Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp

Thạc sĩ Nguyễn Thị Thủy - (Trưởng phòng, Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC)

  1. Tổng lược quá trình hình thành và phát triển của thiết chế Viện công tố, Viện kiểm sát ở nước ta từ năm 1945 đến nay 

Ở Việt Nam, thiết chế Viện công tố, sau này là Viện kiểm sát ra đời và phát triển cùng với quá trình thành lập và phát triển của Nhà nước cách mạng. Trải qua hơn 60 năm, ở nước ta đã tồn tại cả hai mô hình: Viện công tố và Viện kiểm sát.

Mô hình Viện công tố đã từng tồn tại ở Việt Nam do người Pháp du nhập vào sau khi xâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Mô hình này tiếp tục tồn tại sau cách mạng tháng 8/1945. Từ năm 1945 đến năm 1950, hệ thống cơ quan công tố nằm trong hệ thống Toà án, thực hiện nhiệm vụ nhân danh Nhà nước buộc tội bị cáo trước phiên toà (trên cơ sở đó hình thành hệ thống Thẩm phán đứng hay Thẩm phán buộc tội trong hệ thống Toà án). Kết quả cuộc cải cách tư pháp lần thứ nhất diễn ra vào năm 1950 cũng đưa lại một số thay đổi đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố. Theo đó, cơ quan công tố tỉnh chịu sự lãnh đạo của Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, vai trò của Viện công tố trong quá trình giải quyết việc hộ (việc dân sự) của Toà án được tăng cường. Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc, năm 1958, hệ thống cơ quan công tố được tách khỏi Toà án, hình thành hệ thống cơ quan công tố độc lập trực thuộc Chính Phủ (gồm: Viện công tố Trung ương, Viện công tố phúc thẩm khu vực, Viện công tố tỉnh, Viện công tố huyện), bên cạnh chức năng công tố, còn được giao thực hiện chức năng giám sát hoạt động tư pháp (giám sát điều tra, giám sát xét xử, giám sát giam, giữ, cải tạo). Tuy nhiên, chưa đầy 2 năm sau, mô hình Viện công tố chấm dứt tồn tại. Vào thời điểm năm 1959 - 1960, cách mạng nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới - giaiđoạn vừa tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, vừa tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.Nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và Nhà nước, cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau. Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất(1).Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 được ban hành đã đánh dấu sự ra đời của một loại hình cơ quan Nhà nước mới trong bộ máy nhà nước - đó là Viện kiểm sát, là một hệ thống cơ quan độc lập, có chức năng giám sát việc tuân thủ pháp luật trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước (trừ hoạt động lập pháp của Quốc hội và hoạt động hành pháp của Chính phủ) và thực hành quyền công tố. Mô hình này tiếp tục được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980, năm 1992. Như vậy, sự ra đời của mô hình Viện kiểm sát thay thế mô hình Viện công tố ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất. Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thu hẹp phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát, Việnkiểm sát thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực hành chính - kinh tế - xã hội, tập trung thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; thay vì có trách nhiệmbảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất thì chỉ có trách nhiệm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

2. Yêu cầu cải cách Viện kiểm sát trong những năm đổi mới

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”đề ra yêu cầu: Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án; Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra…". 

Như vậy, trong quá trình nghiên cứu cải cách tư pháp, vấn đề có tiếp tục duy trì thiết chế Viện kiểm sát như hiện nay hay chuyển thành Viện công tố đã không chỉ còn là vấn đề học thuật nữa mà chính thức được đặt lên bàn nghị sự của cải cách tư pháp.

Nhìn lại quá trình cải cách Viện kiểm sát trong những năm đổi mới cho thấy, vấn đề Viện kiểm sát đã được đặt ra bàn thảo từ những năm 90 của thế kỷ XX. Tại thời điểm xây dựng Hiến pháp năm 1992, đã xuất hiện nhiều ý kiến đề nghị xem xét lại chức năng của Viện kiểm sát. Những ý kiến này cho rằng, trong bộ máy nhà nước đang có sự chồng chéo về chức năng giữa Viện kiểm sát và cơ quan Thanh tra, do vậy, cần bỏ chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố. Tuy nhiên, ý kiến này đã không được Quốc hội chấp thuận và Hiến pháp năm 1992 được ban hành vẫn giữ nguyên mô hình Viện kiểm sát trong bộ máy Nhà nước(2).

Sau 8 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, nhu cầu sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến phápvới trọng tâm là sửa đổi, bổ sung một số điều về tổ chức bộ máy Nhà nước làm cơ sở cho việc tiếp tục cải cách bộ máy Nhà nước(3)đã được đặt ra và trình Quốc hội quyết định.Trong 8 điều sửa đổi liên quan đến bộ máy nhà nước thì việc sửa đổi Điều 137 - điều chỉnh phạm vi chức năng của Viện kiểm sát (Viện kiểm sát thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội, tập trung thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp) - được đánh giá là sửa đổi lớn nhất về bộ máy Nhà nước. Lý do mà uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp lập luận cho việc điều chỉnh chức năng của Viện kiểm sát là “để Viện kiểm sát tập trung vào thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp - là những nhiệm vụ không thể giao cho các cơ quan khác thực hiện và là hai lĩnh vực rất bức xúc. Không giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho Viện kiểm sát cũng là để khắc phục những trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta”(4).

Và vừa qua, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị lại tiếp tục đặt vấn đề“nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố”. Triển khai thực hiện quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề Viện kiểm sát, nhiều đề án nghiên cứu cải cách tư pháp do các cơ quan hữu trách, cũng như hoạt động nghiên cứu độc lập của giới khoa học pháp lý nước nhà đã được triển khai thực hiện và đưa ra đề xuất. Qua theo dõi quá trình nghiên cứu cải cách Viện kiểm sát thời gian qua thì thấy hình thành 2 nhóm quan điểm chính:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng,đã đến lúc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố.

Những người theo quan điểm này tiếp cận vấn đề theo hướng việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố là một chủ trương đã rõ ràng, do vậy không tập trung nghiên cứu, phân tích lý lẽ vì sao phải chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, cũng như bỏ qua việc làm sáng tỏ việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố có phải là đòi hỏi khách quan trong giai đoạn hiện nay hay không mà chủ yếu chỉ tập trung bàn về tổ chức và hoạt động của Viện công tố trong thời gian tới(5).

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng,trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, việc thu hẹp phạm vi chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát hoặc chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát sang mô hình Viện công tố là quyết định chưa thuyết phục ở góc độ phương pháp luận, lý luận cũng như thực tiễn. Vấn đề đặt ra là cần hoàn thiện mô hình Viện kiểm sát, phát huy hiệu lực, hiệu quả của mô hình này chứ không phải thay thế nó bằng mô hình Viện công tố(6).

Những người theo nhóm quan điểm này đã đưa ra 5 lý do chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất,cơ sở nền tảng cho tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát chính là luận điểm của Lê nin về pháp chế thống nhất, về vai trò của pháp luật và pháp chế trong Nhà nước kiểu mới. Điều mà chúng ta cần hết sức lưu ý là dù trong tương lai có những thay đổi thì Nhà nước của chúng ta vẫn là Nhà nước kiểu mới với những nguyên tắc tổ chức quyền lực khác với các Nhà nước phương tây(7).

- Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm của bộ máy nhà nước ta, chúng ta không đặt vấn đề tạo thế cân bằng quyền lực trên cơ sở kiềm chế đối trọng mà xác định quan hệ phân công, phối hợp quyền lực trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất(8). Do vậy, việc tồn tại một hệ thống cơ quan chuyên trách thực hiện giám sát, có bộ máy từ trung ương đến địa phương là điều hết sức cần thiết. Ở các quốc gia mà quyền lực nhà nước tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, các nhánh quyền lực hoạt động trong thế đối trọng nhau, quyền lực kiểm soát quyền lực thì không cần đến một cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng giám sát.

- Thứ ba, mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa - Nhà nước mà trong đó đề cao Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, loại bỏ mọi hành vi vi phạm quyền con người trong các hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước đặt ra yêu cầu bức thiết phải tăng cường các hoạt động kiểm tra, kiểm soát. Trong khi đó, nhìn vào thực trạng của việc thực hiện yêu cầu về kiểm tra, giám sát quyền lực nhằm bảo đảm pháp chế, kỷ cương và kỷ luật, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa cho thấy đang có sự thiếu đồng bộ, bất cập của hệ thống các cơ chế kiểm tra, giám sát, thậm chí có khoảng trống trong cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Viện kiểm sát là một trong những bộ phận hợp thành của hệ thống tư pháp (được xem là một trong những yếu tố của hệ thống kiểm tra, kiểm soát xã hội)(9). Do vậy, về logic, cần phải tăng cường chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp. Hoạt động của Viện kiểm sát cần được xác định là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện tư tưởng của Nhà nước pháp quyền.

- Thứ tư, xuất phát từ đặc điểm của hoạt động tư pháp, một dạng của hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, là hoạt động mang trong nó những thẩm quyền mạnh mẽ và có khả năng ảnh hưởng đến các quyền cơ bản nhất của con người (quyền tự do, quyền sống), thì hoạt động tư pháp cần và phải chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của nhiều cơ chế kiểm tra, giám sát khác nhau, đặc biệt là cần thiết lập cho được cơ chế giám sát trực tiếp, thường xuyên và có hiệu quả. Trong điều kiện cụ thể của Nhà nước ta, cơ chế đó là Viện kiểm sát - theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, Viện kiểm sát có điều kiện tham gia vào tất cả các lĩnh vựctư pháp (tư pháp hình sự, tư pháp dân sự, tư pháp hành chính) và thamgia tất cả các giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra, truy tố, xétxử và thi hành án).

- Thứ năm, ở nước ta, chức năng giám sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là vấn đề có tính lịch sử. Trước khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nước, chức năng giám sát hoạt động tư pháp (giám sát hoạt động điều tra, xét xử, giam giữ cải tạo) đã được quy định cho Viện công tố thực hiện. Trải qua quá trình thành lập và hoạt động, với vị trí và tính chất hiến định, với hình thức tổ chức và các chức năng được giao tương ứng, thiết chế Viện kiểm sát đang được chứng minh là cơ chế giám sát tư pháp hữu hiệu(10).

Với các kết quả nghiên cứu do các cơ quan hữu trách đệ trình và giới khoa học đề xuất, vừa qua, vấn đề Viện kiểm sát đã được quyết định ở tầm Kết luận của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI theo hướng Viện kiểm sát tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp và duy trì mô hình Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nước như hiện nay. Cụ thể, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay”,Văn kiện Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức Toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”.

Đặc biệt, với việc mở rộng vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011, sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 một lần khẳng định yêu cầu của Nhà nước, của xã hội đối với Viện kiểm sát ngày càng lớn. Viện kiểm sát không chỉ có trách nhiệm trong lĩnh vực truyền thống là tố tụng hình sự mà còn có trách nhiệm trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Viện kiểm sát không chỉ có chức năng thực hành quyền công tố, mà phải có trách nhiệm cao hơn nữa trong kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng không bị xâm phạm bởi hoạt động giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.

3. Một số nhiệm vụ cần ưu tiên thực hiện trong thời gian tới

Theo chúng tôi, để tiếp tục thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, trong thời gian tới, ngành Kiểm sát nhân dân cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất,để thể chế hoá kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XIII đã thông qua Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Dự kiến, Quốc hội sẽ xem xét, thông qua Hiến pháp vào kỳ họp cuối năm 2013. Nhiệm vụ đặt ra cho ngành Kiểm sát trong quá trình nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 thời gian tới là rất lớn, cùng với việc nghiên cứu, đề xuất các vấn đề về chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ.v.v., cần nghiên cứu, luận giải thấu đáo về thiết chế Viện kiểm sát trong cơ cấu quyền lực ở Nhà nước ta, cung cấp các luận cứ khoa học để thấy rằng hoạt động của Viện kiểm sát là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước độc lập bên cạnh những hoạt động của các nhánh quyền lực nhà nước khác; minh chứng đầy đủ về vị trí, vai trò quan trọng của Viện kiểm sát trong hệ thống các cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tư pháp, cũng như yêu cầu phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ hai,cần tổng kết một cách sâu sắc việc thực hiện chức năng công tố thời gian qua, nhất là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để đề xuất các biện pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra như các Nghị quyết của Đảng đã yêu cầu. Trước mắt, trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp về nghiệp vụ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; bổ sung biên chế; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị công tác; quản lý, chỉ đạo, điều hành… để nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố. Đồng thời, nghiên cứu, đề xuất các kiến giải sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự và các văn bản pháp luật liên quan nhằm thể chế hoá chủ trương củaĐảng về xây dựng một nền công tố mạnh, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, Viện kiểm sát phải có trách nhiệm cao hơn, chủ động hơn trong quá trình chứng minh tội phạm, theo sát, gắn chặt với hoạt động điều tra.

Thứ ba,thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các nhiệm vụ đề ra trong Chỉ thị số 06/2011/CT-VKSTC ngày 20/5/2011 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong ngành Kiểm sát nhân dân. Xác định tăng cường kiểm sát tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm công tác của Ngành trong thời gian tới. Các vi phạm trong giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự phải chủ yếu do Viện kiểm sát phát hiện và kháng nghị, chứ không phải chủ yếu do Toà án phát hiện, kháng nghị như hiện nay. Bằng kết quả cụ thể của các khâu công tác kiểm sát này, chứng minh với Đảng, Nhà nước và nhân dân về tính hiệu quả của cơ chế kiểm sát hoạt động tư pháp trong hệ thống các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tư pháp ở nước ta.

Thứ tư,thực tiễn chứng minh rằng, mọi cuộc cải cách sẽ không có kết quả nếu không tiến hành các biện pháp cải cách từ yếu tố con người. Để thực hiện thành công cải cách tư pháp, cần tạo sự chuyển biến sâu sắc trong công tác cán bộ. Công tác quy hoạch cán bộ phải bảo đảm sự chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Đẩy mạnh công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ, chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ. Kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đào tạo tại trường lớp với việc tăng cường trách nhiệm đào tạo của người trực tiếp quản lý, sử dụng cán bộ và việc tự đào tạo của cán bộ, Kiểm sát viên(11). Nghiên cứu, hoàn thiện khung chương trình và nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả, trong đó có những chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải mang tính bắt buộc và được thực hiện theo định kỳ./.

 

(1) Xem: Tờ trình Quốc hội về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.

(2) Xem: Nguyễn Thái Phúc, Kỷ yếu Hội thảo Viện Nhà nước và Pháp luật, Những vấn đề lý luận và thực tiễncơ bản về công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong Nhà nước pháp quyền - kinh nghiệm của CHLB Đức, tháng 4/2011.

(3) Xem: Tờ trình Quốc hội về việc sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1992.

(4) Xem: Tờ trình Quốc hội về việc sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm 1992.

(5) Xem: Đỗ Văn Đương. Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Tạp chíNghiên cứu lập pháp số 7/2006; Nguyễn Đức Mai. Tổ chức và hoạt động của Viện công tố ở Việt Nam trong giai đoạn cải cách tư pháp. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2007; Thái Vĩnh Thắng. Viện công tố thay thế Viện kiểm sát nhân dân sẽ được tổ chức và hoạt động như thế nào. Tạp chí Luật học số 2/2008.

(6) Xem: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương. Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Việnkiểm sát, Cơ quan điều tra theotinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020;Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đề án tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theoyêu cầu cải cách tư pháp. 12/2010; Nguyễn Thái Phúc. Viện kiểm sát hay Viện công tố. Tạp chí khoa học pháp lý số 2/2007 và Mô hình, điều kiện thay đổi nhiệm vụ, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trước yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Kỷ yếu Hội thảo Viện Nhà nước và Pháp luật. Tháng 4/2011; Đề tài cấp Bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp. 12/2008.

(7) Xem: Nguyễn Thái Phúc, tlđd.

(8) Hiến pháp năm 1992 (Điều 2).

(9) Xem Đào Trí úc (chủ biên), Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bảnkhoa học xã hội. 2002. tr.13.

(10) Báo cáo tổng kết công tác của ngành Kiểm sát nhân dân các năm. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghịquyết số 49-NQ/TW của ngành Kiểm sát nhân dân.

(11) Xem: TS. Lê Hữu Thể, Công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngành Kiểm sát trong giai đoạn mới, Tạp chí Kiểm sát số tháng 7/2011.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi