Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều 125 BLHS năm 2015

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẨN LƯU Ý KHỊ ÁP DỤNG TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH

THEO ĐIỀU 125 BLHS NĂM 2015

TS. Đặng Thu Hiền

Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 27/11/2015, có hiệu lực từ ngày 1/7/2016, với 26 chương và 426 điều. Bộ luật Hình sự năm 2015 được xây dựng trên cơ sở kế thừa nhiều chế định của Bộ luật Hình sự năm 1999, tuy nhiên có bổ sung, sửa đổi tương đối toàn diện cả về chính sách hình sự, cơ cấu chương, điều, đặc biệt là vấn đề hình sự và phi hình sự hoá nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội để đáp ứng nhiệm vụ phòng chống tội phạm trong tình hình mới và tiến trình giao lưu hội nhập quốc tế. Quốc hội đã có Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành BLHS năm 2015 song mặc dù nhiều chế định đã được xây dựng theo hướng cụ thể hoá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho viêc áp dụng, nhưng cũng không ít nội dung cũng đã bộc lộ những vấn đề tồn tại, bất cập trong cả phần chung và phần tội phạm cụ thể, còn nhiều tình tiết định tính, khó xác định, thậm chí không khả thi, nhiều chương, điều và nhiều tình tiết nếu không có văn bản hướng dẫn thi hành sẽ dẫn đến tình trạng có thể hiểu và áp dụng theo nhiều hướng khác nhau, không đúng tinh thần của luật. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trao đồi về một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS năm 2015).

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (TTBKĐM) được tách ra từ khoản 3 Điều 101 BLHS năm 1985, quỵ định thành một tội phạm độc lập trong Điều 95 BLHS năm 1999, trong BLHS năm 2015 được quy định tại Điều 125. Khoản 1 Điều 125 BLHS năm 2015 quy định “Người nào giết người trong trạng thái TTBKĐM do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đôi với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”, về cơ bản có thể thấy, so với khoản 1 Điều 95 BLHS năm 1999 thì tội phạm này không có gì thay đồi, tuy nhiên việc áp dụng tội phạm này cho đến nay gặp nhiều khó khăn, vì trong cà BLHS năm 1985, 1999 và đến nay là BLHS năm 2015 chưa có văn bản nào hưóng dẫn áp dụng tội phạm này.

Nghiên cứu cho thấy, giết người trong trạng thái TTBKĐM mặc dù cũng là tội phạm giết người, nhưng nó có hàm chứa tình tiết làm giảm đi đáng kể tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vì vậy hình phạt được áp dụng đối với loại tội phạm này nhẹ hơn rất nhiều so với hành vi giết người thông thường (Điều 123 BLHS), vì vậy cần phải hết sức thận trọng. Thực tiễn áp dụng tội giết người trong trạng thái TTBKĐM phát sinh một số vấn đề thuộc về lý luận chưa được hướng dẫn, giải thích một cách thoả đáng vì vậy trong hoạt động điểu tra, truy tố, xét xử còn có các quan điểm khác nhau, còn lúng túng khi áp dụng, thậm chí đôi khi các cơ quan tố tụng còn có quan điểm trái ngược nhau về đường lối xử lý. Vậy khi nào thi một người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật bị truy cứu TNHS về tội giết người trong trạng thái TTBKĐM? Trạng thái tinh thần như thế nào là bị kích động mạnh, như thế nào là chưa bị kích động mạnh? phân biệt với tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 51 “Phạm tội trong trường hợp bị kích động vê tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra”.

Cho đến nay các nhà làm luật chưa đưa ra tiêu chí cụ thể, hay một công thức nào để có thể xác định chính xác mức độ tinh thần bị kích động của một người vì đây là một trạng thái “phi vật chất”, và cũng chưa có hướng dẫn nào về việc áp dụng tình tiết này. Chính vì vậy trước một vụ việc xảy ra giữa các cán bộ tiến hành tố tụng có quan điểm cho rẳng người phạm tội được thừa nhận là thực hiện trong trạng thái TTBKĐM, cũng có quan điểm cho rằng chưa phải là kích động mạnh. Việc áp dụng không đúng tình tiết này có thể dẫn đến việc xử lý oan sai, không đúng người, không đúng tội và không đảm bảo pháp chế XHCN. Để áp dụng Điều 125 BLHS năm 2015 được chính xác theo chúng tôi cần nhận thức thống nhất một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về nhận thức chung thì giết người trong trạng thái TTBKĐM thực chất cùng là hành vi giết người, tức là hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật, tuy nhiên nó có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt làm giảm đi đáng kể tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đó là thực hiện trong trạng thái “tinh thần bị kích động mạnh”. Hành vi khách quan tội phạm được thực hiện tương tự như hành vi khách quan trong tội giết người theo Điều 123 BLHS.

Thứ hai, người phạm tội thực hiện hành vi giết người trong trạng thái TTBKĐM. Để xác định thế nào là bị kích động mạnh là một vấn đề hết sức phức tạp. Nghiên cứu thực tiễn xét xử cho thấy, trạng thái TTBKĐM ở đây được hiểu là người ở trong trạng thái tâm lý căng thẳng, ức chế về thần kinh, không còn nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm của hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lúc đó người thực hiện hành vi mất khả năng tự chủ, trạng thái tinh thần của người thực hiện gần như người “điên”, mất lý trí, nhưng chỉ trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ lại trở lại trạng thái bình thường, cần lưu ý, nếu họ thực hiện hành vi trong trạng thái mất hoàn toàn khả năng nhận thức về điều khiển hành vi thì không cấu thành tội phạm vì vậy tất nhiên không thuộc trường hợp này. Trường hợp người phạm tội có bị kích động về tinh thần nhưng chưa tới mức mất khả năng tự chủ thì không gọi là kích động mạnh để xem xét là tình tiết định tội theo quy định tại Điều 125 BLHS. Tuy nhiên trường hợp này họ có thế được thưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 51 BLHS “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp ỉuật cùa người bị hại hoặc người khác gây ra”. Vịệc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không là một vấn đề rất khó khăn, vì đây là yếu tố tâm lý, yếu tố tinh thần không thể lượng hoá, số hoá bằng đơn vị đo lường hay các thiết bị kỹ thuật, vì vậy cần căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, từng vụ việc cụ thể và thông qua hoạt động tư duy chúng ta mới có thể xác định được. Mặt khác, trạng thái tâm lý của con người cũng khác nhau, cùng một sự việc xảy ra nhưng có thề mỗi người có phản ứng và cách xử sự khác nhau do sức khoẻ, bệnh tật, khí chất..., có người bị kích động mạnh về tinh thần, phát điên lên nhưng cũng có người vẫn tỏ ra thản nhiên, kìm nén như không có chuyện gì xảy ra, hoặc không bị kích động mạnh.

Chính vì vậy, theo chúng tôi để xác định cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể và xem xét một cách toàn diện các tình tiết của vụ án như: Hoàn cảnh xảy ra sự việc, quá trình diễn biến của sự việc, biểu hiện, thái độ, cách xử sự của người phạm tội tại thời điểm xảy ra sự việc (lời nói, cử chỉ, hành động, sự la hét, biểu lộ nét mặt...), nghề nghiệp, trình độ văn hoá, hoạt động xã hội, điều kiện sống, tính tình, bệnh tật, hoàn cảnh gia đình, nhân thân người phạm tội, quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, tính chất hành vi trái pháp luật của nạn nhân, quan hệ xã hội mà hành vi trái pháp luật của nạn nhân xâm hại tới.

 Thứ ba, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải là nguyên nhân gây nên tình trạng TTBKĐM ờ người phạm tội. Không phải mọi trường hợp giết người trong trạng thái TTBKĐM đều xử lý theo Điều 125 BLHS. Theo quy định tại khoản 1 Điều 125 thì trạng thái TTBKĐM đó phải do chính hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên. Như vậy, chúng ta cần làm rõ nguyên nhân của tình trạng TTBKĐM này phải xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, nói cách khác giữa hành vi trái pháp luật của nạn nhân và tình trạng TTBKĐM ở người phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả. Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là nguyên nhân còn trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội là hệ quả và nó phải thoả mãn ba điều kiện sau: 1) Hành vi trái pháp luật được coi là nguyên nhân phải có trước trạng thái TTBKĐM ờ người phạm tội về mặt thời gian; 2) Hành vi trái pháp luật phải có đủ khả năng gây nên trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội; 3) Trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội phải do chính hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây nên chứ không phải do hành vi nào khác.

Như vậy, người bị tước đoạt tính mạng (nạn nhân) ở đây bắt buộc phải chính là người đã gây nên tình trạng TTBKĐM ở người phạm tội chứ không phải là người nào khác. Thực tế có trường hợp người bị kích động mạnh về tinh thần đã tước đoạt tính mạng của người khác, người không thực hiện hành vi trái pháp luật, hoặc hành vi của họ không phải là nguyên nhân gây nên trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội thì trường hợp này cũng không cấu thành tội giết người trong trạng thái TTBKĐM.

Chú ý, thực tiễn có trường hợp một người bị kích động mạnh về tinh thần dẫn đến hành vi giết người nhưng trạng thái TTBKĐM đó lại do nhiều nguyên nhân gây ra thì xác định vấn đề này hết sức phức tạp. Vì trạng thái TTBKĐM do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, vậy để xác định chính xác chúng ta cần làm rõ hành vi nào là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân chính, chủ yếu gây nên trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội và nạn nhân bị giết có phải là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng với người phạm tội hay không, hành vi của họ có phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội hay không.

Thứ tư, hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải là trái pháp luật nghiêm trọng.

Vậy hành vi trái pháp luật ở đây là trái pháp luật gì, trái pháp luật hình sự, dân sự hay trái pháp luật hành chính và thế nào là trái pháp luật nghiêm trọng...? Có quan điểm cho rằng hành vi trái pháp luật ở đây phải là trái pháp luật hình sự vì chỉ có trái pháp luật hình sự mới có thể tạo nên trạng thái TTBKĐM ở người khác. Nghiên cứu cho thấy hành vi trái pháp luật của nạn nhân ở đây đa số là trái pháp luật hình sự, xâm.hại đến lợi ích cùa người phạm tội hoặc đối với người thân thích của họ. Hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể xâm phạm đến tình mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người, như giết người, gây thương tích, hiếp dâm, làm nhục người khác... nhưng cũng có một số trường hợp hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản như huỷ hoại tài sản, cướp tài sản, trộm cắp tài sản... Có thể nói những hành vi trái pháp luật hình sự có tính chất mức độ nguy hiểm cao hơn, đặc biệt với những hành vi có tính chất tấn công, vũ lực, côn đồ, dã man, phản trắc bội bạc, trái đạo lý... dễ gây nên trạng thái TTBKĐM ở người bị xâm hại, vì vậy đa số hành vi trái pháp luật trong trường hợp này là trái pháp luật hình sự. Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng luật không quy định hành vi trái pháp luật là trái pháp luật gì, chỉ cần hành vi trái pháp luật nghiêm trọng gây nên trạng thái TTBKĐM ở người phạm tội là thoả mãn cấu thành tội phạm vì vậy hành vi trái pháp luât ở đây còn có thể là trái pháp Luật Hành chính, Luật Lao động, Luật Giao thông, Luật Hôn nhân & Gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình, Luật Bình đẳng giới...

Vậy thế nào là trái pháp luật nghiêm trọng? Việc đánh giá hành vi trái pháp luật của nạn nhân đã đến mức nghiêm trọng hay chưa cũng cần phải xem xét một cách toàn diện. Có hành vi chỉ xảy ra một lần cũng nghiêm trọng, nhưng cũng có hành vi nếu chi xảy ra một lần thì chưa nghiêm trọng nhưng nếu nó được lặp đi lặp lại nhiều lần gây sự dồn nén, ức chế ở người khác đến thời điểm nào đó họ không thể kiềm chế được thì lại trở thành nghiêm trọng. Luật không quy định cụ thể hành vi trái pháp luật thế nào là nghiêm trọng nhưng có thể nhận thức một hành vi trái pháp luật nghiêm trọng ở đây là hành vi trái pháp luật có thể đủ khả năng làm trạng thái tâm lý của người bình thường bị kích thích mạnh về tinh thần, gây ức chế, rối loạn tâm thần, dẫn đến hạn chế khả năng tự chủ.

Thứ năm, hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể được thực hiện với người phạm tội hoặc người thân thích của họ. Một người bị kích động mạnh về tinh thần có thể do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người khác với chính bản thân họ và cũng có thể là với người thân thích của họ. Trường hợp nạn nhân có hành vi trái pháp luật với chính bản thân người phạm tội thì dễ xác định nhưng nếu với người thân thích của người đó thì hiểu người thân thích ở đây là những người nào? Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể, song thực tiễn xét xử chúng ta chỉ coi những người thân thích bao gồm những người có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân, như vợ chồng, con cháu, anh chị em ruột, cha mẹ, ông bà... Tuy nhiên, ngoài ra Toà án cùng công nhận một số trường hợp tuy không phải là quan hệ huyết thống hay hôn nhân mà chỉ là quan hệ thân thuộc giống như anh em ruột thịt.

Thứ sáu, hậu quả tội phạm là dấu hiệu bắt buộc, về mặt lý luận thì tội giết người trong trạng thái TTBKĐM vẫn có thể có giai đoạn phạm tội chưa đạt, tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy việc xác định hết sức khó khăn vì đa số các vụ việc xảy ra người phạm tội ở trong trạng thái tinh thần bị ức chế đến tột đỉnh, vì vậy không còn nhận thức rõ tính chất và hành vi của mình, cũng không thể hiện rõ mục đích phạm tội, thậm chí còn không quan tâm hậu quả đến đâu vì vậy chúng ta rất khó chứng minh về mặt tố tụng. Chính vì vậy thường hậu quả đến đâu chúng ta xử lý đến đó, nếu không chết người mà chỉ gây thương tích 31% trở lên chúng ta chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái TTBKĐM (Điều 135 BLHS).

Liên quan đến việc xác định hậu quả của tội phạm cần phải chú ý phân biệt với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ cùa người khác trong trạng thái TTBKĐM, dẫn đến chết người (khoản 5, Điều 134 BLHS). Việc phân biệt này là rất khó khăn, như trên đã phân tích đối với người bị kích động mạnh về tinh thần khi phạm tội thì không thể xác định được mục đích phạm tội của họ một cách rõ ràng, họ hành động như người mất trí, nên hậu quả đến đâu người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó, khó có thể xác định một người bị kích động mạnh về tinh thần mà còn đủ bình tĩnh để giới hạn hành vi phạm tội chỉ ở mức độ gây thương tích hay là giết người. Tuy nhiên, thực tiễn có trường hợp sau khi bị đánh người bị hại chưa chết ngay mà phải sau đó một thời gian mới chết. Nếu như không ở trong trạng thái TTBKĐM thì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người (khoản 5 và khoản 6  Điều 134 BLHS), nhưng vì người phạm tội thực hiện trong trạng thái TTBKĐM cho nên họ bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái TTBKĐM nhưng dẫn đến hậu quà chết người (theo điểm b, khoản 2, Điều 135 BLHS). Do tình tiết này không có tính khả thi vì vậy chúng tôi cho ràng cần có hướng dẫn cụ thể vì thực tiễn rất khó áp dụng./.

 

Nguồn: Tạp chí Ngành luật số tháng 5/2016 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi