Những quy định về kháng nghị theo thủ tục GĐT đối với trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị và cơ chế xem xét lại các bản án, quyết định của HĐTP TANDTC trong BLTTDS

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự trong những năm qua cho thấy cùng với sự gia tăng về số lượng các tranh chấp dân sự thì tính chất mức độ tranh chấp cũng phức tạp, gay gắt hơn. Nhiều vụ việc dân sự đã qua hai cấp xét xử nhưng các bên tranh chấp vẫn không chấp nhận phán quyết của Toà án và tiếp tục khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm. Mỗi năm Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp nhận hàng trăm nghìn đơn khiếu nại đề nghị xem xét lại bản án, quyết định của Toà án cấp dưới theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Một hiện trạng đáng suy nghĩ đối với nền tư pháp hiện nay đang đòi hỏi có cơ chế giải quyết khắc phục đó là, không chỉ các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ, phúc thẩm có sai lầm, một số quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của các Toà chuyên trách thuộc Toà án nhân dân tối cao, thậm chí là cả các quyết định của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cũng có sai lầm nghiêm trọng.

1. Về việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị một phát hiện có sai lầm.

Tình trạng khiếu kiện và việc giải quyết khiếu kiện theo thủ tục giám đốc thẩm đang trở thành vấn đề thách thức gây quá tải cho Toà án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Hệ quả không mong muốn là có trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng Toà án, Viện kiểm sát chưa kịp thời xem xét giải quyết, cũng có những trường hợp gần hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Tòa án, Viện kiểm sát mới nhận được đơn khiếu nại của đương sự nên không có đủ thời gian để xem xét, do đó khi phát hiện bản án, quyết định của Tòa án có sai lầm, vi phạm nhưng thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm không còn, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của đương sự. Tình trạng này đã tồn tại từ nhiều năm nhưng không có cơ chế phù hợp để giải quyết, trên thực tế trở thành vấn đề bức xúc cần được xem xét khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sau đây viết tắt là BLTTDS năm 2004). Quá trình xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 (sau đây viết tắt là Luật sửa đổi, bổ sung) vấn đề xem xét lại đối với bản án, quyết định của Toà án không còn thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, về tính chất, trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử trong pháp luật tố tụng nên thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt do đối tượng được xem xét là các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; tính chất đặc biệt này được bảo đảm bằng quy định tố tụng chặt chẽ về người có thẩm quyền kháng nghị, căn cứ kháng nghị, thời hạn kháng nghị. Việc buộc phải xem xét lại tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có khiếu nại để phát hiện vi phạm, sai lầm làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm sẽ biến nó thành thủ tục thông thường, thành cấp xét xử thứ ba, lẽ đương nhiên điều này là trái với các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật tố tụng. Ý kiến khác cho rằng, thủ tục giám đốc thẩm là cơ chế khắc phục vi phạm, sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trường hợp bản án quyết định có khiếu nại trong thời hạn luật định nhưng không được xem xét, khi phát hiện được vi phạm, sai lầm đã hết thời hạn kháng nghị để xét xử lại. Trách nhiệm để bản án quyết định sai lầm không được khắc phục là của cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng hậu quả thiệt hại từ sai lầm đó thì đương sự trong vụ án phải gánh chịu. Điều này không phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, không bảo đảm quyền dân chủ bình đẳng của công dân trước pháp luật nên cần thiết phải quy định thủ tục xem xét bản án, quyết định đã hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm mới phát hiện có sai lầm. Luật sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng vừa khắc phục được sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự vừa xác định trách nhiệm của đương sự trong việc khiếu nại đề nghị xem xét bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm để bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng.

- Điều 284 BLTTDS được sửa đổi theo hướng quy định đương sự có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật và bổ sung thêm Điều 284a quy định về hình thức đơn, thủ tục nhận đơn; bổ sung Điều 284b quy định trách nhiệm của Toà án, Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận đơn và xem xét đơn đề nghị của đương sự xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.

- Điều 288 BLTTDS sửa đổi thành hai khoản, khoản 1 giữ nguyên quy định về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm của người có thẩm quyền là ba năm trong Luật sửa đổi bổ sung, đồng thời bổ sung khoản 2 với nội dung:

"2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị 3 năm nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 284 của bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghi;

b) Bản án, quyết đinh của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lơi ích hợp pháp của đương sự của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó. "

Quy định sửa đổi trên mở ra khả năng kháng nghị đối với bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật có sai lầm nhưng đã hết thời hạn ba năm thì được kéo dài thời hạn kháng nghị thêm hai năm với điều kiện đương sự có đề nghị bằng văn bản trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật. Về căn cứ kháng nghị được quy định chặt chẽ hơn, bản án, quyết định đã vi phạm quy định tại Điều 283 BLTTDS, đồng thời xâm hại nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích Nhà nước.

2. Về cơ chế xem xét lại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

Những năm gần đây, Toà án nhân dân tối cao tiến hành tổng kết thực tiễn công tác xét xử giám đốc thẩm, nghiêm túc đánh giá chất lượng công tác này đã phát hiện một số quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có sai lầm nghiêm trọng gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong quá trình soạn thảo, vấn đề xây dựng thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiều ý kiến trái chiều. Ý kiến không đồng tình cho rằng, Hiến pháp, Luật tổ chức Toà án nhân dân khẳng định Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Điều này có nghĩa Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử trong đó Hội đồng thẩm phán là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì quyết định của Hội đồng Thẩm phán là quyết định có hiệu lực cao nhất không có cấp cao hơn để xem xét lại. Trường hợp quyết định của Hội đồng Thẩm phán có sai lầm thì việc khắc phục hậu quả theo cơ chế bồi thường thiệt hại. Ý kiến khác cho rằng, trên nguyên tắc bảo đảm sự tuân thủ pháp luật thì các bản án, quyết định có sai lầm đều phải được xem xét lại; việc xác định bản án, quyết định của Toà án đúng hay không đúng pháp luật phải trên cơ sở bản án, quyết định của Toà án. Pháp luật hiện hành không có quy định việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 21 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân chỉ quy định Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm chứ không quy định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng. Vì vậy, việc thiết kế cơ chế đặc biệt khắc phục bất cập nêu trên là cần thiết và không trái pháp luật. Có thể thấy các ý kiến nêu trên đều có điểm bất cập, khiên cưỡng. Tuy nhiên, nếu không xây dựng cơ chế giải quyết thì về lâu dài việc khắc phục hậu quả sai lầm sẽ phức tạp hơn, gây mất lòng tin của người dân đối với cơ quan Tư pháp nói riêng, Nhà nước nói chung. Luật sửa đổi, bổ sung đã bổ sung Chương XIXa quy định thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cụ thể như sau:

- "Điều 310a. Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết đinh của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao"

1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết đinh đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.

2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.

Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không nhất trí với kiến nghị, đề nghị thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy đinh tại khoản 3 Điều này phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Điều 310b. Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao

1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đinh tại khoản 2 Điều 310a của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định tại khoản 3 Điều 310a của Bộ luật này.

2. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp xét thấy cần thiết, Toà án nhân dân tối cao có thể mời cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến tham dự phiên họp.

3. Sau khi nghe Chánh án Toà án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan được mời tham dự, nếu có, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra quyết định hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định và tùy từng trường hợp mà quyết định như sau:

a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;

b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Toà án nhân dân tối cao có quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của pháp luật;

c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp dưới giải quyết theo quy đỉnh của pháp luật.

4. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.

5. Toà án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này. "

Do tính chất đặc biệt của thủ tục này, Luật sửa đổi, bổ sung quy định rất chặt chẽ việc xem xét quyết định của Hội đồng Thẩm phán nếu: Có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết mới; có yêu cầu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Đối với yêu cầu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng thẩm phán sẽ mở phiên họp để xem lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán khi Chánh án Toà án tối cao đã có báo cáo về hồ sơ vụ án. Đối với các kiến nghị của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội, của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao, đề nghị của Chánh án Toà án tối cao, Hội đồng Thẩm phán sẽ mở phiên họp xét các kiến nghị, yêu cầu này nếu nhất trí kiến nghị đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán sẽ ra quyết định giao cho Chánh án Toà án tối cao có trách nhiệm tổ chức nghiên cứu hồ sơ, thu thập xác minh tài liệu, chứng cứ để báo cáo Hội đồng Thẩm phán; phiên họp của Hội đồng Thẩm phán phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân dân tối cao. Hội đồng Thẩm phán TANDTC có thể tuyên huỷ quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC, quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Một điểm đặc biệt của thủ tục xem xét quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao không có vai trò của cơ quan, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà còn quy định trách nhiệm của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cơ quan có vị trí đứng trên hệ thống cơ quan tư pháp, của Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội thực thi thủ tục này. Với vai trò là cơ quan thường trực, cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực tư pháp cho thấy tầm quan trọng công tác giải quyết các vụ việc dân sự trong điều kiện hiện nay. Để thực thi thủ tục này đang với ý nghĩa đặc biệt của nó các cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán "có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó ".

Nhìn chung, quy định cơ chế xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như trên xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công tác xét xử đồng thời thể hiện sâu sắc bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Việc xây dựng cơ chế cho phép Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tự xem xét lại quyết định của mình là nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi