viện kiểm sát không có đủ quyền hạn tố tụng cần thiết thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Việc sửa đổi, bổ sung BLTTDS được thực hiện theo quan điểm chỉ đạo của Quốc hội chỉ sửa đổi, bổ sung những quy định thực sự vướng mắc, bất cập gây bức xúc trong thực tiễn xét xử, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS (sau đây viết tắt là Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS) đã sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự theo hướng tăng cường vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án và những người tham gia tố tụng tại phiên toà. Trên phương diện hoạt động kiểm sát cùng với việc mở rộng thẩm quyền tham gia tố tụng tại phiên toà, phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát cần thiết có tính chất bảo đảm cho việc kiểm sát tại phiên toà cũng được tăng cường theo quy định của luật. Có thể thấy, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 đã ghi nhận đầy đủ hơn quyền hạn tố tụng nhằm bảo đảm để Viện kiểm sát thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Điều này không chỉ có ý nghĩa tăng cường vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự mà ý nghĩa to lớn hơn đó là sự khẳng định, ghi nhận của Đảng, Nhà nước và nhân dân theo hướng cần củng cố tăng cường chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong điều kiện nước ta đang tiến hành xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường là nền tảng kinh tế của một xã hội dân sự. Mặt khác, sẽ là phiến diện và duy ý chí nếu không xem xét những vấn đề đang đặt ra khi thực hiện bước đi trong lộ trình cải cách tư pháp.

Nội dung sửa đổi, bổ sung đối với các quy định liên quan đến việc tham gia phiên toà, phiên họp của Viện kiểm sát nhân dân:

- Về Điều 21 "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự” là quy định chung có tính nguyên tắc ghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Điều 21 cũng quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự bao gồm quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật, trách nhiệm tham gia phiên toà, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS đã sửa đổi về thẩm quyền tham gia phiên họp, phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm của Viện kiểm sát theo đó khoản 2 quy định: Viện kiểm sát tham gia phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần và theo quy định tại khoản 3 Viện kiểm sát tham gia các phiên họp, phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Với nội dung sửa đổi trên, quy định về việc tham gia phiên toà, phiên họp của Viện kiểm sát có sự thay đổi quan trọng, Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia phần lớn các phiên toà sơ thẩm và tham gia tất cả các phiên toà phúc thẩm. Về việc tham gia phiên họp của Viện kiểm sát, quy định tại Điều 21 không thay đổi, Viện kiểm sát vẫn có trách nhiệm tham gia tất cả các phiên họp giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên do có sự sửa đổi, mở rộng thẩm quyền giải quyết của Toà án đối với việc dân sự tại khoản 6, 7 Điều 26 và Điều 32a (là điều luật được bổ sung mới) nên Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia phiên họp giải quyết loại việc này.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành điều luật này sẽ phải làm rõ các loại tranh chấp có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, nhà ở; đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng; xác định trường hợp Toà án tiến hành thu thập chứng cứ, xây dựng cơ chế phối hợp thống nhất giữa hai ngành để bảo đảm Viện kiểm sát tham gia phiên toà đúng theo quy định pháp luật...Để thực hiện tốt thẩm quyền tham gia phiên họp, phiên toà theo quy định Điều 21 (sửa đổi, bổ sung) cần nắm vững, đầy đủ các quy định có liên quan được sửa đổi, bổ sung có tính chất bảo đảm Viện kiểm sát có đủ quyền hạn tố tụng cần thiết khi tham gia phiên họp, phiên toà.

1. Các quy định về thẩm quyền của Toà án theo việc, theo cấp xét xử, theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu được sửa đổi, bổ sung bao gồm:

- Điều 25 "Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án" bổ sung các tranh chấp về tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu quy định tại khoản 9; liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án tại khoản 10; kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá khoản 11.

- Điều 26 "Những yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án” bổ sung yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu tại khoản 6; yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án tại khoản 7.

- Điều 31 "Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án" bổ sung quy định phù hợp với thực tế về tranh chấp bồi thường thiệt hại giữa người lao động với tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại điểm đ khoản 1 và sửa đổi nội dung khoản 2 phù hợp với quy định Luật Lao động về người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể lần đầu là Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết nhưng không được các bên đồng ý.

- Điều 32a bổ sung mới về thẩm quyền của Toà án được huỷ các quyết định trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan tổ chức đó khi giải quyết vụ việc dân sự.

- Điều 33 "Thẩm quyền của Toà án cấp huyện" khoản 1 bổ sung điểm b về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 và khoản 6, 7 Điều 26 về yêu cầu dân sự.

- Điều 35 "Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ" khoản 2 bổ sung điểm m, điểm n quy định Toà án nơi Phòng công chứng, Văn phòng công chứng, nơi Cơ quan thi hanh án có trụ sở, nơi có tài sản liên quan đến thi hành án có thẩm quyền giải quyết.

- Điều 36 "thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu khoản 2 điểm a bổ sung nội dung "có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu”; điểm b bổ sung cụm từ "nơi cư trú của".

2. Các quy định về người tham gia tố tụng khác được sửa đổi, bổ sung

- Điều 63 "Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự khoản 2 điểm b bổ sung "Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý".

3. Các quy định về chứng minh và chứng cứ:

Quy định về chứng minh và chứng cứ có ý nghĩa quan trọng khi giải quyết vụ việc dân sự, do đó việc nhận thức đúng, đầy đủ các quy định này không chỉ giúp KSV đánh giá được sự tuân thủ pháp luật tố tụng của Toà án, của người tham gia tố tụng mà còn xác định cơ sở giải quyết vụ án chính xác. Quy định phần này có nội dung sửa đổi, bổ sung cần lưu ý sau:

- Điều 85 "Thu thập chứng cứ” sửa đổi trách nhiệm của thẩm phán trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo hướng thẩm phán căn cứ vào quy định pháp luật, không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu để bảo đảm giải quyết vụ án đúng đắn; bổ sung biện pháp thu thập chứng cứ mà thẩm phán được tiến hành là đối chất, thẩm định giá tài sản; bỏ quy định về việc Viện kiểm sát tham gia phiên toà liên quan đến thu thập và khiếu nại về thu thập chứng cứ.

- Điều 90 "Trưng cầu giám định" sửa đổi, bổ sung khoản 3 theo hướng bảo đảm tính khách quan khi tiến hành giám định "Người đã thực hiện việc giám định trước đó không được thực hiện giám đinh lại. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 46 của Bộ luật này không được thực hiện việc giám định"

- Điều 92 "Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản" sửa đổi bổ sung nhằm khắc phục vướng mắc, bất cập trong việc định giá tài sản, xác định trách nhiệm của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ về giá tài sản; bổ sung biện pháp thẩm định giá tài sản là nguồn thu thập chứng cứ.

- Điều 94 "Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ” bổ sung quyền của Viện kiểm sát được yêu cầu cung cấp chứng cứ và trách nhiệm của người được yêu cầu phải cung cấp cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày và có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật tuỳ theo mức độ vi phạm nếu không cung cấp đầy đủ, kịp thời.

4. Quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu tại Điều 159 BLTTDS:

Là vấn đề có nhiều ý kiến chưa thống nhất về khái niệm thời hiệu khởi kiện và cách tính thời hiệu khởi kiện. Có thể thấy hầu hết các quan hệ tranh chấp đã được quy định thời hiệu tại Bộ luật dân sự, Luật Thương mại, Bộ luật lao động. Cụ thể, Điều 247 Bộ luật dân sự quy định việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, Điều 427 Bộ luật dân sự quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự, Điều 607 Bộ luật dân sự quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, Điều 645 Bộ luật dân sự quy định thuộc hiệu khởi kiện về thừa kế và thời hiệu khởi kiện còn được quy định tại Điều 319 Luật Thương mại, Điều 167 Bộ luật lao động. Mặt khác, có nhiều vụ việc dân sự không thể áp dụng thời hiệu khởi kiện như: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự... và quy định bất hợp lý tại Điều 159 về việc tính thời hiệu khởi kiện từ thời điểm quyền, lợi ích bị vi phạm cho thấy cần sửa đổi bổ sung khoản 3 Điều 159:

…"3. Thời hiệu khởi kiện vụ án được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vu án dân sự thì được thực hiện như sau:

a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

c) Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu."

 5. Quy định về thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, phiên họp:Về cơ bản không có sự sửa đổi, bổ sung. Đối với quy định liên quan đến quyền hạn của Viện kiểm sát có sửa đổi, bổ sung về quyền kiến nghị của Viện kiểm sát cùng cấp với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp trong trường hợp không chấp nhận quyết định giải quyết của Chánh án đã trả lại đơn khởi kiên.

 - Tại phiên toà sơ thẩm, theo Điều 234 quy định về việc phát biểu của Kiểm sát viên có sự sửa đổi cơ bản về nội dung quyền phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên toà, theo đó Kiểm sát viên chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; đối với những người tham gia tố tụng dân sự kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Như vậy, tại phiên toà sơ thẩm Viện kiểm sát không có quyền đưa ra quan điểm, đường lối giải quyết vụ án về nội dung; ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát chỉ đánh giá có vi phạm hay không vi phạm thủ tục tố tụng dân sự của thẩm phán, của Hội đồng xét xử là người tiến hành tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng kiểm sát viên có quyền đánh giá việc chấp hành pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung của họ khi tham gia tố tụng. Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Kiểm sát viên chú ý hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng từ thời điểm thụ lý vụ án để thực hiện tốt nhiệm vụ quyền hạn của mình. Tuy nhiên, quy định này không làm giảm trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp mà nội hàm chứa đựng trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm bản án, quyết định của Toà án đúng pháp luật. Vì vậy, sau khi chủ toạ tuyên án, Kiểm sát viên tham gia phiên toà có trách nhiệm kiểm sát tính đúng đắn trong phán quyết của Toà án để xem xét việc thực hiện quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, có sự chuẩn bị cần thiết cho việc tham gia phiên toà phúc thẩm.

- Đối với các phiên toà theo thủ tục phúc thẩm, Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia tất cả để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ pháp luật như quy định tại Điều 274a (bổ sung) : Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự... Như vậy, khác với thẩm quyền của Viện kiểm sát khi tham gia phiên tòa sơ thẩm, tại phiên toà phúc thẩm Kiểm sát viên phát biểu ý kiến đánh giá việc tuân thủ pháp luật tố tụng, đồng thời đánh giá cả việc áp dụng pháp luật nội dung trong quá trình giải quyết vụ án của Toà án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

Về việc tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia tất cả các phiên họp; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát trong việc giải quyết việc dân sự. Trong phần thủ tục giải quyết việc dân sự có bổ sung quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu tại các Điều 339a, 339b và 339c. Có thể thấy, các yêu cầu dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự phần lớn là các quyền dân sự về nhân thân nên thực tế có sự nhận thức khá phổ biến cho rằng việc dân sự không tranh chấp nên không phức tạp về tài liệu, chứng cứ hay sự gay gắt do tài sản phải giải quyết có giá trị nên việc tham gia phiên họp giải quyết không đầy đủ trách nhiệm. Trên thực tế có không ít bằng chứng cho thấy, thủ tục giải quyết việc dân sự đang bị lạm dụng mà Viện kiểm sát hầu như không phát hiện khi tiến hành kiểm sát.

Nhìn chung, việc sửa đổi mở rộng thẩm quyền tham gia phiên tòa sơ thẩm và buộc Viện kiểm sát tham gia tất cả các phiên tòa phúc thẩm không chỉ phản ánh thực trạng công tác giải quyết vụ việc dân sự đang có vấn đề tác động bất lợi đến đời sống xã hội; với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bảo đảm việc xét xử của Tòa án đúng pháp luật, vị trí vai trò của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan tư pháp đang được Đảng, Nhà nước tin tưởng, ghi nhận. Đối với Viện kiểm sát, đây là một bước củng cố vị thế của ngành, tuy nhiên việc giữ vững và phát triển vai trò, vị thế của Viện kiểm sát trong điều kiện cải cách tư pháp đòi hỏi toàn ngành phải thực sự nỗ lực vươn lên về cả trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, ý thức tầm nhìn đối với sự nghiệp chung của ngành.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi