Phương hướng xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Nam

Nguyễn Văn Quảng*

 

 

 

1 Đặt vấn đề

 

Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 đặt ra một yêu cầu cải cách về thủ tục tố tụng hình sự, đó là: xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định. Đây là một yêu cầu mới về cải cách thủ tục xét xử trong tố tụng hình sự nước ta. Bởi vì, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 (BLTTHS): việc xét xử các vụ án áp dụng theo thủ tục rút gọn và các vụ án giải quyết theo thủ tục chung chỉ khác nhau về thời hạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà kiểm sát viên đọc quyết định truy tố thay cho việc đọc các trạng, còn các thủ tục khác của trình tự xét xử vẫn giống như thủ tục chung.

 

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu phải xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án khi đủ các điều kiện nhất định là một yêu cầu mang tính khách quan, bởi lẽ:

 

Thứ nhất, theo quy định của BLTTHS 2003, thủ tục rút gọn được tập trung thể hiện trong giai đoạn điều tra, các vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn do viện kiểm sát quyết định từ khi khởi tố vụ án toà án không có thẩm quyền quyết định việc xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn khi thấy đủ điều kiện. Như vậy, quy định của BLTTHS là hạn chế vai trò của toà án trong việc quyết định áp dụng thủ tục tố tụng ở giai đoạn xét xử để giải quyết vụ án.

 

Thứ hai, các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án được xác định từ giai đoạn điều tra và điều kiện này áp dụng cho đến giai đoạn xét xử. Trong khi nhiều vụ án không được áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn điều tra, truy tố nhưng khi kết thúc việc điều tra, truy tố thì hành vi phạm tội và người phạm tội đã có đầy đủ chứng cứ chứng minh một cách rõ ràng nên hoàn toàn có thể giải quyết vụ án bằng thủ tục rút gọn ở giai đoạn xét xử để giải quyết nhanh chóng vụ án. Nhưng vấn đề này chưa được BLTTHS 2003 quy định.

 

Thứ ba, trình tự xét xử các vụ án theo thủ tục rút gọn được quy định trong BLTTHS 2003 giống như thủ tục xét xử thông thường phải thực hiện đầy đủ các quy định tại Chương XX. Điều này không phù hợp với thực tiễn xét xử các vụ án đơn giản chứng cứ rõ ràng, bị can nhận tội. Và khi đó, các trình tự xét hỏi, tranh luận đối với các vụ án như vậy chỉ là hình thức.

 

Thứ tư, theo quy định của BLTTHHS hiện hành thì chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn ở trình tự xét xử sơ thẩm, không giải quyết theo thủ tục này ở cấp phúc thẩm. Trong khi có số lượng lớn các vụ án phúc thẩm có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt rất đơn giản nhưng vẫn phải trải qua một trình tự xét xử phúc thẩm phức tạp kéo dài là không phù hợp với thực tiễn tố tụng của nước ta. Đây cũng là nguyên nhân làm cho lượng án tồn đọng ở cấp phúc thẩm tăng cao.

 

Thứ năm, nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thủ tục rút ngắn trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đến trước năm 1988  cho thấy, đã có những quy định rất cụ thể về việc xét xử theo thủ tục rút gọn ở các trình tự sơ thẩm và phúc thẩm như: Thông tư số 10 ngày 08/7/1974, Thông tư số 19 ngày 21/10/1974 của toà án nhân dân tối cao1.

 

Thứ sáu, nghiên cứu so sánh với tố tụng hình sự các nước trên thế giới và khu vực cho thấy, thủ tục rút gọn của các nước chủ yếu tập trung ở giai đoạn xét xử với các trình tự hết sức đơn giản như xét xử bằng một thẩm phán; giản lược tối đa các trình tự, thủ tục so với thủ tục thông thường; việc quyết định hình phạt theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo...2.

 

Từ những lý do trên cho thấy, cần phải nghiên cứu để xác định phương hướng xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn trong BLTTHS Việt Nam nhằm đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và cải cách tư pháp của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

 

"Cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn " đặt ra yêu cầu phải có những trình tự, thủ tục đặc biệt cả về nội dung và hình thức tố tụng. Trình tự, thủ tục này phải vừa bảo đảm tính chặt chẽ, khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản của bị cáo và người tham gia tố tụng khác, nhưng phải nhanh gọn, giản lược và khắc phục được tình trạng kéo dài các vụ án, dẫn đến tình trạng tồn đọng án, gây lãng phí về thời gian, vật lực của Nhà nước như hiện nay. Đồng thời, cơ chế xét xứ theo thủ tục rút gọn cũng phải thể hiện tính kế thừa những ưu điểm của lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam cũng như tiếp thu các tiến bộ của tố tụng hình sự của các nước trên thế giới và khu vực. Xét về bản chất, thủ tục rút gọn là một trình tự tố tụng đặc biệt so với thủ tục chung. Sự đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ: Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng để giải quyết vụ án hình sự khi có đủ những điều kiện nhất định do cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng trong một phạm vi của quá trình tố tụng hình sự; là hình thức tố tụng được rút ngắn về thời gian và giản lược về trình tự.

 

Tuy nhiên, theo quy định của BLTTHS 2003, trong giai đoạn xét xử, thủ tục rút gọn không có sự khác biệt lớn so với thủ tục chung (ngoại trừ thời hạn chuẩn bị xét xử). Do đó: để xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ điêu kiện theo yêu cầu cải cách tư pháp, cần xác định rõ những nội dung cơ bản là: Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử, thẩm quyền quyết định việc áp dụng thủ tục rút gọn, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, trình tự thủ tục xét xử rút gọn (hình thức xét xử, thành phần hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng.. ); vấn đề quyết định hình phạt trong thủ tục rút gọn.

 

2. Phương hướng xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn

 

2.1. Về phạm vi và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử

 

BLTTHS 2003 quy định: "Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử" (Điều 20). Tuy nhiên, Bộ luật này chỉ xác định phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử sơ thẩm không cho phép áp dụng thủ tục này ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Đây là vấn đề không hợp lý của BLTTHS 2003, bởi lẽ không có cơ sở lý luận và thực tiễn để khẳng định thủ tục rút gọn chỉ có thể áp dụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm mà không áp dụng được ở trình tự xét xử phúc thẩm. Ngược lại, qua nghiên cứu cho thấy có đủ cơ sở để xác định ở giai đoạn phúc thẩm có thể (và cần thiết) áp dụng thủ tục rút gọn, bởi vì:

 

Thứ nhất, mục đích và nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội. Xét xử phúc thẩm là một trình tự tố tụng thuộc vào giai đoạn của quá trình xử lý tội phạm vì vậy cũng phải thực hiện mục đích xử lý kịp thời các hành vi phạm tội đã được điều tra truy tố, xét xử sơ thẩm để sớm đưa ra một bản án có hiệu lực pháp luật nhằm khôi phục các quan hệ xã hội bị xâm hại và xử lý người có hành vi phạm tội. Bản chất của trình tự xét xử phúc thẩm là xem xét lại vụ án trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị. Thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy nhiều vụ án sơ thẩm bị kháng cáo có thể giải quyết rất nhanh chóng bởi một trình tự đặc biệt mà không cần phải giải quyết theo thủ tục thông thường. Đó là các vụ án đơn giản, chứng cứ đã rõ ràng, bị cáo nhận tội ở giai đoạn sơ thẩm phù hợp với các chứng cứ đã được xác định tại phiên toà sơ thẩm bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Những vụ án này chỉ cần nghiên cứu hồ sơ, xét nội dung kháng cáo và có thể quyết định ngay mà không cần mở phiên toà phúc thẩm với đầy đủ các thành phần người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các trình tự tố tụng phúc thấm như quy định của BLTTHS 2003 (nhiều phiên toà phúc thẩm đã phải hoãn đi hoãn lại do sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng gây lãng phí rất lớn cho Nhà nước, người dân, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án).

 

Thứ hai, lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam đã có những quy định cho phép áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn xét xử phúc thẩm (Thông tư số 19/TATC ngày 12/10 1974 của Toà án nhân dân tối cao). Điều này cho thấy, thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam hoàn toàn có khả năng áp dụng thủ tục rút gọn ở phạm vi phúc thẩm.

 

Thứ ba, so sánh với luật tố tụng hình sự các nước trên thế giới cho thấy, thủ tục rút gọn được áp dụng khá phổ biến ở các nước có hệ thống tố tụng khác nhau như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản … , trong đó thủ tục này được tập trung áp dụng cả ở trình tự xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Do đó, việc nghiên cứu tiếp thu những nhân tố hợp lý của tố tụng hình sự các nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là cần thiết và có tính khả thi trong điều kiện chúng ta đang hội nhập sâu, rộng vào đời sống pháp luật quốc tế. Từ những lý do trên cho thấy, việc mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn ở cả trình tự xét xử phúc thẩm là cần thiết và có đầy đủ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn. Vấn đề đặt ra là cần xác định rõ các điều kiện, cũng như trình tự xét xử phúc thẩm rút gọn để làm căn cứ áp dụng thủ tục này.

 

Thực tiễn xét xử có rất nhiều vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố không đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn như: khó khăn trong việc xác minh, thu thập tài liệu về nhân thân bị can, bị cáo; chờ kết quả giám định hoặc định giá tài sản; ban đầu bị can chối tội, sau đó lại nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác; kết quả điều tra và truy tố cho thấy hành vi phạm tội và các tình tiết của vụ án đã được chứng minh đầy đủ, rõ ràng... Vì vậy, đến giai đoạn xét xử, vụ án trở nên đơn giản, chứng cứ rõ ràng, đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết nhanh chóng vụ án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không cho phép tòa án có thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn nên vụ án vẫn phải giải quyết theo thủ tục chung gây ra sự tốn kém, lãng phí, kéo dài thời gian xét xử vụ án, gây tồn đọng án. Chính vì vậy, theo chúng tôi cần có quy định cho phép tòa án quyết định việc xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án khi có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn mà trong giai đoạn điều tra truy tố chưa quyết định áp dụng thủ tục này. Trong đó có thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn xét xử phúc thẩm.

 

2.2. Việc xét xử rút gọn ở giai đoạn sơ thẩm

 

Điều kiện và trình tự để toà án áp dụng thủ tục rút gọn ớ giai đoạn thẩm: Về cơ bản, các điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm phải thể hiện được tính chất của tội phạm và sự đơn giản, rõ ràng của hành vi phạm tội, sự đầy đủ của chứng cứ kết tội; không có sự phản đối hay khiếu nại của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Do đó điều kiện để toà án áp dụng thủ tục rút gọn cần đáp ứng các yêu cầu sau:

 

Thứ nhất: Là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng;

 

Thú hai: Hành vi phạm tội đơn giản, chứng cứ đầy đủ và rõ ràng,

 

Thứ ba: Bị cáo nhận tội phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

 

Những điều kiện trên thể hiện rõ ở kết quả điều tra, truy tố. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được thẩm phán ban hành trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.

 

Một điều kiện khác như đã nêu ở trên là, sau khi ban hành quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, viện kiểm sát cung cấp đồng ý và bị cáo không có khiếu nại. (Đây có thể coi là điều kiện thứ tư của việc xét xử theo thủ tục rút gọn). Thực hiện thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử sẽ giản lược đi rất nhiều trình tự, thủ tục tại phiên tòa như: không có việc xét hỏi kéo dài, không có tranh tụng, không có việc nghị án (nếu áp dụng hình thức xét xử một thẩm phán) và kèm theo đó là nội dung quyết định hình phạt cũng rất ngắn gọn, thay thế cho việc ra bản án. Nếu thực hiện được vấn đề này sẽ là một bước cải cách thủ tục tố tụng tư pháp quan trọng có nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.

 

Về trình tự ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của tòa án.

 

Giống như trong giai đoạn điều tra, nếu xét thấy có đủ điều kiện, thẩm phán được phân công xét xử vụ án ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn gửi cho viện kiểm sát và bị cáo. Nếu viện kiểm sát đồng ý với quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của tòa án thì tại phiên tòa, kiểm sát viên chỉ trình bày quyết định truy tố thay cho việc trình bày bản cáo trạng (hoặc trình bày bản cáo trạng tóm tắt). Khi toà án tống đạt quyết định áp dụng thủ tục rút gọn cho bị cáo cũng cần giải thích rõ quyền và nghĩa vụ, lợi ích bị cáo được hưởng khi áp dụng thủ tục này (trong đó có lợi ích được hưởng việc giảm nhẹ hình phạt), nếu bị cáo khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì việc giải quyết theo quy định của Điều 331 BLTTHS năm 2003, nhưng thời hạn giải quyết chỉ là 3 ngày. Theo chúng tôi, khi bị cáo đã được giải thích rõ quyền lợi khi áp dụng thủ tục rút gọn mà việc khiếu nại đó có cơ sở (như bị cáo cho rằng phải triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng có hội thẩm nhân dân...) thì cần giải quyết vụ án theo thủ tục chung (khi đó tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn).

 

Việc xét xử với hội đồng gồm một thẩm phán và các thành phần tham gia phiên toà thẩm:

 

Bản chất của vụ án được áp dụng thủ tục rút gọn là đơn giản, chứng cứ rõ ràng. Mục đích của thủ tục rút gọn là nhằm giải quyết nhanh chóng các loại án đơn giản, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí của cả Nhà nước và đương sự. Do vậy, việc xét xử theo thủ tục rút gọn thay vì một hội đồng (gồm một thẩm phán và hai hội thâm nhân dân) thì chỉ cần một thẩm phán. Do vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng nên khả năng xảy ra oan, sai rất nhỏ. Mặt khác, pháp luật tố tụng nước ta còn có thủ tục xét xử phúc thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị và trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm để xét lại các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy việc xét xử theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn và mục đích của thủ tục rút gọn, tiết kiệm thời gian công sức, chi phí của cả Nhà nước và đương sự. Tuy nhiên, Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định: "Việc xét xử của toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân, của toà án quân sự có hội thẩrn quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán" (Điều 129 Hiến pháp 1992 sửa đổi); toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 131 Hiến pháp 1992 sửa đổi). Đây cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta, vì vậy có ý kiến cho rằng, việc xét xử do một thẩm phán tiến hành vừa vi phạm Hiến pháp vừa trái với bản chất dân chủ của tố tụng hình sự nước ta.

 

Đây chính là vấn đề vướng mắc nhất khi xây dựng BLTTHS năm 2003. Trong đề án "Những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 về tổ chức bộ máy nhà nước" ngày 05.01.2001 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có đề xuất: "Bổ sung quy định về việc cho phép xét xử theo thủ tục rút gọn. Việc bổ sung này nhằm thể hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá VIII), cụ thể là đối với các vụ án ít nghiêm trọng và có tình tiết đơn giản, rõ ràng thì có thể do một thẩm phán xử xử . Tuy nhiên, đề xuất này đã không được Quốc hội tiếp thu khi sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992. Từ góc độ lý luận và thực tiễn chúng tôi cho rằng việc xét xử theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành không hề trái với bản chất dân chủ của nước ta. Chúng ta không thể căn cứ vào một hành vi tố tụng hoặc một giai đoạn tố tụng mà có thể đánh giá được hình thức tố tụng đó là dân chủ hay không dân chủ. Việc đánh giá tính ưu việt, tiến bộ, dân chủ cần phải được xem xét một cách toàn diện của cả quá trình tố tụng. Việc xét xử theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành cũng vậy. Dù là một thẩm phán xét xử thì hoạt động xét xử đó vẫn được giám sát chặt chẽ của viện kiểm sát thông qua kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà và kiểm sát hoạt động xét xử. Mặt khác, việc xét xử vẫn được thực hiện theo nguyên tắc công khai, vẫn bảo đảm được sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử. Điểm đặc biệt quan trọng nữa là, kết quả của việc xét xử này sẽ dẫn đến hai hệ quả:

 

Thứ nhất, nếu vụ án không có kháng cáo, kháng nghị có nghĩa là bản án đã được xét xử một cách công bằng chính xác, khi đó quyền và lợi ích của công dân và của Nhà nước đều được bảo đảm các quan hệ xã hội do tội phạm xâm hại được trả lại trạng thái ổn định. Ở bình diện này, mục đích dân chủ đã được bảo đảm;

 

Thứ hai, nếu vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì vụ án sẽ được giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo quy trình tố tụng chung. Khi đó các cơ hội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước xã hội vẫn còn nguyên giá trị. Ở bình diện này, mục đích dân chủ cũng vẫn được bảo đảm.

 

Do vậy chúng tôi cho rằng, việc xét xử theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành là đủ vì thực tiễn đã cho thấy vai trò của hội thẩm nhân dân trong các vụ án rút gọn là không cần thiết. Như vậy thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành vừa đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, vừa tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức vừa không trái với bản chất dân chủ của chế độ ta. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Hiến pháp trong trường hợp này là hoàn toàn cần thiết, mở đường cho các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

 

Về sự có mặt của những thành viên khác tại phiên toà (kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người bị hại...):

 

Sự tham gia của kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà và bị cáo là bắt buộc. Bởi họ là các nhân vật trung tâm của vụ án, nếu không có bên buộc tội và bên bị buộc tội thì sẽ không thể có vụ án hình sự. Người bào chữa có thể không cần dự phiên toà, nhưng có thể gửi trước bản bào chữa tới phiên toà (nếu có người bào chữa, nhưng thực tế cho thấy các vụ án rút gọn trong thời gian qua không có người bào chữa tham gia). Việc tham dự phiên toà đối với người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp cho họ nên quy định theo hướng không bắt buộc. Riêng đổi với trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì cần bắt buộc phải có mặt của người bị hại, trừ trường hợp người bị hại vắng mặt có lý do chính đáng.

 

Về thủ tục tố tụng tại phiên toà sơ thẩm:

 

Qua nghiên cứu và tham khảo kinh nghiệm của các nước cho thấy, thủ tục tố tụng tại phiên toà cũng nên giản lược theo hướng sau: thủ tục bắt đầu phiên toà, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố đọc quyết định truy tố bị cáo ra trước toà. Nếu bị cáo chấp nhận toàn bộ chứng cứ và lời buộc tội của viện kiểm sát thì toà án sau khi nghe quan điểm của kiểm sát viên về việc đề xuất mức án, có thể cho bị cáo nói lời sau cùng và ra quyết định áp dụng hình phạt ngay mà không cần phải thực hiện các trình tự thẩm vấn, luận tội và tranh luận, quyết định của thẩm phán có giá trị như bản án sơ thẩm. Trong trường hợp bị cáo phản đối, không chấp nhận chứng cứ thì toà án tiến hành xét xử như thủ tục thông thường (có giai đoạn xét hỏi, luận tội và tranh luận). Kết thúc tranh luận thẩm phán xem xét đầy đủ các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà và ra một trong những quyết định như: xét xử sơ thẩm các vụ án được tiến hành theo thủ tục chung. Quy định như vậy vẫn bảo đảm được tính chặt chẽ trong thủ tục xét xử, đảm bảo các nguyên tắc của tố tụng và quyền lợi của bị cáo, vừa phù hợp với thực tiễn và tạo sự linh hoạt trong hoạt động xét xử. Để đảm bảo chặt chẽ hơn, nêu tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn mà phát sinh những tình tiết phức tạp thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền hoãn phiên tòa để huỷ bỏ quyết định xét xử theo thủ tục rút gọn và tiến hành các bước như thủ tục chung (lập hội đồng xét xử có hội thẩm nhân dân, triệu tập người làm chứng, người bị hại... và phiên tòa sẽ mở với các bước đầy đủ).

 

2.3. Việc xét xử rút gọn trong giai đoạn phúc thẩm

 

Điều kiện và trình tự áp dụng thủ tục rút gọn giai đoạn phúc thẩm:

 

Lịch sử tố tụng hình sự của nước ta cũng đã quy định áp dụng thủ tục rút ngắn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 của toà án nhân dân tối cao quy định điều kiện và trình tự của thủ tục xét xử rút ngắn ở cấp phúc thẩm như sau: “a. Bị cáo đã nhận tội trước Toà án nhân dân cấp thẩm, y kháng cáo không phải để kêu oan mà chỉ để xin khoan hồng, giảm án; b. Những người khác tham gia tố tụng cũng không kháng cáo; c. Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị, d, Vụ án đã rõ ràng chứng cứ đầy đủ; đ. Hội đồng xử án qua nghiên cúu hồ sơ; hoàn toàn nhất trí là bản án thẩm hoàn toàn đúng, hoặc có thể giảm nhẹ hình phạt một phần, lý do giám án cũng đã rõ ràng; e. Vụ án không thuộc loại quan trọng; g. Bị cáo đã được xét xử có mặt cấp thẩm; h. Viện kiêm sát nhân dân cũng đồng ý là không cần gọi bị cáo”. Tòa án phúc thẩm chỉ báo cho bị cáo có kháng cáo biết ngày, giờ, địa điểm phiên tòa; bị cáo có thể đến nhưng không bắt buộc, bị cáo (tại ngoại hoặc đang bị tạm giam) có quyền gửi cho tòa phúc thẩm đơn trình bày thêm lý lẽ về việc kháng cáo. Khi định lịch phiên tòa cần tính thời gian sao cho phù hợp. Bình thường, 15 ngày sau khi gửi giấy báo là có thể mở phiên tòa. Nếu bị cáo đến, y có quyền trình bày thêm tại phiên tòa. Nếu bị cáo không đến, sự vắng mặt của y không làm trở ngại cho việc xét xử và y không có quyền chống án vắng mặt. Toà án phúc thẩm có thể y án, có thể giảm án. Nếu tại phiên tòa xét xử vắng mặt bị cáo gặp trường hợp cá biệt xét thấy có khá năng phải tăng hình phạt thì tòa án cấp phúc thẩm phải hoàn phiên tòa để xét xử lại một lần khác theo thủ tục thông thường ". Quy định như trên của Thông tư 19 là khá chặt chẽ và cơ bản còn nguyên giá trị để xem xét áp dụng vào thực tiễn hiện nay (chỉ khác là tòa phúc thẩm hiện nay không được phép tăng hình phạt đối với bị cáo khi không có kháng cáo, kháng nghị tăng hình phạt, đối với những vụ án như vậy thì không đủ điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử phúc thẩm).

 

Tiếp thu những kinh nghiệm trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời nghiên cứu về thủ tục tổ chức phiên họp trong tố tụng dân sự, cần quy định thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đối với các vụ án thỏa mãn các điều kiện sau:

 

- Bị cáo có mặt và đã nhận tội trước toà án cấp sơ thẩm;

 

- Bị cáo kháng cáo chỉ để xin khoan hồng, giảm án, giảm mức bồi thường; viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị; những người có quyền kháng cáo khác không kháng cáo;

 

- Vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng;

 

- Chứng cứ đầy đủ, rõ ràng;

 

- Trình tự xét xử sơ thẩm đảm bảo đúng quy định của tố tụng hình sự có sự thống nhất bằng văn bản của viện kiểm sát cùng cấp.

 

Sau khi nghiên cứu hồ sơ phúc thẩm, nếu thấy vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn thẩm phán được phân công ra quyết định xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn. Việc xét xử phúc thẩm các vụ án theo thủ tục rút gọn chỉ cần một thẩm phán mà không cần phải có một hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán như thủ tục chung. Bởi vì trong thủ tục này, với các điều kiện đã xác định ở trên sẽ không có việc bị cáo kêu oan, tính chất của nó chỉ là xem xét việc giảm mức hình phạt, mức bồi thường.

 

Về người tham gia phiên toà phúc thẩm:

 

Không cần phải triệu tập bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà (trừ trường hợp bị cáo có đề nghị hoặc tòa án thấy cần thiết, như cách quy định của Thông tư số 1 9/TATC ngày 02/10 /1974 của Tòa án tối cao như đã nêu ở trên). Sự tham gia phiên toà xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn của đại diện viện kiểm sát nhân dân là bắt buộc. Bởi vì trong điều kiện chỉ xét xử theo bút lục, không có sự tham gia phiên toà của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thì việc tham gia phiên toà của đại diện viện kiểm sát là một yếu tố tăng cường tính khách quan, thận trọng.

 

Về thời hạn xét xử phúc thẩm:

 

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn cần được rút ngắn chỉ bằng 1/3 thời hạn theo thủ tục chung quy định tại Điều 242 BLTTHS 2003, cụ thể là: Tòa án cấp tỉnh, cấp quân khu phải mở phiên tòa trong thời hạn 20 ngày; Tòa phúc thẩm Tòa án tối cao; Tòa án quân sự Trung ương phải mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án (trong đó thời hạn để viện kiểm sát phúc thẩm nghiên cứu hồ sơ là 5 ngày). Bởi vì nội dung xét xử phúc thẩm các vụ án có các điều kiện nêu trên thường không phải xem xét về chứng cứ mà chủ yếu là xem xét về đường lối xử lý (có giảm nhẹ mức hình phạt, mức bồi thường hay giữ nguyên như án sơ thẩm), không mất thời gian triệu tập bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà (trừ trường hợp toà án xét thấy cần thiết).

 

Về thủ tục tại phiên tòa phúc thâm:

 

Thẩm phán khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, thư ký báo cáo về sự có mặt của những người tham gia phiên tòa (nếu có). Sau đó, thẩm phán tóm tắt nội dung vụ án và nội dung kháng cáo; xét hỏi người tham gia tố tụng (nếu có nêu những tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ (xem xét các bút lục) để xác định nội dung kháng cáo có căn cứ hay không có căn cứ (chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo); kiểm sát viên nêu quan điểm của viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo; thẩm phán xem xét quyết định chấp nhận hay không chấp nhận nội dung kháng cáo và ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung quyết định phúc thẩm nêu rõ lý do, căn cứ của việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo và quyết định phúc thẩm có hiệu lực ngay.

 

2.4. Vấn đề giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được xét xử theo thủ tục rút gọn

 

Qua nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của các nước và thực tiễn pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho thấy, các nước theo mô hình tố tụng Anh - Mỹ thiên về tố tụng tranh tụng và luôn đề cao mục đích ổn định quan hệ xã hội thông qua xét xử. Trong khi đó, các nước theo mô hình tố tụng châu âu lục địa và các nước xã hội chủ nghĩa trước kia lại thiên về tố tụng xét hỏi và đề cao yêu cầu xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, đồng thời không để lọt tội phạm. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay các hệ thống pháp luật này có xu hướng xích lại gần nhau, kế thừa và tiếp nhận những ưu việt của nhau hình thành nên những mô hình tố tụng đan xen, pha trộn. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, về căn bản mô hình tố tụng của chúng ta là tố tụng xét hỏi, nhưng trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang từng bước đề cao tố tụng tranh tụng, coi kết quả tranh tụng tại phiên toà là căn cứ để toà án ra quyết định, bản án. Mục đích của tố tụng hình sự không chỉ là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật mà quan trọng hơn là ổn định được các quan hệ xã hội, vừa bảo đảm được các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng, vừa bảo vệ được các giá trị xã hội, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, và mục tiêu cao hơn là giáo dục, cải tạo con người. Chính vì vậy, tố tụng hình sự nhiều nước trên thế giới có những quy định để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (hình phạt) đối với bị cáo được xét xử theo thủ tục rút gọn như Luật Tố tụng Hình sự của Liên bang Nga.

 

Do đó, chúng tôi cho rằng việc quyết định hình phạt trong thủ tục rút gọn cũng nên đi theo hướng này. Thủ tục rút gọn ra đời nhằm mục đích giảm tải công việc của cơ quan tố tụng, giải quyết nhanh chóng những loại án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, sớm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị xâm hại, là thủ tục có tác động giáo dục, cải tạo bị cáo và giáo dục cộng đồng một cách có hiệu quả. Như vậy, thủ tục rút gọn có lợi cho cả Nhà nước và công dân, việc giảm nhẹ hình phạt đối với bị can, bị cáo lựa chọn hình thức thủ tục rút gọn là một giải pháp cần thiết thúc đẩy việc áp dụng thủ tục này nhằm giải quyết nhanh chóng một lượng án khá lớn và quan trọng hơn là sớm ổn định được các quan hệ xã hội thông qua tố tụng. Đối với bị cáo thì đây thực sự là sự khoan hồng của Nhà nước đối với sự "cộng tác tích cực" của họ, đối với Nhà nước sẽ giảm được một lượng chi phí, nhân lực và thời gian đáng kể cho việc giải quyết các vụ án đơn giản.

 

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, họ không chỉ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo lựa chọn hình thức thủ tục rút gọn, nhiều nước như Hoa Kỳ, Đức, Italia... còn có hình thức mặc cả thú tội, mặc cả giảm nhẹ hình phạt, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhìn trên phương diện bình đẳng trong tố tụng hình sự thì hình thức này có vẻ không công bằng, song nhìn trên bình diện tổng thể thì hình thức này mang lại lợi ích to lớn, đáp ứng được yêu cầu của tất cả các bên liên quan. Chẳng hạn: một người có hành vi vi phạm pháp luật môi trường đủ điều kiện cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, qua mặc cả thú tội họ thừa nhận hành vi phạm pháp, chấp nhận bồi thường cho các bên liên quan và nộp vào ngân sách nhà nước một khoản tiền phạt nhất định thì họ có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Cách giải quyết này sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho các bên liên quan và cả Nhà nước, cộng đồng.

 

Chính vì các lẽ đó, chúng tôi đề xuất, cần có những quy định cụ thể về việc quyết định hình phạt theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi áp dụng thủ tục rút gọn như cách quy định của BLTTHS Liên bang Nga (mức án áp dụng đối với bị cáo bằng 2/3 mức án áp dụng so với thủ tục thông thường).

 

 
 

 


*ThS., Phó Viện trường Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hải Phòng.

 

1 Xem: Hệ thống hoá luật lệ về tố tụng hình sự - Toà án nhân dân tối cao, 1976, Xí nghiệp in Hà Tây.

 

2 Xem: Nguyễn Văn Quảng, So sánh thủ tụcc tố tụng rút gọn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2010.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi