Về việc phát hiện vi phạm và kháng nghị của VKS cùng cấp đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự của Tòa án

Việc kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự của Toà án theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp trong thời gian qua còn bộc lộ một số tồn tại như tỷ lệ kháng nghị còn thấp, chất lượng kháng nghị còn hạn chế; kháng nghị viết còn dài, nhận định đánh giá còn chung chung, lập luận thiếu tính thuyết phục, tỷ lệ rút kháng nghị và Toà án không chấp nhận kháng nghị vẫn cao.


 

Từ thực tiễn phát hiện vi phạm và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự của Toà án, chúng tôi có thể rút ra một số nguyên nhân của ưu điểm và của những tồn tại sau:

Nguyên nhân của ưu điểm:

- Lãnh đạo Viện đã chú trọng đến nội dung công tác này, thận trọng, nghiêm túc, sâu sát trong chỉ đạo giải quyết và duyệt án; đặt ra những yêu cầu cụ thể, tỷ mỉ đối với Kiểm sát viên trong việc báo cáo kết quả phiên toà, trong việc kiểm tra bản án sau phiên toà và đề xuất quan điểm của mình sau kiểm tra; biết tập hợp được trí tuệ tập thể, nhất là trong tập thể lãnh đạo đối với những vụ án có quan điểm khác nhau giữa Toà án và Viện kiểm sát trong đánh giá chứng cứ, định tội danh, áp dụng tình tiết tăng nặng... mà những vấn đề hiện nay còn thiếu sự hướng dẫn thống nhất của cấp trên.

- Đội ngũ Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà đã làm tốt công tác chuẩn bị xét xử, nắm chắc hồ sơ vụ án, dự kiến sát những tình huống phát sinh tại phiên toà, theo dõi được diễn biến phiên toà, phát hiện được những vi phạm ngay tại phiên toà; chủ động trong kiểm tra tính có căn cứ của những vấn đề mà Hội đồng xét xử có quan điểm khác với đề xuất của Viện kiểm sát ngay sau phiên toà kết thúc. Nên khi bản án hoặc quyết định của Toà án gửi sang Viện kiểm sát thì chỉ trong một thời gian ngắn, Kiểm sát viên đã có thể đề xuất, báo cáo Lãnh đạo Viện những vi phạm của bản án hoặc quyết định của Toà án và quan điểm xử lý của mình một cách cụ thể, rõ ràng để Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc kháng nghị một cách kịp thời, đúng thời gian luật định.

- Viện kiểm sát cấp dưới đã tranh thủ được ý kiến của Viện kiểm sát cấp trên, chấp hành tốt chế độ thỉnh thị kháng nghị trong trường hợp cần thiết; sự quan tâm, sâu sát trong chỉ đạo, hướng dẫn của Viện kiểm sát cấp trên đối với cấp dưới.

Nguyên nhân của những tồn tại:

- Về chủ quan, do một số Kiểm sát viên kinh nghiệm không nhiều, năng lực chuyên môn còn hạn chế, nắm không chắc các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Dân sự, nhất là văn bản hướng dẫn dưới luật, dẫn đến đánh giá không đầy đủ, chính xác các chứng cứ xác định có tội, xác định không có tội đối với các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các căn cứ để áp dụng biện pháp tư pháp và tính án phí. Khả năng xử lý các tình huống tại phiên toà của một số Kiểm sát viên còn lúng túng. Do vậy, không phát hiện được vi phạm ngay tại phiên toà, ngay cả khi nghiên cứu bản án cũng không phát hiện được vi phạm để đề xuất với Lãnh đạo Viện. Nếu có phát hiện được thì báo cáo đề xuất còn chung chung, chưa phân tích được căn cứ và cơ sở kháng nghị. Lãnh đạo Viện đôi khi chưa sâu sát, tỷ mỉ, còn đơn giản trong duyệt án, không phát hiện được những thiếu sót trong lập luận đề xuất của Kiểm sát viên, chưa dự kiến được các tình huống phát sinh tại phiên toà để định hướng cho Kiểm sát viên, nên khi bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án có nhận định đánh giá, áp dụng pháp luật không thống nhất với đề xuất của Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát còn lúng túng, mất nhiều thời gian trong việc xem xét, quyết định việc kháng nghị. Đôi khi chưa kiên quyết kháng nghị để bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát.

- Về khách quan, do một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và đặc biệt là của Bộ luật Hình sự chưa được hướng dẫn kịp thời và thống nhất đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nên dẫn đến việc nhận thức và áp dụng pháp luật chưa thống nhất. Ví dụ: Tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết định khung tăng nặng trong một số tội nhưng hiện nay để xem xét áp dụng tình tiết này thì các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể dựa vào kết luận của Chánh án Toà án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Toà án năm 1995 và việc nhận thức và vận dụng kết luận này cũng khác nhau, như được coi là tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” chỉ cần căn cứ vào hành vi phạm tội vô cớ hoặc chỉ vì duyên cớ nhỏ nhặt hay phải căn cứ vào cả hành vi cũng như nhân thân của bị cáo; Ngoài ra còn nhiều điều luật khác của Bộ luật Hình sự có quy phạm mang tính chất tuỳ nghi, điều đó dẫn đến việc vận dụng không thống nhất trong thực tiễn. Đây là trở ngại lớn đến việc đề xuất kháng nghị của Kiểm sát viên cũng như quyết định kháng nghị của lãnh đạo Viện và là lý do bác kháng nghị của Toà án do nhận thức chủ quan của các thành viên Hội đồng xét xử mà chủ yếu là Thẩm phán Chủ toạ phiên toà.

Như phần trên chúng tôi đã phân tích, ngoài bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án và quyết định sơ thẩm của vụ án, thì Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được giao quyền xem xét bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện ra vi phạm thì kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Xuất phát từ tính chất của xét xử phúc thẩm và hiệu lực của bản án phúc thẩm cho thấy, làm tốt công tác phát hiện vi phạm và kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án của Viện kiểm sát cùng cấp là điều kiện đảm bảo để cho bản án sơ thẩm có sai phạm được khắc phục nhanh nhất. Tuy nhiên, việc phát hiện vi phạm của bản án là rất khó khăn vì cả yếu tố chủ quan và khách quan nêu trên. Thời gian để xem xét và quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát lại rất ngắn vì theo quy định tại Điều 234 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trong khi đó, Điều 229 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định thời hạn giao bản án của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án; và trong thực tế, thông thường thì các Toà án đến gần hết thời hạn mới gửi bản án cho Viện kiểm sát nên Viện kiểm sát chỉ có thời gian khoảng một tuần để xem xét và quyết định việc kháng nghị. Do vậy, để quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có cơ sở vững chắc và đúng thời gian luật định thì phụ thuộc rất nhiều vào Kiểm sát viên tham gia xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Chỉ có Kiểm sát viên nắm chắc các quy định của pháp luật, hiểu và nắm vững hồ sơ vụ án, chủ động trong xét hỏi, trong tranh luật tại phiên toà, linh hoạt trong xử lý các tình huống phát sinh mới có khả năng phát hiện được những vi phạm của Hội đồng xét xử ngay tại phiên toà để chủ động xác định lại các vi phạm đó ngay sau khi phiên toà kết thúc và khi nhận được bản án thì kịp thời xác định một cách cụ thể những vi phạm của bản án hoặc quyết định là những vi phạm gì về nội dung hay thủ tục, nội dung điều luật vi phạm để kịp thời đề xuất với Lãnh đạo Viện về việc kháng nghị cũng như xây dựng quyết định kháng nghị đảm bảo có tính căn cứ và có cơ sở. Nhưng việc quyết định kháng nghị là do Lãnh đạo Viện quyết định nên chất lượng kháng nghị phụ thuộc nhiều vào việc thận trọng, tỷ mỉ trong kiểm tra đề xuất của Kiểm sát viên và kiểm tra dự thảo kháng nghị để khắc phục và chỉnh sửa các sai sót, cũng như khả năng quyết đoán và kiên quyết trong kháng nghị của Lãnh đạo Viện.

Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp, kiến nghị sau:

1. Cần phải phát huy và khơi dậy được ở Kiểm sát viên tính tự giác trong việc học tập, nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật, quy chế nghiệp vụ của ngành; có tinh thần trách nhiệm cao, thận trọng, tỷ mỉ, có thái độ, quan điểm đúng đắn trong xử lý tội phạm. Tránh những tư tưởng chủ quan, đơn giản, làm việc theo kiểu kinh nghiệm; bảo đảm Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà phải nắm chắc hồ sơ vụ án, chủ động trong xét hỏi, tranh luận, để bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát; đồng thời phát hiện được các vi phạm ngay tại phiên toà, chủ động, tỷ mỉ trong kiểm tra bản án sau phiên toà, đề xuất chính xác các vi phạm của bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án.

2. Lãnh đạo Viện phải quan tâm và trên cơ sở trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên để có các giải pháp cụ thể nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cho họ. Đặc biệt là các kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà. Phải căn cứ vào khả năng của từng Kiểm sát viên, dự liệu trước tính chất từng vụ án để phân công Kiểm sát viên cho phù hợp. Đặc biệt phải sâu sát, cụ thể hơn trong chỉ đạo giải quyết án, nhất là trong việc kiểm tra các chứng cứ, lập luận trong đề xuất của Kiểm sát viên để phát hiện ra những vấn đề còn thiếu và có những biện pháp khắc phục bổ sung kịp thời. Trong trường hợp cần thiết phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, để nắm rõ nội dung chứng cứ, đưa ra thảo luận tập thể, từ đó xem xét, quyết định việc kháng nghị. Thực hiện nghiêm chế độ thỉnh thị kháng nghị đối với những vụ án có nhiều quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ và vận dụng đường lối xử lý. Chú trọng công tác rút kinh nghiệm sau xét xử.

3. Bộ luật Tố tụng Hình sự mới quy định quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự của Toà án mà chưa quy định tính căn cứ để thực hiện quyền đó như các quyền năng pháp lý khác của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mới chỉ được quy định trong quy chế nghiệp vụ của ngành nên hiệu lực pháp lý của quy định này chỉ trong nội bộ Ngành kiểm sát. Do vậy, theo chúng tôi nên sửa Điều 232 Bộ luật Tố tụng Hình sự như sau:

Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm khi có những căn cứ sau:

a. Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ;

b. Kết luận của bản án hoặc quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;

c. Có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự;

d. Có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm./.

  Thạc sỹ Nguyễn Văn Oanh

(Viện kiểm sát quân sự khu vực Quân khu Thủ đô - nguồn TCKS số 8/2007)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi