Những yếu tố giúp Kiểm sát viên thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự

Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị khẳng định: "Khi xét xử, các Toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định". Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nêu rõ: "Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp".

 Trong thời gian qua, việc thực hành quyền công tố tại phiên toà và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả đáng kể, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền tự do, dân chủ của công dân. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tế thì hoạt động của Viện kiểm sát trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Một trong những nguyên nhân là do chính sách hình sự, các quy định pháp luật về tố tụng hình sự có nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung, năng lực của Kiểm sát viên chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp…

Để góp phần nhận thức và thực hiện đúng đắn, đầy đủ quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, cần nghiên cứu đánh giá về thực trạng tranh tụng của Kiểm sát viên tại các phiên toà sơ thẩm hình sự trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp; trong phạm vi bài viết, xin nêu một số yếu tố giúp Kiểm sát viên thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.

Với yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay thì thực hiện tốt việc tranh tụng có ý nghĩa quan trọng, tuy nhiên, có lúc, có nơi việc tranh tụng tại phiên toà còn có những hạn chế nhất định. Theo quan điểm của phần lớn các nhà nghiên cứu luật học ở Việt Nam thì tranh tụng dân chủ tại phiên toà là quá trình thẩm định, đánh giá công khai tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án để khẳng định độ tin cậy, nhằm xác định đầy đủ, chính xác, toàn diện sự thật khách quan của vụ án. Việc tranh tụng thể hiện ngay ở giai đoạn xét hỏi, người tiến hành tố tụng và người bào chữa có quyền hỏi, những người tham gia tố tụng có quyền trả lời, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, đề nghị. Trong thực tiễn hoạt động xét xử có nhiều lúc và ở nhiều nơi, việc xét hỏi, tranh luận tại phiên toà còn có những hạn chế nhất định làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử vụ án. Đối với Viện kiểm sát, một thực tế không thể không lưu ý là có nhiều Kiểm sát viên chưa chủ động, chưa tích cực và chưa làm hết trách nhiệm trong việc tranh luận với các chủ thể tham gia tố tụng nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Nhiều Kiểm sát viên chỉ hỏi thêm khi nào muốn. Khi tranh luận, nhiều Kiểm sát viên chưa chủ động, thiếu tích cực, thậm chí không tranh luận mà chỉ đối đáp theo cách giữ nguyên quan điểm truy tố thể hiện trong bản cáo trạng, và có nơi Kiểm sát viên xem việc xét xử tại phiên toà hoàn toàn thuộc quyền và trách nhiệm của Toà án mà quên đi trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động chứng minh tội phạm, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân.

Đứng trước thực trạng trên và để đáp ứng với yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, đòi hỏi khi thực hành quyền công tố tại phiên toà, Kiểm sát viên phải thật sự tích cực và chủ động trong việc xét hỏi và tranh luận với các bên tham gia tố tụng. Kiểm sát viên phải thông qua các hoạt động xét hỏi, đối đáp, tranh luận mà bảo vệ các quan điểm truy tố của Viện kiểm sát tại phiên toà. Kiểm sát viên phải thật sự tích cực, chủ động trong việc chứng minh, luận giải cho các quan điểm được thể hiện trong cáo trạng. Bản chất của việc xét hỏi, đối đáp, tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà là hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên. Thực tiễn hoạt động xét xử cho thấy Kiểm sát viên chưa làm tốt trách nhiệm nêu trên. ý kiến kết luận, bản luận tội của không ít Kiểm sát viên vẫn còn rất chung chung, thiếu vắng sự đối đáp, lập luận chặt chẽ, sắc bén, thuyết phục với những dẫn chứng rõ ràng. Tâm lý dựa vào cáo trạng và ỷ lại vào Toà án còn nặng nề ở một bộ phận Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nói chung và Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói riêng.

Để nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại các phiên toà sơ thẩm hình sự; chúng tôi cho rằng cần chú trọng 5 yếu tố sau:

1. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên

Kiểm sát viên là người làm công tác bảo vệ pháp luật, vì vậy yêu cầu trước tiên đối với họ là phải hiểu biết pháp luật. Theo quy định hiện hành, điều kiện đối với Kiểm sát viên phải có trình độ Cử nhân luật và phải trải qua khoá đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát. Trong quá trình công tác, Kiểm sát viên phải tiếp tục có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ nghiệp vụ kiểm sát. Đây là quy định mới của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Trước đây, các Kiểm sát viên không bắt buộc phải là Cử nhân luật và nhiều người trong số họ chỉ tốt nghiệp Cao đẳng Kiểm sát. Chính vì vậy, pháp luật đã có những thay đổi theo hướng nâng cao tiêu chuẩn trình độ chuyên môn của Kiểm sát viên nhằm đảm bảo trình độ nghiệp vụ chuyên môn và chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên khi tham gia giải quyết các vụ án hình sự vì hoạt động của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự là thực hành quyền công tố Nhà nước. Nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của người làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố sẽ có tác động đến việc qui định tiêu chuẩn đối với họ.

2. Kiểm sát viên phải có kinh nghiệm công tác

Yếu tố này đã được qui định tại các Điều 18, Điều 19, Điều 20 của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Để trở thành Kiểm sát viên, mỗi cá nhân phải là người đã từng công tác trong ngành Kiểm sát hoặc ít nhất phải có một thời gian làm công tác pháp luật.

Đối với những người đã từng công tác trong ngành Kiểm sát thì để được tuyển chọn làm Kiểm sát viên, họ phải có thời gian công tác ít nhất là 5 năm. Đây là tiền đề để một Kiểm sát viên cấp huyện trở thành Kiểm sát cấp tỉnh và cao hơn. Đối với những người chưa qua hoạt động trong ngành Kiểm sát thì phải có thời gian công tác tương ứng là mười hoặc mười lăm năm để trở thành Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Việc qui định kinh nghiệm công tác là một trong những tiêu chuẩn trở thành Kiểm sát viên là hoàn toàn hợp lý bởi vì trên thực tế hiện nay có nhiều Kiểm sát viên chỉ có trình độ chuyên môn mà không có kinh nghiệm công tác thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu công việc, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi thực hiện việc mở rộng tranh tụng đã từng bước thay thế cho tình trạng thụ động tại phiên toà như trước đây. Chính vì vậy, hoạt động của Kiểm sát viên không chỉ mang tính nghề nghiệp thuần tuý mà còn mang tính nghệ thuật nghề nghiệp. Đó là nghệ thuật và văn hoá trong tranh luận, trong điều tra và khả năng thuyết phục người nghe. Nghệ thuật này không phải có được từ quá trình học tập trong nhà trường mà nó là sự tích luỹ và trải nghiệm từ cuộc sống và từ các hoạt động nghề nghiệp khác.

Mặt khác, khi mà hiện nay đất nước ta đang từng bước hội nhập với thế giới trong xu thế toàn cầu hoá thì có thể dự báo thấy tình hình tội phạm cũng sẽ có những diễn biến phức tạp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó, hoạt động của Kiểm sát viên cũng sẽ liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Thời gian qua khi tiến hành giải quyết một số vụ án liên quan đến việc hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT), không ít các Kiểm sát viên đã lúng túng khi tiếp xúc với các khái niệm liên quan đến lĩnh vực kinh tế, dẫn đến khó khăn khi lập luận bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Thực tế thì những kiến thức này không thể được trang bị một cách toàn diện trong các trường đào tạo mà Kiểm sát viên đã học; nó chỉ được tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tế của người làm công tác pháp luật. Chính vì vậy, tiêu chí kinh nghiệm công tác được xem là điều kiện bổ sung cho tiêu chí trình độ chuyên môn nhằm đảm bảo chất lượng của Kiểm sát viên khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân danh Nhà nước.

3. Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án

Để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự cần hết sức chú ý đến việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án. Mục đích của việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm chắc diễn biến vụ án từ kết quả điều tra; tìm ra những vấn đề còn mâu thuẫn, những điểm chứng cứ yếu, đặc biệt phải xem xét các chứng cứ buộc tội bị can, bị cáo. Trong trường hợp nếu bị can, bị cáo ra toà phản cung chối tội thì các chứng cứ đó đủ để buộc tội không? và cần chuẩn bị các tài liệu khác có liên quan tới việc kết tội bị cáo và giải quyết vụ án đó.

Việc nghiên cứu hồ sơ phải thực hiện theo đúng qui định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành kèm theo Quyết định số 07/QĐ-VKSTC-V3 ngày 12/01/2006. Các tài liệu, chứng cứ được trích cứu, sao chụp đầy đủ, có ghi rõ bút lục theo hồ sơ chính để khi đối đáp tranh luận có thể nêu rõ bút lục của tài liệu trong hồ sơ chính, nâng cao tính thuyết phục trong lập luận đối đáp tranh luận.

4. Kiểm sát viên phải xây dựng kế hoạch xét hỏi và tranh luận

Việc xây dựng kế hoạch xét hỏi gắn liền với xây dựng kế hoạch tranh luận tại phiên toà và chuẩn bị các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật của các cơ quan chức năng có liên quan tới việc xác định tội danh, điều luật, khoản để áp dụng hình phạt; trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án để chủ động trong đối đáp, tranh luận tại phiên toà. Kế hoạch xét hỏi phải hỗ trợ và phục vụ ngay cho kế hoạch tranh luận tại phiên toà. Khi dự thảo kế hoạch đối đáp tranh luận tại phiên toà, Kiểm sát viên phải tự đặt mình vào vị trí của bị cáo, người bào chữa để tìm các lý lẽ, chứng cứ có lợi cho bị cáo để dự đoán những nội dung chính, những tình huống mà Luật sư, bị cáo sẽ tranh luận. Sau đó, tìm các tài liệu chứng cứ để bác bỏ. Nếu thấy chứng cứ buộc tội không đủ để bác bỏ chứng cứ chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc không đủ chứng cứ chứng minh bị cáo phạm tội như cáo trạng truy tố mà phạm một tội khác nhẹ hơn.v.v. thì báo cáo ngay cho Lãnh đạo đơn vị để có hướng giải quyết kịp thời.

Khi xây dựng kế hoạch tranh luận, Kiểm sát viên cần chú ý đối với một số loại tội có biểu hiện về hành vi khách quan giống nhau, để chủ động đưa ra những chứng cứ và lý lẽ, lập luận nhằm khẳng định tội danh đã truy tố, điều luật đã áp dụng là đúng; trong đó đặc biệt chú ý tới những loại tội như: Giữa tội giết người với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người; giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; các tội tham ô với tội cố ý làm trái các qui định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và với tội thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản; tội hiếp dâm với tội cưỡng dâm. Trong những trường hợp này, Kiểm sát viên phải đưa ra những chứng cứ và phân tích, lập luận để làm rõ ý thức chủ quan của bị cáo như nhận thức về hành vi, hậu quả... khi phạm tội; hay phân tích, lập luận để thấy rõ trạng thái tâm lý, tinh thần của người bị hại tại thời điểm xảy ra vụ án như thời gian, địa điểm, không gian... tại hiện trường vụ án. Từ đó khẳng định tội danh đã truy tố là có căn cứ.

5. Kiểm sát viên cần có phương pháp đối đáp tranh luận tại phiên toà

Phương pháp đối đáp tranh luận tại phiên toà được hiểu là cách thức mà Kiểm sát viên thực hiện khi đối đáp tranh luận tại phiên toà sơ thẩm hình sự. Có thể có nhiều phương pháp đối đáp tranh luận khác nhau, nhưng chủ yếu hiện nay áp dụng 3 phương pháp: Đối đáp tranh luận đối với từng ý kiến một; đối đáp tranh luận đối với những ý kiến quan trọng, then chốt, mang tính quyết định đối với vụ án trước; dùng lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà để đối đáp tranh luận.

Điều 218 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: "Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến... Chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận". "ý kiến" ở đây được hiểu là quan điểm của một người và cũng có thể là quan điểm giống nhau của nhiều người bào chữa hoặc của người bào chữa và bị cáo, của người bào chữa và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về cùng một vấn đề; có thể là ý kiến về tội danh, ý kiến về chứng cứ buộc tội.v.v. Như vậy, đối đáp tranh luận đối với từng ý kiến một không hoàn toàn đồng nghĩa đối đáp tranh luận đối với từng người một. Đoạn 2 khoản 1 Điều 24 Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao qui định: "Nếu vụ án có nhiều người bào chữa cho bị cáo, họ có cùng ý kiến về một nội dung bào chữa thì Kiểm sát viên tổng hợp để đối đáp chung một lần cho các ý kiến đó".

Đối đáp tranh luận đối với những ý kiến quan trọng, then chốt, mang tính quyết định đối với vụ án như ý kiến về việc bị cáo không phạm tội hoặc phạm tội khác nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố... Khi đối đáp tranh luận cần chọn những điểm sai cơ bản trong lập luận của người bào chữa, của bị cáo... để phân tích bác bỏ, không nên đi vào những chi tiết vụn vặt.

Tại phiên toà, trong quá trình đối đáp tranh luận, Kiểm sát viên có thể dùng lời khai nhận tội ở Cơ quan điều tra và tại phiên toà của bị cáo này để tranh luận đối với lời tự bào chữa chối tội của bị cáo khác, hoặc dùng ngay lời bào chữa của Luật sư này để phản bác lời bào chữa của Luật sư phía bên kia khi các Luật sư bào chữa cho những thân chủ có quyền lợi đối lập nhau.

Khi đối đáp, tranh luận, Kiểm sát viên phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ của vụ án đã được xét hỏi, thẩm tra tại phiên toà và dựa vào các căn cứ pháp luật đang có hiệu lực thi hành. Đồng thời, tuỳ vào từng vụ án cụ thể để vận dụng linh hoạt một trong ba phương pháp hoặc kết hợp cả ba phương pháp nêu trên trong cùng một vụ án. Tại phiên toà, Kiểm sát viên phải tập trung tư tưởng theo dõi diễn biến phiên toà, tích cực tham gia xét hỏi làm rõ các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, ghi chép đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và câu trả lời của bị cáo để phán đoán hướng bào chữa của người bào chữa, của bị cáo, từ đó chuẩn bị ý kiến đối đáp tranh luận./.

Hoàng Anh Phương

 

(Viện kiểm sát nhân dân tối cao - nguồn TCKS số 13/2007)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi