Cần nhận thức đầy đủ để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả Bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên

                                                     Ths. Bùi Mạnh Cường                 
                                                                       Vụ trưởng Vụ TCCB (Nguyên Vụ trưởng Vụ 1A),
                                                                       Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Đề ra yêu cầu điều tra là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên. Trong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, việc đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Tuy nhiên, việc thực hiện bằng văn bản là cơ bản và chủ yếu, nó thể hiện đầy đủ ý chí, quan điểm của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án và được lưu trong hồ sơ tố tụng. Một bản yêu cầu điều tra có chất lượng giúp ích rất nhiều cho Điều tra viên trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng, góp phần tích cực vào việc giải quyết vụ án. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi sẽ bàn sâu về một số nội dung cần nhận thức đầy đủ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, không bàn về việc đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói.

Khái niệm về bản yêu cầu điều tra Để nâng cao chất lượng của bản yêu cầu điều tra, trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là bản yêu cầu điều tra.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Kiểm sát viên có quyền "đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra" (điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 112 BLTTHS).

Quá trình thực hiện chưa có Thông tư hướng dẫn về việc đề ra yêu cầu điều tra. Tuy nhiên, tại Điều 19 của Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - sau đây xin gọi tắt là Quy chế số 07) đã quy định: "Kiểm sát viên chủ động trao đổi với Điều tra viên được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường và trong quá trình điều tra.

Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói hoặc văn bản trong quá trình trực tiếp kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, đối chất, thực nghiệm điều tra. Đối với các trường hợp khác, khi đề ra yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên phải có văn bản yêu cầu điều tra, nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng hoặc để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 BL TTHS... ".

Từ những quy định nêu trên, bản yêu cầu điều tra có thể được khái niệm như sau:

"Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện, nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật ".

Từ khái niệm nêu trên để chúng ta đi sâu phân tích vị trí, vai trò, tầm quan trọng cũng như giá trị pháp lý của bản yêu cầu điều tra, thẩm quyền ban hành, hình thức văn bản, nội dung văn bản, thời điểm ban hành và kỹ năng ban hành bản yêu cầu điều tra, trên cơ sở đó có sự thống nhất về nhận thức và tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự.

Về vị trí vai trò, tầm quan trọng của bản yêu cầu điều tra

Cần phải khẳng định rằng, việc "đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra" là một quyền năng quan trọng và cơ bản của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với một vụ án hình sự. Thông qua bản yêu cầu điều tra, Kiểm sát viên thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng của một vụ án hình sự; nó là quyền năng nhưng đồng thời cũng thể hiện trình độ, năng lực của Kiểm sát viên. Kinh nghiệm cho thấy, nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực, bám sát tiến độ điều tra, nắm chắc hồ sơ vụ án thì đề ra được bản yêu cầu điều tra có chất lượng, giúp ích rất nhiều cho Điều tra viên nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên không có trình độ, năng lực, không nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án thì chỉ đề ra những yêu cầu chung chung, thậm chí nêu lên những yêu cầu không cần thiết khiến cho Điều tra viên không thể thực hiện được, làm ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả điều tra đối với vụ án.

Từ phân tích trên cho thấy, bản yêu cầu điều tra có vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt, là biểu hiện tập trung nhất của việc tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên, gắn trách nhiệm của Kiểm sát viên với Điều tra viên trong việc điều tra vụ án.

Về giá trị pháp lý (hiệu lực) của bản yêu cầu điều tra

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 112 BLTTHS thì Kiểm sát viên có quyền "đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra”.

Theo quy định tại Điều 19 của Quy chế số 07, và trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát quy định tại Điều 114 BLTTHS thì bản yêu cầu điều tra là văn bản tố tụng, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, bản yêu cầu điều tra không phải là văn bản bắt buộc thực hiện như các quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam... (khoản 4 Điều 112 BLTTHS); huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật (khoản 5 Điều 112 BLTTHS); và quyết định truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ bị can (khoản 6 Điều 112 BLTTHS) mà nó có tính chất "bắt buộc tương đối”. "Bắt buộc tương đối" ở đây có thể hiểu: Nếu bản yêu cầu điều tra có chất lượng, nêu rõ được những vấn đề cần điều tra, thu thập để củng cố chứng cứ, hoàn thiện thủ tục tố tụng để xử lý vụ án thì Điều tra viên bắt buộc phải thi hành; trường hợp bản yêu cầu điều tra nêu không cụ thể, thậm chí những nội dung nêu ra không cần thiết thì không bắt buộc Điều tra viên phải thực hiện nhưng Cơ quan điều tra phải nói rõ lý do trong bản kết luận điều tra vụ án (Điều 19 của quy chế số 07).

Như vậy, muốn cho Cơ quan điều tra và Điều tra viên thực hiện nghiêm chỉnh bản yêu cầu điều tra, thì Kiểm sát viên phải nâng cao chất lượng bản yêu cầu điều tra, góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bản yêu cầu điều tra.

Về hình thức và nội dung của một bản yêu cầu điều tra

Về hình thức: Theo quy định của các mẫu văn bản tố tụng do Viện kiểm sát nhân dân ban hành thì "yêu cầu điều tra" thuộc Mẫu số 20 (ban hành kèm theo quyết định số 07 ngày 02/01/2008 nói trên). Theo quy định, văn bản này gồm 2 phần chính: Căn cứ để ban hành bản yêu cầu điều tra, và những nội dung cần yêu cầu điều tra.

Về nội dung: Đây là phần rất quan trọng, Kiểm sát viên phải nêu lên được những việc chưa rõ, còn thiếu hoặc có mâu thuẫn để yêu cầu Điều tra viên tiến hành điều tra, thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng; thậm chí là các yêu cầu mang tính định hướng điều tra bảo đảm cho việc xử lý vụ án.

Các nội dung đề ra phải rõ ràng, cụ thể và có chất lượng, không nêu chung chung hoặc nêu không rõ ý; những vấn đề đương nhiên Điều tra viên phải làm như: Lập danh chỉ bản, xác định căn cước lý lịch bị can... thì không cần nêu. Kiểm sát viên chỉ đề ra những nội dung "cần thiết” để củng cố chứng cứ, hoàn thiện đầy đủ thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc giải quyết vụ án. Nội dung yêu cầu điều tra cần chia ra các ý nhỏ, rõ ràng để Điều tra viên dễ hiểu và dễ thực hiện.

Để đề ra bản yêu cầu điều tra có chất lượng, Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, kịp thời nghiên cứu những tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên mới thu thập được chuyển đến để phát hiện ra những mâu thuẫn trong các lời khai, những nội dung (yếu tố cấu thành tội phạm) chưa được làm rõ hoặc còn thiếu chưa được thu thập, từ đó đề ra yêu cầu điều tra để Điều tra viên thực hiện.

Về phạm vi và thời điểm ban hành bản yêu cầu điều tra

Về phạm vi : Theo quy định tại khoản 2 Điều 112 BLTTHS thì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra,  Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: "2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra”. Như vậy, có thể hiểu đây là một trong những quyền năng thuộc phạm vi quyền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát (không thuộc phạm vi công tác kiểm sát điều tra quy định tại Điều 113 BLTTHS). Việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi khởi tố vụ án đến khi kết thúc bằng bản cáo trạng hoặc đình chỉ vụ án.

Về thời điểm ban hành bản yêu cầu điều tra: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Quy chế số 07 thì: "Kiểm sát viên có thể đề ra yêu cầu điều tra, nêu rõ những vấn đề cần điều tra, thu thập để củng cố chứng cứ, hoàn thiện thủ tục tố tụng... ".

Tại khoản 2 Điều 19 quy chế số 07 quy định: "Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ hoạt động của Điều tra viên, bảo đảm các yêu cầu điều tra được thực hiện đầy đủ. Khi thấy có vấn đề cần phải điều tra thêm, Kiểm sát viên kịp thời bổ sung yêu cầu điều tra… ".

Như vậy có thể hiểu bản yêu cầu điều tra chỉ được ban hành "khi thấy cần thiết". Có thể có vụ án không cần đề ra yêu cầu điều tra vì vụ án đơn giản, chứng cứ và thủ tục tố tụng đã đầy đủ, rõ ràng để xử lý vụ án. Ngược lại, đối với vụ án phức tạp, án đặc biệt nghiêm trọng hoặc là án truy xét, Kiểm sát viên có thể phải đề ra nhiều yêu cầu điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố và trong suốt quá trình điều tra. Để làm được việc này, Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, nắm chắc nội dung vụ án, kịp thời phát hiện những vấn đề chưa rõ, còn thiếu hoặc có mâu thuẫn để yêu cầu Điều tra viên thu thập, củng cố. Tuỳ vào tính chất, mức độ và yêu cầu giải quyết đối với từng vụ án, Kiểm sát viên có thể đề ra một hoặc nhiều bản yêu cầu điều tra trong cùng một vụ án để yêu cầu Điều tra viên thực hiện. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần lưu ý: "Đối với những vụ án trọng điểm, phức tạp, những vụ án được dư luận đặc biệt quan tâm và những trường hợp thấy có thể phải thay đổi, bổ sung quyết đinh khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Kiểm sát viên phải báo cáo xin ý kiến của  Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền trước khi ký văn ban yêu cầu điều tra. Văn bản yêu cầu điều tra phải được lưu vào hồ kiểm sát một bản" (Điều 19 Quy chế số 07).

Về quan hệ giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên trong việc thực hiện bản yêu cầu điều tra

Quan hệ giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên là quan hệ phối hợp, cùng chung nhiệm vụ, đó là: Làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, nếu Kiểm sát viên có trình độ, năng lực và có trách nhiệm cao trước công việc thì sẽ đề ra được các yêu cầu điều tra có chất lượng giúp cho Điều tra viên trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng để sớm kết thúc vụ án. Ngược lại, nếu Kiểm sát viên không có trình độ, năng lực, lại thiếu tinh thần trách nhiệm, không nắm chắc tiến độ, nội dung vụ án thì không đề ra được yêu cầu điều tra, hoặc có đề ra được thì bản yêu cầu điều tra cũng không có chất lượng, gây phản cảm cho Điều tra viên.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính chất lượng các bản yêu cầu điều tra và thái độ của Kiểm sát viên sẽ chi phối mối quan hệ giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên, tạo nên hiệu lực và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra và kết quả giải quyết vụ án. Vì vậy, đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên phải không ngừng nâng cao trình độ, năng lực và trách nhiệm trước công việc, chủ động góp phần tích cực vào việc xây dựng mối quan hệ trong việc thực hiện bản yêu cầu điều tra.

Một số đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của bản yêu cầu điều tra, chúng tôi xin đề xuất, kiến nghị một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần quán triệt cho Kiểm sát viên có nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của ban yêu cầu điều tra;

Thứ hai, nâng cao chất lượng ban hành các bản yêu cầu điều tra, thông qua các biện pháp như:

- Tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự;

- Tăng cường tập huấn, rút kinh nghiệm trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra, đặc biệt là kỹ năng ban hành, trình tự và các bước tiến hành một bản yêu cầu điều tra;

- Tăng cường kiểm tra nghiệp vụ, nhất là trình độ và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc đề ra các yêu cầu điều tra; có quy định cụ thể về trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc để vụ án kéo dài, vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, án bị huỷ vì thiếu chứng cứ hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng... do Kiểm sát viên chưa làm hết trách nhiệm, không kịp thời phát hiện đề ra các yêu cầu điều tra để Điều tra viên khắc phục.

Thứ ba, sớm ban hành Thông tư liên tịch của Liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn về việc đề ra và thực hiện Bản yêu cầu điều tra, là cơ sở pháp lý để Kiểm sát viên và Điều tra viên thực hiện.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi