Một số yêu cầu đặt ra đối với công cuộc cải cách tư pháp hình sự ở nước ta hiện nay

                                                          ThS. Nguyễn Thị Thủy

                                                          Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC

1. Những tiền đề và thách thức đối với công cuộc cải cách tư pháp hình sự ở nước ta hiện nay.

Trong hơn 60 năm qua, công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đã từng bước được kiện toàn và phát triển, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn của lịch sử cách mạng nước ta; tăng cường khả năng chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, chống làm oan người vô tội; đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định. Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước. công cuộc cải cách toàn diện và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt đến những bước phát triển mới, tạo nên những tiền đề và cũng là những thách thức lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, đòi hỏi phải có những điều chỉnh mang tính cải cách đối với tư pháp hình sự từ nhiệm vụ, thẩm quyền của các chủ thể tố tụng, trình tự, thủ tục, thời hạn cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Cải cách kinh tế với những kết quả đạt được thời gian qua đã và đang tạo ra những tiền đề quan trọng cả về vật chất và tư duy cho các cuộc cải cách khác, trong đó có cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, cải cách hệ thống tư pháp và tư pháp hình sự nói riêng. Công cuộc cải cách kinh tế đã tạo ra những lực đẩy quan trọng cho giải phóng sức sản xuất, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, lợi ích của cá nhân người lao động, của các chủ thể sản xuất, kinh doanh ngày càng được coi trọng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, tình hình tội phạm cũng có những diễn biến hết sức phức tạp, tội phạm tham nhũng xảy ra khá trầm trọng và phổ biến, xuất hiện mới những hành vi nguy hiểm cho xã hội trong quá trình phát triển kính tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, môi trường v.v. mà chưa được tội phạm hoá. Đặc điểm của các loại tội phạm mới đặt ra yêu cầu phải đổi mới các thủ tục tố tụng, ví dụ vấn đề áp dụng biện pháp ngăn chặn, vấn đề giám định tư pháp liên quan đến việc xác định quy mô của hành vi phạm tội và mức độ thiệt hại  (giám định tài chính, kế toán, mức độ ô nhiễm môi trường v.v.)

Thực tế này đang đặt ra những thách thức lớn đối với Nhà nước ta, với các cơ quan tư pháp trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tạo môi trường thuận lợi, an toàn cho công cuộc đối mới và phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế.

Sự  phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã và đang tạo ra những tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, hàng ngày, hàng giờ phát huy tác dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước. Bên cạnh những thuận lợi đó, cũng xuất hiện không ít hiện tượng lợi dụng thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin để thực hiện hành vi phạm tội. Tình hình này đặt ra những thách thức lớn đối với các cơ quan tư pháp trong việc phát hiện và xử lý tội phạm của thời kỳ khoa học công nghệ hiện đại, đặt ra yêu cầu phải tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp; đầu tư cơ sở vật chất hiện đại cho các cơ quan tư pháp; cải cách thủ tục tố tụng tư pháp, xem xét lại các quan niệm về chứng cứ, nguồn chứng cứ, các thủ tục thu thập chứng cứ của các loại tội phạm này, vấn đề giám định tư pháp. . . cho phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại.

Cải cách hành chính với những kết quả quan trọng cả trên phương diện thể chế, tổ chức bộ máy. đội ngũ cán bộ v.v. đã nảy sinh yêu cầu phải có những đổi mới cơ bản trong các thủ tục tố tụng hình sự theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện bảo đảm sự tham gia giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp hình sự.

Công cuộc hội nhập quốc tế ở nước ta đang được tiến hành ngày một sâu rộng. Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng đầy đủ vào các sân chơi quốc tế như: WTO, APEC, ASEAN..., ký kết, tham gia nhiều điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong quá trình hợp tác quốc tế, hệ thống pháp luật và thể chế tư pháp Việt Nam đã có những điều chỉnh, sửa đổi, hoàn thiện khá tích cực để bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc pháp lý quốc tế, các cam kết quốc tế, tạo động lực thúc đẩy tự do thương mại và đầu tư quốc tế, đã từng bước chuyển hoá các nguyên tắc pháp lý quốc tế cơ bản như không phân biệt đối xử, công khai, minh bạch trong hoạt động ban hành pháp luật, áp dụng pháp luật, trong quy trình ra các quyết định hành chính, tư pháp; nguyên tắc và cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính bằng các thủ tục hành chính và tố tụng tư pháp công khai; nguyên tắc bảo đảm quyền được xét xử theo một thủ tục tố tụng công bằng, bình đẳng; nguyên tắc bảo đảm các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là bảo đảm quyền bào chữa của người bị tình nghi phạm tội . . . Bên cạnh những tiền đề to lớn đó, những thách thức lớn cũng đang đặt ra đối với hệ thống tư pháp ở nước ta trong những năm tiếp theo. Như một số nhà nghiên cứu đã phân tích1, những thách thức đó là sự xuất hiện của nhiều tổ chức phạm tội xuyên quốc gia, số vụ có sự móc nối giữa đối tượng phạm tội ở trong nước với các tổ chức tội phạm ở nước ngoài có xu hướng gia tăng. sự bất tương thích về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và thủ tục tố tụng tư pháp của Việt Nam so với các quy tắc và chuẩn mực chung của quốc tế; sự hạn chế, lạc hậu trong nhận thức hiểu biết và đặc biệt là kỹ năng áp dụng pháp luật (bao gồm cả việc áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế) của đội ngũ cán bộ tư pháp trong khi xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình hội nhập. Trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật quốc tế và kỹ năng nghiệp vụ liên quan đến hội nhập, đến việc xử lý các yêu cầu tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm vẫn đang trong tình trạng bị động, chắp vá, hình thức và kém hiệu quả.

Đổi mở văn hoá, xã hội, giáo dục đang từng bước tạo lập nền tảng tri thức, các giá trì tinh thần, nguồn nhân lực cho quá trình phát triển đất nước. Trình độ văn hoá và tính tích cực xã hội của các tầng lớp dân cư ngày một nâng cao, tạo động lực quan trọng cho quá trình công nghiệp, hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những tiền đề này đang đặt ra những thách thức và cũng là những đòi hỏi với hệ thống các cơ quan tư pháp phải có những đổi mới mạnh mẽ về cơ chế tố tụng, về trình độ cán bộ để đáp ứng ngày càng cao những đòi hỏi của công dân và xã hội về một nền tư pháp hiệu quả trong đấu tranh với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật, thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người; bảo đảm cho người dân dễ dàng tiếp cận công lý, tiếp cận quá trình giải quyết vụ án; đòi hỏi phải có những giải pháp mạnh mẽ và tích cực để nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư giám định tư pháp để hỗ trợ đắc lực cho quá trình tìm đến chân lý khách quan của vụ án. . .

2. Một số yêu cầu đặt ra đối với công cuộc cải cách tư pháp hình sự ở nước ta trong thời gian tới

Trên cơ sở những tiền đề và thách thức như đã phân tích ở trên. cải cách tư pháp hình sự ở nước ta trong thời gian tới phải đáp ứng một số yêu cầu, đòi hỏi sau đây:

- Cicách tư pháp hình s phi đáp ng yêu cu ngăn nga có hiu qu và x lý kip thi, nghiêm minh các loi ti phm.

Suy cho cùng, mục đích tồn tại của tố tụng hình sự chính là vấn đề phát hiện tội phạm và xử lý tội phạm. Bộ máy các cơ quan tiến hành tố tụng, các thủ tục tố tụng được bố trí sắp xếp, kiện toàn cũng là để thực hiện tốt mục tiêu này.

Thời gian qua: thực hiện chủ trương cải cách tư pháp đề ra trong các Nghị quyết của Đảng, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự có những chuyển biến tích cực. Tỷ lệ phát hiện tội phạm đạt cao (trên 70%), trong đó án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt gần 95% số vụ phạm tội xảy ra, việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội được hạn chế một cách căn bản2. Song, trên thực tế: vẫn còn một số lượng vụ án hình sự chưa được phát hiện và đưa ra xử lý, tình hình tội phạm tiếp tục có những diễn biến phức tạp, số vụ phạm tội tăng đáng kể, với tính chất. thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, đối tượng phạm tội ngày càng đa dạng, xuất hiện ngày càng nhiều sự móc nối giữa đốt tượng phạm tội ở trong nước với các tổ chức tội phạm ở nước ngoài v.v. Tình hình này đặt ra yêu cầu đối với công cuộc cải cách thủ tục tố tụng hình sự phải tạo ra các quy trình, thủ tục tố tụng thật sự khoa học, hợp lý để ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm. Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải không ngừng được bồi dưỡng kiến thức pháp luật: kỹ năng nghiệp vụ, tăng cường tính chuyên nghiệp, tính nhanh nhạy. được đầu tư tối tân về cơ sở vật chất, kỹ thuật để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

- cái cách tư pháp hình s phái đáp ng yêu cn bo đm và tôn trng quyn dân ch, quyn lợi ích hợp pháp của công dân

Là quá trình phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, tố tụng hình sự phải đảm đương vai trò là công cụ sắc bén và đầy hiệu lực của Nhà nước và xã hội trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những người có hành vi phạm tội. Tuy nhiên, mục tiêu đó không cho phép đạt được bằng mọi giá. Đặc biệt, trong điều kiện toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đặt quyết tâm chính trị đẩy mạnh quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền thì yêu cầu đối với quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm là phải hết sức chú trọng đến mục tiêu đề cao công lý, không làm oan người vô tội, bảo vệ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân, phải xem đây là yêu cầu tối quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án.

Thời gian qua, về mặt xây dựng và hoàn thiện thể chế, chúng ta đã tiếp tục ghi nhận những nguyên tắc pháp lý tiến bộ của văn minh pháp lý nhân loại và làm sâu sắc thêm những nguyên tắc này, đó là nguyên tắc bảo đảm quyền sống tự do và an ninh cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, quyền được bình đẳng trước toà án, được xét xử công bằng, công khai bởi một toà án độc lập, không thiên vị và được coi là vô tội cho đến khi hành vi phạm tội được chứng minh theo pháp luật tại một phiên toà công khai và công bằng3 . . .; đã có những điều chỉnh khá cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa để tăng cường cho các chủ thể này các cơ hội tham gia tích cực hơn, đầy đủ hơn vào hoạt động tố tụng hình sự, bổ sung các quy định đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. . . Trong quá trình giải quyết vụ án các yêu cầu về tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng đã được quán triệt và triển khai thực hiện trên thực tê, chủ trương "nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà" được áp dụng và bước đầu tạo không khí dân chủ trong các phiên toà.

Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất. Tình trạng vi phạm các quyền của công dân trong hoạt động điều tra, bắt tạm giữ, tạm giam vẫn còn xảy ra ở một số nơi, có vụ việc gây nhiều bức xúc trong dư luận. Chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà" chưa đi vào chiều sâu và chưa thực sự phát huy hiệu quả4. Tư duy trong giải quyết vụ án hình sự vẫn đặt sự quan tâm nhiều hơn ở nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, nhiệm vụ đề cao công lý bảo vệ quyền con người, quyền công dân vẫn chưa giành được vị trí ưu tiên bảo vệ đúng như tầm quan trọng của 5....

Vì vậy, cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu tăng cường hơn nữa tính dân chủ, bảo đảm tốt hơn nữa các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự phải đứng trên quan điểm đó để chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.

- Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm sự công bằng, bình đẳng thực sự giữa các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) trong suốt quá trình đi tìm sự thật của vụ án

Công bằng, bình đẳng luôn là yêu cầu quan trọng của quá trình giải quyết vụ án hình sự, được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế6 . Một nền tư pháp tiến bộ là nền tư pháp phải bảo đảm cho các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa có các cơ hội, điều kiện như nhau trong việc bày tỏ ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Sự đấu tranh, vận động giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa càng dân chủ, bình đẳng bao nhiêu thì quá trình tìm kiếm chân lý càng được bảo đảm bấy nhiêu.

Thời gian qua: về mặt xây dựng và hoàn thiện thể chế, chúng ta đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa hiệu quả hơn; người bào chữa có quyền tham gia tố tụng sớm hơn, các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa của họ từng bước được mở rộng. Tuy nhiên, xét cả trên bình diện pháp lý và thực tiễn, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được xem là một bên trong quan hệ tố tụng, thậm chí nhiều trường hợp, gần như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tính thụ động và bị lệ thuộc của người bào chữa vào các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn là điểm dễ nhận thây trong tố tụng hình sự nước ta. Người bào chữa chưa được đảm các điều kiện cần thiết để trở thành một bên bình đẳng với bên buộc tội trong quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án v.v. Những vướng mắc, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, đến yêu cầu xây dựng một nền tư pháp dân chủ, công bằng nghiêm minh, bảo vệ công lý, ảnh hưởng đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo và đặc biệt là đã không tạo ra được cơ chế pháp lý hữu hiệu để thúc đầy các cơ quan tiến hành tố tụng tự hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình trước sự đối trọng, phản biện tích cực từ bên bào chữa.

Xuất phát từ yêu cầu đó, quá trình cải cách tư pháp hình sự phải tạo ra các quy trình, thủ tục tố tụng hợp lý khoa học nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và chủ thể thực hiện chức năng bào chữa, tạo các cơ hội, điều kiện bình đẳng giữa các bên trong việc đưa ra chứng cứ, bảo vệ ý kiến của mình, bảo đảm cho các bên phản ánh được hết ý kiến lập luận của mình với toà án một cách trực tiếp.

- Ci cách tư pháp hình s phải đáp ng yêu cu xác định đúng đn quyn, nghĩa v ca các ch th t tng cho phù hp vi các chc năng bản của tố tụng hình sự, đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trước dân, trước Nhà nước

Phân định đúng đắn, chính xác quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể cho phù hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của tố tụng hình sự, giúp cho các hoạt động tố tụng được tiến hành có tính chuyên nghiệp cao tăng cường trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện chức năng tố tụng được giao. Xuất phát từ nguyên tắc này, cải cách thủ tục tố tụng hình sự phải hướng đến việc phân định hợp lý quyền, nghĩa vụ của các chủ thể cho phù hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, loại bỏ các quy định mâu thuẫn, chồng lấn chức năng tố tụng; loại bỏ sự phối hợp giữa các chức năng tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là sự phổi hợp giữa chức năng buộc tội và chức năng xét xử. Bổ sung các biện pháp chế tài áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm các quy định tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Mọi thiệt hại do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gây ra cho cá nhân tổ chức trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đều phải được bồi thường theo pháp luật. Thực thi một nền tư pháp nghiêm minh, trách nhiệm trước dân trước Nhà nước...

- Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống tố tụng hình sụ công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện, do tiếp cận

Công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện, bảo đảm quyền tiếp cận, quyền tham gia của công dân luôn là đòi hỏi đối với quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Là một dạng hoạt động quyền lực nhà nước (quyền tư pháp), hoạt động tư pháp hình sự một mặt phải bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chồng tội phạm, đồng thời quá trình vận hành các thủ tục tố tụng hình sự phải đáp ứng yêu cầu về tính công khai, minh bạch, dân chủ, giản tiện, dễ tiếp cận đối với người dân. Xuất phát từ yêu cầu này việc cải cách tư pháp hình sự cần loại bỏ những thủ tục rườm rà, phức tạp, gây phiền hà cho người dân tiếp cận công lý, tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án; bổ sung các nội dung nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch của các quy định, thủ tục tố tụng hình sự... Không thể vì lý do cần giữ bí mật điều tra mà gây khó khăn, tạo nên những cách trở giữa người dân với quá trình giải quyết vụ án.

- Ci cách pháp hình sư phải bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả các chế kiểm tra, giám sát hoạt động tố tụng hình sự

Trong Nhà nước pháp quyền, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước là một hoạt động tất yếu và luôn giữ vị trí đặc biệt trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm cho các quyền đó làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, không vượt khỏi phạm vi thẩm quyền, chức năng đã được xác định. Xã hội càng phát triển quá trình dân chủ hoá trong xã hội càng được mở rộng thì yêu cầu kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước càng cao.

Hoạt động tư pháp hình sự có nhiệm vụ xem xét, đưa ra các phán quyết về tính đúng hay sai là tội phạm hay không phải là tội phạm, hình phạt áp dụng, khôi phục lại trật tự xã hội đã bị xâm phạm, bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội. Đồng thời, quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đó, pháp luật trao cho các cơ quan tư pháp thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế tố tụng như biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam . . . như vậy, hoạt động tư pháp hình sự mang trong nó những thẩm quyền mạnh mẽ và có khả năng ảnh hưởng đến các quyền cơ bản nhất của con người như quyền tự do, quyền sống. Xuất phát từ các đặc điểm đó, hoạt động tư pháp hình sự cần và phải chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhiều cơ chế kiểm tra, giám sát khác nhau. Chính sự kiểm tra giám sát chặt chẽ sẽ là điều kiện bảo đảm cho phán quyết của tư pháp là một giá trị không gì có thể thay thế được, bảo đảm tính hiệu lực thi hành của các phán quyết tư pháp.

Yêu cầu tăng cường các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tư pháp đã được đặt ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng. Nghị quyết 08-NQ/TW nhấn mạnh: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp . . Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật. . . Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của tổ chức xã hội và của nhân dân đối với công tác tư pháp. Công tác giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan tư pháp tập trung vào việc chấp hành pháp luật trong lĩnh việc bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử, thi hành án giám sát việc ban hành các văn bản pháp luật về lĩnh vực tư pháp". Nghị quyết 49-NQ/TW tiếp tục yêu cầu: "Tăng cường kiểm tra, thanh tra và có cơ chế thanh tra, kiêm tra từ bên ngoài đối với hoạt động của các chức danh tư pháp. . . Tăng cường nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp...”. Vì vậy, cải cách tư pháp hình sự phải tiếp tục hướng tới việc xây dựng các cơ chế giám sát đồng bộ, hợp lý và có hiệu lực. Các cơ chế kiểm tra, giám sát được xây dựng đồng bộ, hợp lý sẽ luôn là một trong những bảo đảm cho guồng máy tố tụng tư pháp hoạt động hết công suất, đồng thời tránh được tình trạng lạm quyền, làm ảnh hưởng đến quyền công dân mà trực tiếp nhất là quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Mở rộng khả năng tham gia của người bào chữa, cá nhân, các cơ quan dân cử, các tổ chức xã hội vào hoạt động giải quyết vụ án nhằm tăng cường các kênh giám sát đối với hoạt động tư pháp.

- Cải cách tư pháp hình sự phải đáp ứng yêu cầu đổi mới chính sách hình sự trong thời gian tới.

Thực chất mối quan hệ giữa Luật Hình sự với Luật tố tụng Hình sự là mối quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức. Trong mối quan hệ này, nội dung có ý nghĩa quyết định hình thức. Nghị quyết 49-NQ/TW đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc hoàn thiện, đổi mới chính sách hình sự như: giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm, quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế v. v. Do vậy, cải cách thủ tục tố tụng hình sự phải đáp ứng kịp thời những thay đổi về chính sách hình sự trong thời gian tới.

 

1 Xem. Nguyễn Khánh Ngọc, Quá trình hội nhập quốc tế của Việt nam - những yêu cầu, thách thức đối với các cơ quan tư pháp và bảo vệ pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 12/2005 (số 23).

2xem: Báo cáo sơ kết 3 năm thực Hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

3 xem: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và hai công ước 1966 về quyển con người (các điều 3, 7, 10, 111 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và các điều 9, 14, 26 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị), Trung tâm nghiên .cứu quyển con người. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 5/2000.

4 xem: Thông báo số 230-TB/TW ngày 26/3/2009 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

5Xem: Đào trí úc (chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nxb. pháp. 2006, tr. 201 .

6.( xem: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (Điều lo Công ước quốc tế về quyển dân sự và chính trị (Điều 14), Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 5/2000.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi