Những kiến nghị hoàn thiện các quy định về hình phạt bổ sung trong Bộ luật Hình sự năm 1999

Trịnh Quốc Toản
                                                                                           TS.Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội

1 Những kiến nghị chung

Trước khi đưa ra những kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về các hình phạt bổ sung (HPBS) cụ thể trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 , chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị chung liên quan đến hầu hết các HPBS trong BLHS này, đó là:

Thứ nhất, về định nghĩa pháp lý về hình phạt, Điều 26 BLHS đưa ra định nghĩa pháp lý chung về hình phạt, đó là một sự tiến bộ về mặt lập pháp, nhưng định nghĩa này chưa có tính khái quát cao và chưa thật sự chính xác ở hai ý, thứ nhất là nhà làm luật sử dụng động từ "nhằm" là không chính xác, làm người ta tưởng rằng mục đích của hình phạt chỉ là nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội; thứ hai là sử dụng thuật ngữ "biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất” là không thật sự chuẩn xác. Theo chúng tôi, thuật ngữ này có lẽ chỉ đúng với hình phạt chính (HPC), còn không đúng với tính chất của loại HPBS, vì vậy định nghĩa về hình phạt nói chung nên sử dụng thuật ngữ “biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc” là phù hợp hơn. Ngoài ra, theo chúng tôi là tội phạm và hình phạt không nên chỉ quy định trong BLHS mà cần quy định ở các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Quy định như vậy sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu của chính sách hình sự và tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với quan điểm như vậy, ngoài việc cần sửa đổi Điều 2, Điều 8 và một số điều luật khác của Phần chung BLHS, chúng tôi đề nghị sửa đổi định nghĩa pháp lý về hình phạt trong Điều 26 BLHS như sau:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được thể hiện việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.

Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác và do tòa án quyết đinh.

Thứ hai, về mục đích của hình phạt, Điều 27 BLHS cần sửa đổi theo hướng khẳng định dứt khoát là hình phạt không có mục đích trừng trị, trả thù, hạ thấp danh dự của người phạm tội. Theo chúng tôi Điều 27 BLHS cần được sửa lại như sau:

Hình phạt có mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn có mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Hình phạt không có mục đích gây đau đớn về thể xác hoặc hạ thấp nhân phẩm của con người.

Thứ ba, về giảm thời hạn hoặc miễn HPBS, khoản 1 Điều 57 BLHS chỉ có quy định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt "đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn mà chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa", chứ không có quy định cụ thể về việc miễn chấp hành toàn bộ HPBS trong trường hợp HPBS chưa được chấp hành. Còn khoản 5 Điều 57 BLHS cũng chỉ có quy định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với hình phạt cấm cư trú và quản chế trong trường hợp người bị kết án đã chấp hành được một nửa thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, trong khi đó Điều luật này không quy định việc miễn chấp hành phần hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định, tước một số quyền công dân và một số HPBS khác, mặc dù người bị kết án đáp ứng đầy đủ các điều kiện tương tự. Chúng tôi cho rằng, không quy định áp dụng chế định miễn, giảm hình phạt đối với HPBS sẽ dẫn đến tình trạng không đảm bảo sự đồng bộ trong việc quy định các trường hợp miễn, giảm hình phạt, không chỉ trong BLHS mà còn cả trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS); đồng thời việc quy định chế định miễn, giảm hình phạt đối với HPBS sẽ khuyến khích, động viên người bị kết án cải tạo tiến bộ, lập công. Vì vậy, BLHS cần thiết quy định các chế định này đối với tất cả các loại HPBS.

Theo chúng tôi, Điều 57 BLHS có thể quy định như sau:

Khoản 1 của Điều luật này vẫn giữ nguyên như quy định hiện tại và bổ sung thêm đoạn 2 với nội dung là:

Đối với người bị phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cư trú hoặc quản chế, tước quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền là HPBS, chưa chấp hành hình phạt mà lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì theo đề nghị của Viện trưởng viện kiểm sát, tòa án có thể quyết đinh miễn toàn bộ hình phạt.

Khoản 5 của Điều luật này sửa đổi như sau: Đối với người bị phạt cấm đảm nhiệm chúc vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú hoặc quản chế, tước quyền công dân nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thì theo đề nghị của cơ quan có trách nhiệm theo dõi thi hành án, tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Đồng thời Khoản 1 Điều 268 BLTTHS cũng cần sửa đổi, bổ sung như sau cho đồng bộ: Người đang chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước quyền công dân, cấm cư trú hoặc quản chế, có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt theo quy định tại các Điều 57, 58, 59 và 76 BLHS; nếu họ chưa chấp hành hình phạt thì có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt theo quy định tại các khoản 1 , 2, 3 và 5 Điều 57 Bộ luật này.

Thứ tư, về việc xóa bỏ Điều 92 quy định các HPBS áp dụng với các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đề nghị xóa bỏ Điều 92 quy định các HPBS áp dụng với các tội xâm phạm an ninh quốc gia xuất phát từ quan điểm là: Các HPBS được quy định trong cùng một luật áp dụng chung đối với tất cả các tội xâm phạm an ninh quốc gia thể hiện sự thiếu tính hợp lý trong cấu trúc của Phần các tội phạm BLHS. Điều luật quy định riêng về hình phạt lại cơ cấu cùng với các quy phạm quy định về tội phạm cụ thể: đồng thời việc HPBS quy định chung cho cả nhóm tội phạm sẽ khó trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt và cũng không thuận tiện cho việc áp dụng của các tòa án. Nên cần quy định có sự phân hóa các HPBS cụ thể trong từng điều luật về tội phạm cụ thể trong Chương XI Phần các tội phạm BLHS, như nhà làm luật đã làm với các chương khác của BLHS.

Thứ năm, việc nhà làm luật quy định các HPBS ở khoản cuối cùng của mỗi điều luật về tội phạm trong Phần các tội phạm BLHS một cách chung chung như hiện nay, dẫn đến có những cách hiểu khác nhau hoặc là hiểu HPBS đó chỉ được áp dụng đối với tội phạm ở khung tăng nặng nhất, hoặc hiểu là được áp dụng đối với mọi trường hợp phạm tội cụ thề, dù ở khung cơ bản hoặc khung tăng nặng nhất. Thông thường người ta hiểu là nó được quy định áp dụng cho tất cả các khung hình phạt trong điều luật về tội phạm ấy. Nếu như vậy thì rõ ràng nhà làm luật đã chưa có sự phân hóa và cá thể hóa đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể, dẫn đến trong thực tiễn áp dụng sẽ có sự không thống nhất, không công bằng. Theo chúng tôi, nhà làm luật nên chăng quy định mức và loại HPBS cụ thể áp dụng với từng khung chế tài trong mỗi điều luật về tội phạm. Ví dụ như đối với Tội cướp tài sản tại Khoản 5 Điêu 133 BLHS quy định theo cách: “ Người phạm tội theo Khoản 1 và 2 của Điều luật này sẽ bị tước quyền công dân từ 1 đến 2 năm. Trong trường hợp phạm tội theo khoản 3 và 4 sẽ bị tước quyền công dân từ 2 đến 5 năm”. Hay như đối với Khoản 3 Điều 88 về Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam quy định như sau: "Người phạm tội bị tước quyền công dân từ 1 năm đến 2 năm. Trong trường hợp phạm tội theo khoản 2 sẽ bị tước quyền công dân từ 2 năm đến 5 năm".

 Thứ sáu, trong các điều luật quy định về hình phạt cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân đều quy định các hình phạt này được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù, do việc quy định không rõ ràng nên có quan điểm là các hình phạt này không chỉ áp dụng với người bị phạt tù có thời hạn mà cả đối với người bị phạt tù chung thân. Về vấn đề này chúng tôi đã khẳng định là các hình phạt này chỉ nên quy định áp dụng đối với người phạm tội bị kết án phạt tù có thời hạn. Với tinh thần đó chúng tôi đề nghị bổ sung thêm cụm từ có thời hạn đằng sau cụm từ người bị kết án phạt tù và cụm từ chấp hành xong hình phạt tù trong những điều luật ở Phần chung BLHS quy định về những hình phạt đó. Nếu trong trường hợp vẫn quy định các HPBS này được áp dụng với người bị phạt tù chung thân thì theo kinh nghiệm của Trung Quốc1, chúng tôi đề nghị quy định cụ thể vào các điều luật quy định về các HPBS cấm cư trú quản chế hoặc tước quyền công dân việc áp dụng cũng như thời hạn của các hình phạt này trong trường hợp chuyển từ tù chung thân sang tù có thời hạn đối với người bị kết án được giảm án theo quy định tại Điều 58 BLHS.

2. Những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về các hình phạt bổ sung cụ thể

2.1. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Thứ nhất, cần sửa đổi Điều 36 BLHS theo hướng xác định rõ nội dung, phạm vi, điều kiện và thời hạn của hình phạt này, cụ thể như sau:

1. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là hình phạt bổ sung không cho phép người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù cho hưởng án treo được đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định, nếu họ đã thực hiện tội phạm bằng việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, nghề nghiệp, công việc nhất định hoặc có liên quan tới chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp hoặc công việc đó.

2. Thời hạn cấm là từ 1 năm đến 5 năm, tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án phạt tù được hưởng án treo.

Thứ hai, trong Phần các tội phạm BLHS cần quy định tùy nghi áp dụng hình phạt này đối với các tội phạm sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104), Tội kinh doanh trái phép (Điều 159), Tội trốn thuế (Điêu 161 ), Tội lừa dối khách hàng (Điều 162), Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 172), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198), Tội vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228), Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250), Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy và Tội chứa mại dâm (Điều 254), Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267). Riêng đối với Tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Điều 128) cần quy định hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định.

Thứ ba, đối với các loại tội phạm do bản chất rất nguy hiểm của chúng, nên cần phải chuyển từ quy định tùy nghi sang dạng quy định bắt buộc áp dụng loại hình phạt này, đó là Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ (Điều 169); các tội phạm về ma túy quy định tại các Điều 193, 194, 195 và 196 .

Thứ tư, nên sửa đổi bổ sung các quy định về hình phạt này đối với các tội phạm sau:

- Với tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125) không chỉ quy định cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định mà còn cấm cả hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

- Với Tội cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu qủa nghiêm trọng (Điều 165) thì ngược lại, chỉ cần quy định cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý kinh tế là đủ chứ không nên cấm làm những công việc nhất định, vì chủ thể thực hiện tội phạm là người có chức vụ quyền hạn trong quản lý kinh tế. Đối với Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 174) cũng nên quy định như vậy có nghĩa là chỉ cần người phạm tội không đảm nhiệm chức vụ nhất định.

- Với lội vi phạm quy định về điều thiên phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202) thì lại không nên quy định cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định mà chỉ cần quy định cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, vì người phạm tội thông thường là những người điều khiến phương tiện giao thông vận tải đường bộ (là nghề của họ hoặc chỉ là công việc tạm thời của họ). Còn đối với Tội làm sai lệnh hồ sơ vụ án (Điều 300) và Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 301) cũng cần quy định đầy đủ các nội dung của hình phạt này, tức là quy định cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm những công việc nhất định.

- Cuối cùng là Khoản 3 của các Điều 169 và 170 cần bổ sung từ nhất định sau cụm từ cấm đảm nhiệm chức và để đảm bảo tính chuẩn xác và thống nhất của loại hình phạt này trong việc quy định nó với các tội phạm khác nhau.

2.2. Tước một số quyền công dân

Thứ nhất, tên gọi của loại hình phạt này cần phải sửa lại cho phù hợp với nội dung của điều luật. Theo chúng tôi, chỉ cần quy định tên của hình phạt là hình phạt tước quyền công dân.

Thứ hai, Điều 39 BLHS nên sửa đổi theo hàng xác định chính xác nội dung, phạm vi và thời hạn áp dụng loại hình phạt này như sau:

1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù có thời hạn về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng khác do lỗi cố ý chỉ trong những trường hợp Bộ luật này quy đinh thì bị tước hoặc có thể bị tước một hoặc một số quyền công dân sau dây:

a) Quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước,

b) Quyền làm việc trong cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang.

2. Thời hạn tước quyền công dân là từ 1 năm đến 5 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn.

Thứ ba,, ngoài Chương XI, cần xem xét quy đinh cụ thể loại hình phạt này đối với một số tội phạm ở các chương khác Phần các tội phạm của BLHS. Theo chúng tôi, đối với những tội phạm mà điều luật về tội phạm đó có quy định hình phạt quản chế, cấm cư trú thì nên quy định cả hình phạt này để tòa án lựa chọn. Đồng thời, đối với các tội phạm xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng cần xem xét quy định loại hình phạt này, như các tội quy định tại Điều 316 đến 318, 322 đến 326, 327 đến 334 Chương XXIII BLHS.

2.3. Cấm cu trú

Thứ nhất, Điều 37 BLHS quy định nội dung của hình phạt cấm cư trú chưa đầy đủ có thể dẫn đến tùy tiện trong việc áp dụng, vì thế cần phải sửa đổi, bổ sung là: Trong thời gian cấm cư trú, người bị kết án không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định phải chịu một số nghĩa vụ bắt buộc khác theo quy định của pháp luật. Chúng tôi cho rằng, các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc người bị kết án cấm cư trú phải thực hiện được quy định trong Nghị định số 53/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/08/2001 về việc hướng dẫn thi hành hình phạt cấm cư trú và quản chế, cần phải được quy định rõ ràng trong Điều 37 BLHS.

Thứ hai, cần xác định rõ phạm vi và điều kiện áp dụng của hình phạt này.

Theo chúng tôi, hình phạt này chỉ nên quy định áp dụng đối với người bị phạt tù có thời hạn về tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, một số tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính các tội phạm về ma túy trong những trường hợp luật có quy định.

Cần mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt này đối với các đối tượng là người tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Như vậy, theo chúng tôi cần thiết mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt này đối với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, mà người phạm tội có nhân thân xấu, phạm tội có tinh chuyên nghiệp, phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm.

2.4. Quản chế

Thứ nhất, Điều 38 BLHS đã có quy định nội dung cơ bản của hình phạt quản chế nhưng vẫn chưa đầy đủ. Theo nguyên tắc pháp chế, hình phạt và toàn bộ nội dung của hình phạt phải được luật quy định, chứ không phải là văn bản dưới luật quy định, vì thế theo quan điểm của chúng tôi, tại điều luật này cần phải bổ sung thêm những nghĩa vụ của người quản chế mà Nghị định số 53/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 về việc hướng dẫn thi hành hình phạt quản chế đã quy định. Nghiên cứu Luật Hình sự (LHS) của nhiều nước như Pháp, Đức, Canada và cả của Trung Quốc đều cho thấy quy định nội dung hình phạt hoặc các biện pháp miễn, giảm hình phạt rất rõ ràng và chi tiết trong BLHS.

Thứ hai, ngoài các tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật cần xem xét mở rộng tối đa phạm vi các tội phạm quy định áp dụng quản chế trong trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đồng thời, cần thiết quy định hình phạt này đối với các tội hiếp dâm (các Điều 111 và 112); các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt quy định tại các Điều 135, 136, 137, 138, 139, 140 trong trường hợp tái phạm nguy hiểm. Còn việc quy định quản chế được áp dụng với các trường hợp khác được Bộ luật quy định chỉ nên hạn chế ở những tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.

Thứ ba, như đã trình bày, khi quyết định hình phạt quản chế thì tòa án đồng thời phải tuyên tước một hoặc một số quyền công dân của bị cáo và cấm bị cáo hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, để tránh hiểu nhầm như đã trình bày ở trên, nên sửa đổi Điều 38 như sau: "... trong thời gian quản chế người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một hoặc một số quyền công dân, quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu vào quan quyền lực nhà nước quyền làm việc trong các quan nhà nước, quyền phục vụ trong lực tương vũ trang nhân dân và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định".

2.5. Trục xuất

Thứ nhất, trong Điều 32 BLHS cần phải quy định cụ thể trục xuất được áp dụng đối với người phạm loại tội nào và nếu là HPBS thì nó được áp dụng kèm theo loại HPC nào, đồng thời cũng phải quy định cụ thể giới hạn của loại hình phạt này. Theo chúng tôi, nên quy định trục xuất với tính chất là HPBS chỉ áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và bị xử phạt tiền, tù có thời hạn hoặc tù chung thân (được giảm thời hạn chấp hành hình phạt theo Điều 58 BLHS). Đồng thời, Điều 32 BIHS cũng cần phải quy định rõ mức thấp nhất và mức cao nhất về mặt thời hạn người bị trục xuất được phép quay trở lại Việt Nam, tùy vào từng loại tội phạm mà nhà làm luật quy định thời hạn từ 5 năm đến 15 năm hoặc vĩnh viễn. Trên cơ sở các quy định tại Điều 32, nhà làm luật cần cân nhắc quy định cụ thể hình phạt trục xuất với tư cách là HPC hoặc là HPBS với các tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm BLHS.

Thứ hai ngoài việc quy định rõ nội dung, điều kiện, phạm vi và thời hạn của hình phạt trục xuất, BLHS nước ta cũng cần phải quy định rõ thời hiệu thi hành án, xóa án tích, miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án trục xuất. Đây là những chế định nhân đạo thể hiện không chỉ trong LHS Việt Nam mà còn trong LHS đa số các nước trên thế giới có quy định loại hình phạt này.

2.6. Phạt tiền

Thứ nhất, cần sửa đổi Điều 30 BLHS theo hướng xác định rõ nội dung, phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt tiền, mức tối thiếu của hình phạt tiền bổ sung cũng như biện pháp cưỡng chế trong trường hợp người bị kết án cố tình không chịu nộp tiền phạt, cụ thể như sau:

1. …...

2. Phạt tiền là hình phạt tước một khoản tiền nhất định của người bị kết án cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, chung thân hoặc tử hình về các tội xâm phạm sờ hữu, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm trật tự công cộng các tội phạm tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy đinh.

3. Mức phạt tối thiểu của hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính là 05 triệu đồng; mức phạt tối thiểu của hình phạt tiền bổ sung là 03 triệu đồng.

Mức phạt tiền được quyết định tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả.

5. Trong trường hợp người bị kết án cố tình không nộp tiền phạt thì bị Tòa án quyết đinh chuyển hình phạt tiền sang hình phạt tù có thời hạn có mức tối thiểu là ... tháng, mức tối đa là . . . năm (về cách chuyển đổi mức tiền phạt sang thời hạn của hình phạt tù như thế nào sẽ do BLTTHS quy định).

Thứ hai, cần mở rộng hơn nữa phạm vi các tội phạm được áp dụng hình phạt tiền với tinh chất HPBS, nhằm đáp ứng kịp thời tình hình diễn biến của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tăng cường hình phạt tiền cũng là một đòi hỏi được Bộ Chính trị đặt ra trong Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Chúng tôi cho rằng, hình phạt này không chỉ quy định áp dụng đối với các loại tội phạm gây thiệt hại về vật chất, như: các tội xâm phạm sở hữu; các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế các tội phạm về môi trường; các tội xâm phạm trật tự công cộng; các tội phạm tham nhũng, ma túy, mà cần thiết quy định hình phạt này đối với cả các loại tội phạm khác gây thiệt hại về chính trị hoặc tinh thần.

Đối với các tội phạm cụ thể mà điều luật về tội phạm ấy đã có quy định phạt tiền là HPC, nhà làm luật cũng cần phải quy định phạt tiền là HPBS khi không áp dụng là HPC.

Thứ ba, giảm bớt số chế tài về HPBS mà trong đó phạt tiền được quy định là HPBS không bắt buộc. Nên có quy định phạt tiền là HPBS bắt buộc, nhất là đối với các tội có tính chất vụ lợi, các tội tham nhũng, các tội có dùng tiền làm phương tiện hoạt động.

Thứ tư, đối với hình phạt tiền bổ sung cần quy định mức phạt tiền thấp hơn mức phạt tiền tại khung chế tài được quy định là HPC, đồng thời xem xét thu hẹp khoảng cách tối thiểu và tối đa của mức phạt tiền đối với một số tội để đảm bảo sự phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) và cá thế hóa hình phạt được chính xác.

Thứ năm, BLHS cần mở rộng khả năng áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt tiền hoặc giảm mức hình phạt tiền (cả với tư cách là HPC và HPBS) đối với những trường hợp thực tế không có khả năng thi hành hoặc có nhiều tình tiết giảm nhẹ đáng kể.

2.7. Tịch thu tài sản

Thứ nhất, cần phải xác định cụ thể và chính xác nội dung, điều kiện và phạm vi của hình phạt này trong Điều 40 BLHS.

Điều 40 BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau: Tịch thu tài sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người bị kết án sung công quỹ nhà nước. Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình về tội rất nghiêm trọng, hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý và chỉ trong những trường hợp Bộ luật này quy định.

Khi tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án và gia định họ những tài sản thiết yếu để sinh sống.

Thứ hai, không nên quy định có tính chất bắt buộc áp dụng hình phạt này đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140). Nếu vẫn quy định có tính chất bắt buộc áp dụng thì Khoản 5 của Điều 140 sửa lại như sau: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này, có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Thứ ba,  Khoản 5 Điều 250 BLHS cũng cần phải sửa lại là: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Không cần thiết quy định thêm đoạn “hoặc một trong hai hình phạt này”.

Thứ tư, nên mở rộng diện áp dụng Điều 40 theo hướng tịch thu tài sản là có tính chất bắt buộc đối với một số nhóm tội cụ thể, nhất là nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, nhóm tội về tham nhũng ma túy.

 
   

 


 


1 Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa (Đinh Bích Hà dịch và giới thiệu), Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2007.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi