MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TỘI ĐUA XE TRÁI PHÉP

 Th.S Trần Đình Hải

 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Tạp chí Khoa học Kiểm sát Số 3/2014

 

Đua xe trái phép là hành vi của hai hoặc nhiều người điều khiển xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ chạy thi trên đường bộ nhằm đuổi kịp hoặc vượt người cùng đua[1], hay giữ khoảng cách trước sau với xe khác để về điểm đích được xác định trước, hoặc để đạt mục tiêu về vị trí xác định trước theo thỏa thuận với quãng thời gian ngắn hơn.

         Do yêu cầu đấu tranh phòng chống hành vi đua xe trái phép nên Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 đã bổ sung quy định về tội phạm này. Trước khi BLHS năm 1999 có hiệu lực, hành vi đua xe trái phép bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 198 BLHS 1985. Theo đó, chỉ cần có hành vi đua xe trái phép là đã bị truy cứu TNHS về tội gây rối trật tự công cộng mà không cần phải thêm điều kiện “gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” như Điều 207 BLHS năm 1999. Do tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 245 BLHS năm 1999 cũng được bổ sung tình tiết là yếu tố định tội “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” nên nhà làm luật cũng quy định tình tiết này là yếu tố định tội đối với tội đua xe trái phép tương tự như đối với tội gây rối trật tự công cộng.

Điều 207 BLHS năm 1999 quy định:

Tội đua xe trái phép

 1. Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác;

b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

c) Tham gia cá cược;

d) Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép;

đ) Đua xe nơi tập trung đông dân cư;

e) Tháo dỡ các thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua;

g) Tái phạm về tội này hoặc tội tổ chức đua xe trái phép.

3. Phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

         Có thể thấy hành vi đua xe trái phép tuy tính nguy hiểm cho xã hội không cao hơn so với nhiều tội phạm khác xâm phạm đến an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác…nhưng hành vi này lại rất phổ biến, đa dạng về hình thức, được tổ chức khá phức tạp và gây ảnh hưởng không nhỏ tới an toàn xã hội, trật tự xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây xáo trộn hoạt động giao thông, có nguy cơ xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác…Tuy đã được pháp điển hóa trong lần xây dựng BLHS năm 1999 nhưng trong thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập, thiếu sót đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung kịp thời để phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cấu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm đang ngày một ra tăng về số lượng và sự nguy hại cho xã hội này. Cụ thể như sau:

       1. Về dấu hiệu định tội của tội Đua xe trái phép: BLHS năm 1999 quy định: “Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm…”. Quy định như hiện nay là chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh các loại tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Bởi lẽ:

  Thứ nhất, về tình tiết định tội phải thỏa mãn “gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm…”được quy định tại khoản 1 Điều 207 BLHS. Theo thông tư liên tịch số 09 /2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/08/2013 của bộ Bộ Công an – Bộ quốc phòng – Bộ tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương XIX BLHS năm 1999 về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác một trong những trường hợp sau đây:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 11% đến dưới 31%;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 11%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 21% đến dưới 41%;

c) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng.

        Ngoài ra hành vi đua xe trái phép được coi là tội phạm khi đua xe trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ mà trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi này chưa hết thời hạn để được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại vi phạm hoặc đua xe trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ trước đó đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích. Như vậy trường hợp đua xe trái phép mà chưa gây ra hậu quả, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa có án tích về tội đua xe trái phép thì không bị coi là tội phạm mà chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử phạt vi phạm hành chính hiện hành. Theo quan điểm của chúng tôi hành vi đua xe trái phép bản thân nó đã chứa đựng khả năng gây hậu quả nguy hại cho xã hội hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (cụ thể là gây thiệt hại, đe dọa gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe người khác, xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng…). Đây là hành vi có tính nguy hiểm hơn nhiều so với các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông bởi người thực hiện nó đã cố ý đặt các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ vào trước sự đe dọa xâm hại, hành vi chứa đựng khả năng gây hậu quả nguy hại cho xã hội. Trong khi một loạt các tội xâm phạm an toàn công cộng liên quan đến lĩnh vực giao thông đường bộ (Điều 202, 203…) cũng quy định dấu hiệu hậu quả là tình tiết định tội, nhưng nếu xét về mức độ nguy hại cho xã hội thì không bằng tội đua xe trái phép. Các tội phạm này khi người phạm tội thực hiện họ không hề có sự chuẩn bị trước, hậu quả xảy ra là hoàn toàn vô ý, hành vi cũng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây xáo trộn, láo loạn hoạt động giao thông, biểu hiện coi thường pháp luật như hành vi đua xe trái phép…Do đó việc chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính nếu không gây ra hậu quả BLHS quy định là một chế tài quá nhẹ, không đủ nghiêm khắc để răn đe, ngăn ngừa những hành vi tương tự. Bên cạnh đó việc quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội cũng gây không ít khó khăn trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vì phải chứng minh được người đua xe trái phép đã thỏa mãn những yếu tố về mặt hậu quả như nêu trên.

        Thứ hai, với quy định hiện tại của BLHS về hành vi đua xe trái phép sẽ dẫn tới tình trạng cùng những người đua xe với nhau nhưng có người bị coi là tội phạm có người lại không mặc dù có thể người không đủ điều kiện để chịu TNHS về tội này lại là người thực hiện hành vi nguy hiểm hơn, nhiệt tình hơn, vai trò lớn hơn, vi phạm quy định về tốc độ, làn đường…một cách rõ ràng hơn. Điều đó đương nhiên dẫn đến khả năng tất yếu gây thiệt hại cho xã hội cũng cao hơn những người khác. Ví dụ: trường hợp người trực tiếp điều khiển phương tiện đua thì chưa gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác thỏa mãn hướng dẫn tại thông tư 09 /2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/08/2013 nêu trên hoặc chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này nhưng đã được xoá án tích thì đương nhiên không phạm tội đua xe trái phép, nhưng nếu người ngồi sau xe cùng tham gia đua xe trái phép mà thỏa mãn các dấu hiệu trên thì lại bị coi là tội phạm. Đây cũng là một bất cấp trong việc áp dụng các quy định của BLHS vào trong thực tiễn để đảm bảo mục đích phòng ngừa, giáo dục, trừng trị người phạm tội.

       Thứ ba, trong thực tiễn sẽ tồn tại bất cập trong trường hợp đua xe trái phép có đồng phạm, việc xác định người đồng phạm, đặc biệt là người giúp sức không hề đơn giản. Bởi lẽ, người giúp sức (ví dụ hành vi cung cấp phương tiện đua, sửa chữa, thêm bớt các chi tiết nhằm tăng vận tốc, âm thanh của phương tiện…) cũng phải thỏa mãn quy định nếu người được giúp sức (ở đây là người trực tiếp tham gia đua) đã “gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm…” hay các tình tiết định tội này chỉ cần áp dụng độc lập với người giúp sức? cũng có thể định tội người đồng phạm này? Ví dụ: A cho B mượn xe để đua xe trái phép, sau đó B bị xử phạt vi phạm hành chính, lần sau A tiếp tục cho C mượn xe để đua, nhưng do C cũng không gây hậu quả nên cũng chỉ bị xử phạt hành chính. Vậy đã đủ căn cứ để khởi tố A về hành vi đua xe trái phép với vai trò người giúp sức cho 2 người trong hai hành vi độc lập đó không? Điều này đòi hỏi luật hình sự phải có quy định rõ ràng hoặc có hướng dẫn chi tiết hơn. Trên thực tế cũng có thể tồn tại trường hợp, người giúp sức cũng bị truy cứu TNHS về tội đua xe trái phép, nhưng người trực tiếp đua thì không thỏa mãn dấu hiệu hậu quả nên chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, dù rõ ràng xét về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nguyên tắc cá thể hóa TNHS thì hành vi của người trực tiếp tham gia đua là nguy hiểm hơn nhiều, đây là một mâu thuẫn đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung quy định của điều luật. Trên thực tiễn xét xử, thông thường những người tham gia đua xe trái phép nếu không đủ căn cứ xử lý về tội đua xe trái phép thì có thể bị truy cứu TNHS về tội Gây rồi trật tự công cộng quy định tại điều 245 BLHS, nhưng thiết nghĩ, cùng một hành vi phạm tội nhưng lại bị truy cứu TNHS với những tội danh khác nhau với các mức chế tài hình sự khác nhau thì rõ ràng vấn đề TNHS chưa được giải quyết một cách triệt để và thỏa đáng.

       Thứ tư, về đối tượng tác động của tội phạm. Phân tích quy định của điều luật, chúng ta có thể thấy đối tượng tác động của tội phạm ở đây chính là các phương tiện dùng vào việc đua xe trái phép. Trong đó luật quy định cụ thể là : xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ. Quy định như vậy là chưa hoàn toàn chính xác và thống nhất với các văn bản pháp quy khác liên quan đến phương tiện giao thông đường bộ. Điều 3 Luật giao thông đường bộ 2008 có quy định phương tiện giao thông đường bộ gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Trong đó phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô, máy kéo, rơ mooc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo, xe mô tô hai bánh…Như vậy trong các văn bản pháp luật chính thức không có thuật ngữ “xe máy”, xe máy ở đây được hiểu là mô tô 2 bánh hoặc các loại xe tương tự xe mô tô theo hướng dẫn tại Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 2 tháng 04 năm 2010 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Mặt khác, hiện nay trên thực tế có tồn tại nhiều loại xe có thể được các hãng sản xuất phương tiện giao thông chế tạo hoặc do tự chế mang những đặc điểm của cả phương tiện cơ giới cũng như thô sơ (như xe đạp điện, xe xích lô gắn máy, xe ba gác...) nên quy định như hiện tại sẽ rất khó khăn cho việc định tội danh theo điều 207 BLHS. Bên cạnh đó, các loại xe thô sơ, không có gắn động cơ như xe đạp, xích lô…tuy khi hoạt động bình thường thì không chứa đựng khả năng gây nguy hiểm cao cho tính mạng, sức khỏe người khác, xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, nhưng nếu các phương tiện này được dùng để đua một cách trái phép thì lại chứa đựng khả năng gây hậu quả cho xã hội cũng rất cao, có thể gây ảnh hưởng tới lưu thông, rối loạn đường sá, ảnh hưởng tới độ an toàn của các xe khác lưu thông trên đường vì vậy theo chúng tôi BLHS nên quy định cả người nào đua trái phép các phương tiện này nếu gây hậu quả thì phải chịu TNHS về tội đua xe trái phép.

            Từ các phân tích trên chúng tôi kiến nghị sửa đổi các dấu hiệu định tội của Điều 207 BLHS như sau:

           Từ: “Người nào đua trái phép xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm…”

           Thành: “Người nào đua trái phép phương tiện giao thông không gắn động cơ gây thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, hoặc đua trái phép phương tiện cơ giới đường bộ, phương tiện có gắn động cơ thì bị phạt…”

  1.      Về hình phạt quy định tại điều luật:

       Khoản 1 Điều 207 BLHS quy định hình phạt đối với người phạm tội như sau: phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Theo chúng tôi mức phạt như vậy là quá nhẹ, không đủ trừng trị, giáo dục người phạm tội cũng như không có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội đối với hành vi này. Hành vi đua xe trái phép xâm phạm nghiêm trọng đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực công cộng, gây tổn hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân, được thực hiện công khai, thông thường ở nơi đông dân cư sinh sống, đi lại, biểu hiện thái độ coi thường pháp luật nên hình phạt đòi hỏi cũng phải tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Mức phạt tiền tối đa đến năm mươi triệu đồng là chưa đủ cao để răn đe, nhất là đối với những đối tượng phổ biến của loại tội phạm này là những đối tượng có điều kiện kinh tế, gia đình khá giả, ăn chơi, lêu lổng…. Mức phạt tiền được quy định từ khi xây dựng BLHS năm 1999 đến nay đã khá lâu và có sự không hợp lý với tình hình kinh tế, mức độ trượt giá đồng tiền v.v…Về hình phạt tù của khung hình phạt, quy định tối đa của khung hình phạt cơ bản là đến ba năm tù (tức chỉ là tội ít nghiêm trọng) là điều chưa thỏa đáng, bởi theo các phân tích trên, mức hình phạt cao nhất quy định tại cấu thành tội phạm (CTTP) cơ bản của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202), tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không đảm bảo an toàn (Điều 204) đều đến năm năm tù trong khi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đua xe trái phép cao hơn hẳn, vì vậy để đảm bảo sự chặt chẽ và hợp lý, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội chúng tôi kiến nghị BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt cơ bản của tội này là đến bảy năm tù (tội nghiêm trọng), điều này vừa đúng với tính chất của hành vi phạm tội, vừa tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động tố tụng khi tiến hành giải quyết vụ án như áp dụng các biện pháp ngăn chặn, áp dụng quy định về thời hạn điều tra, truy tố…

       3.Cần bổ sung một số dấu hiệu vào các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:

       Trong những năm gần đây nạn đua xe trái phép luôn ra tăng về số lượng và mức độ nguy hại, đe dọa và gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội nói chung và với an toàn công cộng nói riêng. Không dừng lại ở đó hành vi đua xe trái phép trên thực tế còn có những diễn biến phức tạp, được tổ chức hết sức khó lường với quy mô lớn, xuất hiện thêm nhiều tình tiết mới đòi hỏi nhà làm luật cần có quy định cụ thể, luật hóa các hành vi đó nhằm buộc người phạm tội phải chịu TNHS tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra. Đó là những hành vi cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP tăng nặng, tương ứng với nó là hình phạt được áp dụng cũng nghiêm khắc hơn so với trường hợp bình thường để vừa đảm bảo mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội. Cụ thể:

        Thứ nhất, sửa đổi dấu hiệu định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 207 từ “Tham gia cá cược;” thành “Sử dụng kết quả việc đua xe trái phép để đánh bạc;”, quy định như trên vừa chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp lại vừa logic, dễ hiểu và đảm bảo sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật hình sự. Hành vi đánh bạc đã được quy định rõ ràng, cụ thể trong BLHS năm 1999, việc không sử dụng từ “cá cược” và xác định các đối tượng đánh bạc dựa vào chính kết quả của cuộc đua đang bị xử lý hình sự sẽ không gây ra sự tranh cãi, nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật đối với dấu hiệu định khung tăng nặng hình phạt này.

        Thứ hai, sửa đổi dấu hiệu định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 207 từ “Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép” thành “Chống lại bất cứ người nào có hành vi ngăn cản, thực hiện các biện pháp để giải tán cuộc đua xe hay ngăn chặn những hậu quả của cuộc đua xe trái phép;”. Quy định sửa đổi vừa có ý nghĩa động viên kể cả đối với người dân bình thường cũng như những người có chức trách, nhiệm vụ trong việc đảm bảo an toàn giao thông, an toàn công cộng chủ động hơn trong việc phòng, chống những hậu quả của hành vi đua xe trái phép, đảm bảo cơ chế bảo vệ cho những người đã vì trách nhiệm, vì cộng đồng, vì cái chung để bảo vệ trật tự an toàn giao thông, khi họ bị chống trả, có thiệt hại thì việc xử lý về dân sự cũng có căn cứ pháp lý chuẩn xác, rõ ràng hơn. Bên cạnh đó quy định này còn là sự răn đe cần thiết cho những đối tượng tham gia đua xe trái phép, nếu chống trả bất cứ người nào ngăn cản, thực hiện việc giải tán hoặc những người muốn ngăn ngừa thiệt hại từ cuộc đua xe trái phép thì đều phải chịu TNHS nặng hơn các trường hợp thông thường.

        Thứ ba, sửa đổi dấu hiệu định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 207 từ “Đua xe nơi tập trung đông dân cư” thành “Đua xe nơi có mật độ đông người tham gia giao thông, ở khu vực có nhiều người sinh sống, ở trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn, ở những nơi có danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa;” Quy định được sửa đổi sẽ đảm bảo được các yếu tố sau: 1/ Phạm vi áp dụng dấu hiệu định khung tăng nặng này không chỉ dừng lại ở hành vi đua xe trái phép tại nơi đông dân cư, điều này dễ gây hiểu lầm là chỉ nơi có đông người sinh sống thì hành vi đua xe trái phép mới bị truy cứu TNHS theo khoản 2, trong khi thực tế những hành vi đua xe trái phép ở bất cứ đâu có đông người sinh sống, nơi mật độ giao thông đông đúc, trung tâm của các địa phương, nới có nhiều nhà máy, xí nghiệp…đều phải được quy định là dấu hiệu định khung tăng nặng mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Bởi lẽ hậu quả của hành vi đua xe trái phép gây ra tại những nơi này là sự mất ổn định trật tự xã hội, gây hoang mang cho nhân dân về sức khỏe, tính mạng, tài sản mà họ có thể phải rủi ro gánh chịu, ngoài ra việc những nơi có đông người qua lại, sinh sống thì khả năng bị gây tai nạn giao thông một cách “vô cớ” như vậy cũng rất cao, gây ảnh hưởng rất xấu tới sự ổn định của xã hội nói chung. 2/ Việc đua xe tại những địa điểm trên thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, không tôn trọng các giá trị truyền thống của dân tộc, gây ảnh hướng tới uy tín của địa phương và làm mất mỹ quan, tạo tâm lý không tốt cho du khách và nhân dân địa phương… Hệ quả đó phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo không cao của người phạm tội nên việc quy định dấu hiệu này là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là hoàn toàn cần thiết.

        Thứ tư, bổ sung dấu hiệu định khung “Lợi dụng các ngày nghỉ lễ, các dịp có sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước để đua xe trái phép;” vào quy định tại khoản 2 Điều 207. Hiện nay trên thực tế các đối tượng đua xe trái phép thường lấy cớ “giải trí”, “ăn mừng” đối với những sự kiện trọng đại của đất nước (các giải đấu thể thao, ngày mitinh, hội nghị, lễ hội v.v…), hay các ngày nghỉ lễ để thực hiện hành vi phạm tội. Điều này vừa thể hiện thái độ coi thường pháp luật vừa gây ra những hậu quả lớn cho xã hội do các đối tượng thường tụ tập, lôi kéo, kích động đông người để đua xe vào thời điểm đang có các sự kiện quan trọng của đất nước, của địa phương, khả năng xảy ra hậu quả về tính mạng sức khỏe, sự tắc nghẽn, đình trệ về giao thông là rất cao, gây khó khăn cho các lực lượng chức năng bảo vệ trật tự an toàn công cộng do đúng vào dịp phải tập trung vào nhiều nhiệm vụ bảo vệ khác, bên cạnh đó cũng gây những ấn tượng xấu với du khách thập phương, bạn bè quốc tế về vấn đề an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, suy cho cùng là ảnh hưởng tới quá trình phát triển chung của địa phương, xã hội.

       Thứ năm, sửa đổi điểm e khoản 2 Điều 207 từ “Tháo dỡ các phương tiện an toàn khỏi phương tiện đua;” thành “ Tháo dỡ các bộ phận đảm bảo an toàn hoặc thêm vào phương tiện đua các bộ phận làm thay đổi kết cấu, vận tốc, âm thanh;”. Bởi đây đều là các hành vi làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Khả năng tất yếu dẫn tới hậu quả sẽ lớn hơn so với trường trường hợp bình thường. Tuy nhiên hiện nay BLHS chỉ mới quy định các hành vi tháo dỡ các phương tiện an toàn ra khỏi phương tiện đua mà chưa có quy định về trường hợp bổ sung thêm các bộ phận khác vào phương tiện đua nhằm thay đổi kết cấu, vận tốc, âm thanh. Trong đó có thể thấy, thay đổi kết cấu phương tiện tất dẫn tới sự thiếu an toàn, vận tốc nhanh quá mức cho phép, vượt quá vận tốc thiết kế sẽ đe dọa gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản cho chính người tham gia đua xe và những người khác, khả năng làm chủ tốc độ của người điều khiển sẽ mất dần đi, âm thanh vang, ầm ĩ sẽ dẫn tới sự mất mỹ quan, gây láo loạn và sự lo lắng hoang mang của những người tham gia giao thông khác, gây rối loạn hoạt động bình thường của người tham gia giao thông, của những người sinh sống ở khu vực đua xe, gây tâm lý sợ ra đường tham gia giao thông của nhân dân, gây mất trật tự an toàn công cộng…Nên việc sửa đổi bổ sung các quy định này là hết sức cần thiết.

       Thứ sáu, bổ sung dấu hiệu định khung “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng” vào khoản 2 Điều 207. Đây là quy định để đảm bảo răn đe các đối tượng đang trong tình trạng say rượu, bia, chất kích thích mà lại tham gia đua xe trái phép. Việc say bia, rượu, chất kích thích mạnh gây hưng phấn, ảnh hưởng tới nhận thức, vấn đề thần kinh của người điều khiển phương tiện đua, điều đó tất yếu dẫn tới khả năng gây ra hậu quả xấu cho xã hội cao hơn bình thường, thông thường đối với những trường hợp này việc ngăn chặn các cuộc đua của các lực lượng chức năng gặp rất nhiều khó khăn do các đối tượng không làm chủ được mình, hung hãn, bốc đồng. Việc có lỗi trong việc dẫn đến tình trạng say qua đó có khả năng gây hậu quả nguy hại cho xã hội đòi hỏi người phạm tội phải chịu TNHS cao hơn bình thường khi tham gia giao thông. Bên cạnh đó Nhà nước cũng có những quy định xử phạt và áp dụng các biện pháp tuyên truyền mạnh mẽ về việc không sử dụng rượu, bia khi tham gia giao thông bởi tác dụng xấu của nó đối với bản thân người điều khiển phương tiện và đối với xã hội. Đối với các hoạt động tham gia giao thông bình thường còn bị áp dụng các chế tài như vậy thì hành vi đua xe trái phép khi đã sử dụng rượu, bia, chất kích thích mạnh phải chịu mức hình phạt cao hơn bình thường mới là hợp lý. Bên cạnh đó ở một số tội vi phạm các quy định về giao thông (Điều 202, Điều 208, Điều 212) cũng đều đã có các quy định này nhằm răn đe các đối tượng phạm tội và đảm bảo việc xử lý các đối tượng phạm tội trong trường hợp này được công bằng, hợp lý, đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Trên cơ sở đó dấu hiệu này cần được bổ sung vào các tình tiết tăng nặng khung hình phạt của Điều 207.

       Thứ bảy, bổ sung dấu hiệu định khung “Vận tốc vượt quá mức quy định của pháp luật” vào khoản 2 Điều 207. Thông thường khi các đối tượng tham gia đua xe, do đặc điểm yêu cầu về đích với thời gian ngắn hơn là người thắng cuộc, tâm lý thắng thua, ganh đua, việc thích “chứng tỏ mình” một cách liều lĩnh v.v… nên việc tăng vận tốc xe khi chạy là điều phổ biến. Các đối tượng tham gia đua xe trái phép trên thực tế hầu hết là các đối tượng ngông cuồng, liều lĩnh, coi thường pháp luật, vận tốc cao khiến người điều khiển không làm chủ được tốc độ, hành vi xử lý tay lái của mình nên dễ dẫn đến tai nạn cho bản thân, cho người cùng đua và cho bất cứ ai khác có mặt ở địa điểm đua. Vận tốc theo mức quy định cho phép của pháp luật là vận tốc được áp dụng tối đa đối với phương tiện giao thông được quy định tại luật giao thông đường bộ đối với đặc điểm của đường (đường cao tốc hay bình thường, nơi tập trung đông dân cư hay không v.v…) và thời gian khi tham gia giao thông (ban ngày, ban đêm v.v…). Vượt quá vận tốc quy định của pháp luật là tình tiết bị áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính với hành vi tham gia giao thông thông thường theo quy định của luật xử lý vi phạm hành chính, nếu vượt quá vận tốc cho phép trong khi tham gia đua xe trái phép thì phải chịu hình phạt tăng nặng theo quy định của BLHS cũng là điều hợp lý góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân, có tác dụng răn đe, giáo dục những người có ý định phạm tội này.

 

[1] Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, phần các tội phạm, tập IX, nxb TP Hồ Chí Minh, tr.20

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi