Quyền và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

Trong bài viết này đề cập đến những nội dung sau:

- Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế tạm thời số 120/2004/QĐ-VKSTC ngày 14/9/2004 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự” (sau đây viết tắt là “Quy chế kiểm sát điều tra”) về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường;

- Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường;

- Một số đề xuất, kiến nghị về hoàn thiện Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.

 

1. Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự là một trong những công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân, của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong lĩnh vực công tác này được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và được cụ thể hoá trong Quy chế kiểm sát điều tra.

Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra do Cơ quan điều tra (cụ thể là do Điều tra viên) tiến hành tại nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án. Hoạt động khám nghiệm hiện trường có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Việc khám nghiệm hiện trường tốt sẽ giúp Cơ quan điều tra xác định đúng hướng điều tra, xây dựng đúng giả thuyết điều tra và đối tượng phạm tội… nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội. Ngược lại, nếu hoạt động này thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả các hoạt động điều tra tiếp theo, thậm chí có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Với ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động khám nghiệm hiện trường như vậy, để hạn chế những bất cập, tồn tại trong quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 về khám nghiệm hiện trường, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã có một số sửa đổi, bổ sung quy định này cho cụ thể, rõ ràng hơn nhằm tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường, cụ thể là: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 (Điều 125) thì trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Điều luật không quy định rõ việc báo cho Viện kiểm sát biết có phải là bắt buộc trong mọi trường hợp không? Việc báo cho Viện kiểm sát nhằm mục đích gì? để Viện kiểm sát biết hay là để Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên đến hiện trường thực hiện kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường? Do điều luật quy định không rõ ràng như vậy nên trong thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát những năm trước đây gặp rất nhiều vướng mắc. Khắc phục những hạn chế nêu trên của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (Điều 150) đã bổ sung và quy định rõ: “…Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường…”. Theo tinh thần lời văn của điều luật, cần nhận thức đúng và đầy đủ quy định này như sau:

Một là, việc Điều tra viên thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp trước khi tiến hành khám nghiệm là bắt buộc trong mọi trường hợp;

Hai là, việc Kiểm sát viên có mặt tại hiện trường để kiểm sát việc khám nghiệm là bắt buộc trong mọi trường hợp.

Như vậy, liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã khẳng định rõ trong mọi trường hợp, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tại hiện trường vụ án (chứ không chỉ trên sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường và các hồ sơ, tài liệu do Cơ quan điều tra cung cấp sau khi đã khám nghiệm xong).

Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đã được cụ thể hoá trong Quy chế kiểm sát điều tra (Điều 17). Để nhận thức đúng và đầy đủ quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường thì cần lưu ý đến một số vấn đề sau:

Thứ nhất, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra thì Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường tại hiện trường vụ án trong tất cả các vụ khám nghiệm hiện trường, hay nói cách khác, trong mọi trường hợp Cơ quan điều tra (kể cả trường hợp cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra) tiến hành khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên đều phải có mặt để trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Tuy nhiên, thực tế hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường của Viện kiểm sát các địa phương những năm qua cho thấy: Không phải mọi trường hợp khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra đều có sự tham gia của Kiểm sát viên để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Theo số liệu báo cáo của 60/64 Viện kiểm sát tỉnh, thành phố trong hai năm 2005 - 2006, toàn Ngành đã kiểm sát 66.292 cuộc khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi, trong đó: Có 39.505 vụ tai nạn giao thông (phần lớn là cấp huyện); 2.421 vụ giết người; 2.076 vụ tự sát; 983 vụ tai nạn lao động; 788 vụ cháy nổ; 2.458 vụ chết không rõ nguyên nhân; 18.061 vụ về các loại tội phạm khác (bao gồm các loại tội như trộm cắp, cướp giật, hiếp dâm, cố ý gây thương tích…). Theo báo cáo của các Viện kiểm sát địa phương thì các vụ khám nghiệm hiện trường có người chết đã được kiểm sát 100%. Đối với các vụ khám nghiệm hiện trường khác, sự tham gia của Kiểm sát viên để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường chưa đạt được tỷ lệ 100% theo quy định của pháp luật (chủ yếu là các trường hợp tai nạn giao thông không có người chết nhưng Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra) đã không thông báo cho Viện kiểm sát hoặc có thông báo nhưng Viện kiểm sát đã không cử Kiểm sát viên tham gia khám nghiệm).

Đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền cấp tỉnh xảy ra trên địa bàn cấp huyện thì theo quy định, Viện kiểm sát cấp huyện không trực tiếp thực hiện kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường mà phải báo cáo ngay cho Viện kiểm sát cấp tỉnh biết để phân công Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, đồng thời áp dụng mọi biện pháp để yêu cầu Cơ quan điều tra bảo vệ hiện trường vụ án. Mặc dù Quy chế kiểm sát điều tra quy định như vậy nhưng điều đó không có nghĩa là Viện kiểm sát cấp huyện thụ động chờ Viện kiểm sát cấp tỉnh giải quyết theo thẩm quyền mà trong những trường hợp không thể trì hoãn, Viện kiểm sát cấp huyện cần yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện ngay các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ của vụ án (ví dụ: Trong trường hợp người bị hại, người làm chứng có thể chết hoặc mất khả năng khai báo thì Viện kiểm sát cấp huyện phải chủ động yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai và ghi âm lời khai của họ chứ không chờ Viện kiểm sát cấp tỉnh đến…).

Theo quy định của Quy chế kiểm sát điều tra thì đối với những vụ việc, gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, những vụ giết người không quả tang hoặc phức tạp thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Quy định này nhằm tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Lãnh đạo Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế còn gặp nhiều bất cập và chưa được một số địa phương quan tâm thực hiện.

Thứ hai, để thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường thì yêu cầu đặt ra đối với Kiểm sát viên là cần nhận thức đúng và đầy đủ địa vị pháp lý cũng như nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trước, trong và sau khi khám nghiệm hiện trường.

Theo quy định của pháp luật hiện hành (Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003) thì hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường của Kiểm sát viên là hoạt động kiểm sát điều tra (kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia vào quá trình khám nghiệm hiện trường), đồng thời còn là hoạt động thực hành quyền công tố (thể hiện ở việc Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ tại hiện trường). Hoạt động của Kiểm sát viên tại hiện trường không phải là “tham gia” khám nghiệm hiện trường cùng với Điều tra viên, càng không phải là “chứng kiến” hoạt động khám nghiệm hiện trường của Điều tra viên.

Trước khi khám nghiệm hiện trường: Quy chế kiểm sát điều tra yêu cầu trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải chủ động nắm tình hình, yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm. Việc nắm chắc tình hình ban đầu về diễn biến sự việc xảy ra giúp cho Kiểm sát viên hình dung được khối lượng công việc, phương pháp, trình tự, phạm vi công việc cần phải tiến hành, đồng thời để tham gia ý kiến đối với Cơ quan điều tra trong quá trình chuẩn bị tiến hành khám nghiệm. Thực tế cho thấy yêu cầu nêu trên của Quy chế kiểm sát điều tra chưa được một số địa phương quan tâm để yêu cầu Kiểm sát viên thực hiện. Một số Kiểm sát viên do không nắm được tình hình ban đầu về diễn biến sự việc nên trong quá trình khám nghiệm hiện trường còn rất lúng túng, bị động, không xác định được phạm vi, trình tự tiến hành công việc, những vật chứng, dấu vết cần thu giữ tại hiện trường… và như vậy đã không thực hiện được đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm.

Để bảo đảm hoạt động khám nghiệm hiện trường được thực hiện đúng thẩm quyền và thành phần theo quy định của pháp luật thì Kiểm sát viên cần kiểm tra tư cách pháp lý của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm (Điều tra viên hoặc người có thẩm quyền của cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Giám định viên, Kỹ thuật viên) và những người tham gia khám nghiệm (người chứng kiến, bị can, người làm chứng, người bị hại…).

Để lựa chọn phương pháp khám nghiệm hiện trường một cách khoa học, phù hợp và có hiệu quả, phục vụ tốt cho các hoạt động điều tra tiếp theo thì trước khi tiến hành khám nghiệm, Kiểm sát viên cần chủ động trao đổi, thống nhất với Điều tra viên về đánh giá tính chất của hiện trường vụ án xem hiện trường đó còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn, hiện trường giả hay thật…, trên cơ sở đó, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên thực hiện việc phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên tham gia hoạt động khám nghiệm.  

Trong quá trình khám nghiệm hiện trường: Khi tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ và chủ động yêu cầu Điều tra viên tiến hành khám nghiệm hiện trường theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Để thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình thì Kiểm sát viên cần phải luôn chủ động để có thể kiểm sát chặt chẽ toàn bộ hoạt động khám nghiệm hiện trường của Điều tra viên, Giám định viên, Kỹ thuật viên từ khi bắt đầu đến khi kết thúc để bảo đảm hoạt động này được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đồng thời kịp thời phát hiện những vi phạm, thiếu sót trong quá trình thực hiện khám nghiệm để yêu cầu khắc phục.

Quá trình phát hiện, thu giữ dấu vết, vật chứng tại hiện trường cần được Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ để bảo đảm việc thu giữ đúng pháp luật. Trong trường hợp không thể xem xét ngay được đồ vật và tài liệu tại hiện trường thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong để đưa về nơi tiến hành điều tra nhằm tránh mất mát, hư hỏng hoặc bị thay đổi. Việc chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình hiện trường… cần được Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ để bảo đảm tính chính xác, khách quan và hợp pháp.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Quy chế kiểm sát điều tra thì khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên có thể chụp ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án, lấy lời khai và ghi âm lời khai của người bị hại, người làm chứng…, các tài liệu này được lưu trong hồ sơ kiểm sát điều tra vụ án. Đây là quy định không mang tính bắt buộc đối với Kiểm sát viên, do vậy tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Kiểm sát viên có thể thực hiện một hoặc một số hoạt động nêu trên. Vấn đề Kiểm sát viên cần chú ý khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là cần ghi chép tỉ mỉ các số liệu đo đạc tại hiện trường, các hoạt động của Điều tra viên, Giám định viên, kỹ thuật viên… để đưa vào biên bản khám nghiệm hiện trường một cách chính xác.

Về việc kiểm sát biên bản khám nghiệm hiện trường, Quy chế kiểm sát điều tra chỉ quy định mang tính nguyên tắc là phải kiểm sát chặt chẽ và chủ động yêu cầu Điều tra viên làm đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 154 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, cần lưu ý là trước khi ký xác nhận vào biên bản khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên cần xem xét kỹ nội dung biên bản xem có phản ánh đầy đủ, khách quan, toàn diện kết quả khám nghiệm hiện trường không? Trong trường hợp phát hiện biên bản ghi không chính xác thì Kiểm sát viên phải có ý kiến, yêu cầu bổ sung, khắc phục.

Sau khi khám nghiệm hiện trường: Theo quy định của Quy chế kiểm sát điều tra thì sau khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng kết quả kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Đây là quy định mang tính bắt buộc đối với Kiểm sát viên phải thực hiện trên cơ sở đó để Lãnh đạo Viện có hướng chỉ đạo các hoạt động nghiệp vụ tiếp theo trong quá trình điều tra, phá án. Nếu trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trường xác định có dấu hiệu của tội phạm mà Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án thì Kiểm sát viên báo cáo với Lãnh đạo Viện để yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án để tiến hành điều tra.       

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

Thực tiễn hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường của Viện kiểm sát những năm qua cho thấy: Việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường đang gặp một số khó khăn, vướng mắc, bất cập sau:

Một là, nhận thức về địa vị pháp lý, về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của một số Kiểm sát viên (thậm trí cả Lãnh đạo một số Viện kiểm sát) trong hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra còn chưa đầy đủ, thể hiện trên một số mặt sau:

- Mặc dù theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc Kiểm sát viên có mặt tại hiện trường để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là bắt buộc trong mọi trường hợp nhưng trong thực tế tại một số địa phương vẫn xảy ra trường hợp vì những lý do khác nhau, Viện kiểm sát đã không cử Kiểm sát viên đến hiện trường để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc khám nghiệm mà thực hiện hoạt động kiểm sát trên biên bản khám nghiệm và các hồ sơ, tài liệu có liên quan do Cơ quan điều tra cung cấp.

- Một số địa phương đã cử cả cán bộ không có chức danh pháp lý (Kiểm sát viên) đi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, và như vậy là vi phạm tố tụng.

- Trong trường hợp việc khám nghiệm hiện trường do cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (như lực lượng Cảnh sát giao thông chẳng hạn) thực hiện (theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Điều 23 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự), một số Viện kiểm sát không cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm với lý do: Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì việc khám nghiệm hiện trường do Điều tra viên tiến hành, cán bộ của cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành khám nghiệm không phải là Điều tra viên, do đó Viện kiểm sát không có trách nhiệm cử Kiểm sát viên đi kiểm sát khám nghiệm(?).

- Một số Kiểm sát viên do nhận thức chưa đầy đủ về quyền hạn và trách nhiệm của mình khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc khám nghiệm nên hầu như không thực hiện hoạt động tác nghiệp nào tại hiện trường, chỉ thụ động “chứng kiến” việc khám nghiệm của Điều tra viên và các thành viên đoàn khám nghiệm và ký xác nhận vào biên bản khám nghiệm.

Hai là, một số Kiểm sát viên khi thực hiện hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm nên thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự và được cụ thể hoá trong Quy chế kiểm sát điều tra, do đó không phát hiện được vi phạm, thiếu sót của Điều tra viên và các thành viên tham gia khám nghiệm hoặc có phát hiện được vi phạm nhưng do nể nang nên không đấu tranh yêu cầu khắc phục vi phạm. Một số Kiểm sát viên do không kiểm sát chặt chẽ toàn bộ hoạt động khám nghiệm nên để xảy ra nhiều thiếu sót, gây ảnh hưởng đến hoạt động điều tra phá án sau này…

3. Một số đề xuất, kiến nghị về hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

Để nâng cao hơn nữa chất lượng kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới thì cần áp dụng đồng bộ hệ thống các giải pháp. Liên quan đến việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Quy chế kiểm sát điều tra về hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, xin đưa ra một số đề xuất, kiến nghị sau:

Về việc hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003: Đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về khám nghiệm hiện trường (Điều 150 Bộ luật Tố tụng Hình sự) theo hướng:

+ Quy định việc khám nghiệm hiện trường do Điều tra viên và người có thẩm quyền của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành;

+ Quy định rõ trong luật việc thông báo cho Viện kiểm sát trước khi tiến hành khám nghiệm là bắt buộc trong mọi trường hợp. Việc không thông báo trước cho Viện kiểm sát được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và kết quả hoạt động khám nghiệm hiện trường không có sự tham gia của Kiểm sát viên là không có giá trị chứng minh tội phạm;

+ Quy định rõ trong luật việc Kiểm sát viên có mặt tại hiện trường để thực hiện hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là bắt buộc trong mọi trường hợp.

+ Quy định cụ thể trong luật nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hiện các hành vi tố tụng trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, về hậu quả pháp lý trong trường hợp Kiểm sát viên thực hiện không đúng, không đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định.

Về việc hoàn thiện quy định của Quy chế kiểm sát điều tra: Đề nghị sớm ban hành Quy chế chính thức để thay thế Quy chế tạm thời hiện nay.

Đề nghị quy định cụ thể, rành mạch, rõ ràng hơn nữa nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trước, trong và sau khi kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Có thể ban hành Quy trình hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, trong đó quy định từng thao tác cụ thể mà Kiểm sát viên cần thực hiện, đặc điểm hoạt động kiểm sát đối với một số loại hiện trường vụ án…

Đề nghị không quy định “cứng” những trường hợp Viện trưởng, Phó Viện trưởng trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường như hiện nay (các Cơ quan điều tra không có những quy định tương tự về việc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tiến hành khám nghiệm hiện trường như quy định của Viện kiểm sát) mà quy định lại linh hoạt hơn theo hướng: Tuỳ từng trường hợp cụ thể (một số rất ít các trường hợp mang tính chất cá biệt, đặc biệt phức tạp…) mà Viện trưởng Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc uỷ quyền cho Phó Viện trưởng trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.

Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới một số văn bản pháp luật khác về các vấn đề có liên quan như: Phân cấp thẩm quyền kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; việc uỷ thác thực hiện kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường; cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và các cơ quan khác có thẩm quyền trong hoạt động khám nghiệm hiện trường./.

Lê Minh Tuấn

(Vụ 1A , Viện kiểm sát nhân dân tối cao - nguồn TCKS số 10/2007)
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi