Bàn về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự

Thạc sĩ Phạm Xuân Khoa - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Qua nghiên cứu và thực tế chúng tôi thấy rằng: Các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 vẫn chưa thể hiện được rõ và đầy đủ vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên để đảm bảo được tính độc lập trong tố tụng hình sự… Điều đó đặt ra nhu cầu là phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đảm bảo thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong phạm vi bài viết này tác giả xin bàn về các nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn; những bất cập của của Bộ luật Tố tụng Hình sự về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên và đề xuất phương hướng giải quyết những bất cập đó.

1. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự

Điều 37 BLTTHS 2003 quy định tương đối đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố vụ án đến giai đoạn thi hành bản án. Để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình; Kiểm sát viên cần thực hiện tốt những yêu cầu sau:

Trong giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án hình sự:

- Theo quy định của BLTTHS 2003, khi phát hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 111) phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra vụ án là người trực tiếp kiểm sát việc khởi tố. Khi thực hiện quyền này, Kiểm sát viên có trách nhiệm phải kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định được hành vi phạm tội và dựa trên những cơ sở được nêu ở Điều 100 BLTTHS. Nếu phát hiện việc khởi tố không theo quy định tại điều luật này thì Kiểm sát viên phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát để ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó.

- Khi kiểm sát hoạt động điều tra, Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ vụ án hình sự của Cơ quan điều tra và bám sát hoạt động điều tra. Việc này giúp Kiểm sát viên nắm chắc toàn bộ tiến độ điều tra vụ án và kịp thời phát hiện những vi phạm của Cơ quan điều tra trong việc thu thập chứng cứ. Từ đó, Kiểm sát viên chủ động hơn trong việc yêu cầu Điều tra viên kịp thời khắc phục những sai sót trong hoạt động điều tra.

- Kiểm sát viên là người thực hiện việc buộc tội người có hành vi phạm tội tại phiên tòa, vì vậy phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo chứng cứ chứng minh tội phạm. Để thực hiện tốt việc đó, trong quá trình điều tra vụ án, Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra. Việc đề ra yêu cầu điều tra tác động trực tiếp đến hoạt động điều tra chứng minh tội phạm của Cơ quan điều tra và là sự định hướng cho hoạt động điều tra được tiến hành một cách khoa học, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo sự khách quan và sát với tình hình thực tế. Chỉ có Kiểm sát viên là người trực tiếp bám sát vụ án mới có thể nắm được những vấn đề cần chứng minh để đề ra yêu cầu điều tra một cách xác thực.

- Theo quy định của BLTTHS thì Kiểm sát viên có thẩm quyền ban hành giấy triệu tập và khi nhận được giấy triệu tập thì các chủ thể trên bắt buộc phải có mặt để trả lời câu hỏi của Kiểm sát viên. Trên thực tế đối với những bị can bị tạm giam thì Kiểm sát viên thường phải trực tiếp đến trại giam để tiến hành việc hỏi cung bị can. Trước khi tiến hành hỏi cung bị can hay lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Kiểm sát viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng các vấn đề cần hỏi để chứng minh tội phạm.

Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như: bắt, tạm giữ, tạm giam. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn này phải đảm bảo việc tuân thủ đúng quy định tại các Điều 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90 của BLTTHS năm 2003.

Trong giai đoạn truy tố:

Trong giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên có vai trò trong việc giúp Viện trưởng ra các quyết định tố tụng quan trọng. Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, kiểm tra các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, căn cứ pháp lý… để đề xuất Viện trưởng ra các quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án (Điều 166).

Trong giai đoạn xét xử:

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ để chuẩn bị đề cương xét hỏi, bản luận tội và đặc biệt quan trọng là chuẩn bị tốt cho việc tranh luận tại phiên tòa. Trước khi mở phiên tòa “Nếu xét thấy có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của Bộ luật này hoặc có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự, thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.” (Điều 181).

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đóng vai trò là người buộc tội. Quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát được thể hiện bằng bản Cáo trạng và Kiểm sát viên là người trực tiếp bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Kiểm sát viên cần nắm chắc toàn bộ tiến trình điều tra vụ án và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Việc chuẩn bị tốt cho việc tranh tụng tại phiên tòa có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên.

- Kiểm sát viên có quyền quyết định việc rút một phần (hoặc toàn bộ cáo trạng) hoặc kết luận về một tội khác nhẹ hơn tại phiên tòa (Điều 221).

2. Tính độc lập của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự

Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Kiểm sát viên được quyền thực hiện tất cả những công việc thuộc thẩm quyền của mình được quy định tại Điều 37 BLTTHS 2003 mà không cần phải xin ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Điều này thể hiện rõ tính độc lập của Kiểm sát viên khi tham gia việc giải quyết vụ án hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Kiểm sát viên phải thường xuyên báo cáo tình hình, tiến độ giải quyết vụ án với lãnh đạo Viện và tham mưu cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng ban hành các lệnh, quyết định thuộc thẩm quyền của họ. Hay nói cách khác, Kiểm sát viên sử dụng những thẩm quyền mà BLTTHS giao cho mình để thực hiện những lệnh, quyết định của lãnh đạo Viện kiểm sát ban hành.

Như vậy, tính độc lập của Kiểm sát viên chỉ là sự độc lập tương đối, bởi lẽ, nó luôn nằm trong mối quan hệ quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên chỉ sử dụng thẩm quyền của mình để thực hiện ý chí, quan điểm giải quyết vụ án của Viện trưởng, Phó Viện trưởng thông qua các lệnh, quyết định. Thế nhưng, Viện trưởng, Phó Viện trưởng lại không phải là người trực tiếp bám sát quá trình giải quyết vụ án, việc ra các lệnh, quyết định của họ chỉ dựa trên sự báo cáo, tham mưu của Kiểm sát viên điều này có thể dẫn đến những tình trạng như:

Thứ nhất, Kiểm sát viên là người trực tiếp tham gia giải quyết vụ án nên là người nắm rõ các tình tiết và những yêu cầu sát thực nhất trong việc giải quyết vụ án. Thế nhưng, Kiểm sát viên lại không được quyền ban hành các lệnh, quyết định tố tụng mà là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát điều này dẫn đến việc ra các lệnh, quyết định tố tụng có lúc không được kịp thời, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án.

Thứ hai, điều này có thể dẫn đến tình trạng trách nhiệm không rõ ràng giữa chủ thể ban hành lệnh, quyết định với chủ thể thực hiện các lệnh, quyết định đó.

Thứ ba, không đề cao được vai trò, trách nhiệm, tính độc lập của Kiểm sát viên khi được phân công tiến hành tố tụng.

Để khắc phục được tình trạng này, Bộ luật Tố tụng Hình sự cần phải sửa đổi theo hướng phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp (hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân) với thẩm quyền tố tụng để tăng cường tính độc lập của Kiểm sát viên khi tham gia giải quyết vụ án. Cụ thể là:

- Đối với Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nên tập trung vào nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo, điều hành như: phân công, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động tố tụng của Kiểm sát viên; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Kiểm sát viên; quyết định việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, quyết định việc truy tố, quyết định đình chỉ vụ án…

- Đối với Kiểm sát viên cần mạnh dạn tăng thẩm quyền cho họ để nâng cao tính độc lập, tính trách nhiệm trong việc giải quyết vụ án. Có ý kiến cho rằng, việc tăng thẩm quyền cho Kiểm sát viên phải dựa trên tiêu chí năng lực của đội ngũ Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân. Bởi lẽ, hiện nay năng lực, trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên không đồng đều nếu tăng thẩm quyền một cách rộng rãi, cào bằng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động tố tụng. Theo Tiến sĩ, Đỗ Văn Đương (UBTP của Quốc hội) thì:

- Kiểm sát viên sơ cấp chỉ được thực hiện một số hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử theo sự phân công của KSV trung cấp, KSV cao cấp;

- Kiểm sát viên trung cấp trở lên mới được phân công thụ lý chính vụ án, có quyền phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; gia hạn điều tra vụ án; áp dụng các biện pháp ngăn chặn trừ biện pháp tạm giam; yêu cầu khởi tố vụ án, yêu cầu khởi tố bị can hoặc trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can yêu cầu điều tra; quyết định trưng cầu giám định; cấp giấy chứng nhận người bào chữa; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; xử lý vật chứng.

- Kiểm sát viên cao cấp có quyền hạn như KSV trung cấp và giao thêm quyền tạm đình chỉ vụ án, phục hồi truy tố, chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền.

- Kiểm sát viên VKSNDTC sẽ chỉ còn khoảng 17 người, có quyền hạn tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS cấp tỉnh (Quyết định việc bắt, việc tạm giạm, việc truy tố, quyết định đình chi vụ án) đối với những vụ án do cấp trung ương thụ lý.

Đây là một quan điểm có tính khoa học và sát với tình trạng năng lực, trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân hiện nay. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, đề xuất này không có tính khả thi cao. Bởi lẽ, nó không phù hợp với tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ của ngành Kiểm sát. Hiện nay, ở Viện kiểm sát cấp huyện biên chế Kiểm sát viên trung cấp là rất ít (chủ yếu là Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, bổ nhiệm theo tỷ lệ Kiểm sát viên của mỗi Viện kiểm sát). Vì vậy, nếu quy định như trên, trách nhiệm giải quyết các vụ án dồn vào đội ngũ lãnh đạo Viện, Kiểm sát viên sơ cấp chỉ làm một số công việc được giao. Điều này làm giảm vai trò của Kiểm sát viên tại các Viện kiểm sát cấp huyện.

Vì vậy, chỉ khi nào biên chế ở mỗi cấp kiểm sát có tất cả các loại Kiểm sát viên (KSV sơ cấp, KSV trung cấp, KSV cao cấp) mới có thể thực hiện được ý kiến đề xuất trên mà điều đó là rất khó thực hiện. Chính vì vậy, tác giả đề xuất chỉ cần quy định chung theo hướng tăng cho Kiểm sát viên  một số thẩm quyền tố tụng phù hợp với mặt bằng chung về năng lực, trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên ngành Kiểm sát nhân dân. Quy định như vậy vừa thể hiện được vị trí, vai trò của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự vừa làm giảm bớt gánh nặng cho lãnh đạo các cấp Kiểm sát.

3. Kiến nghị sửa đổi hoàn thiện một số điều luật trong Bộ luật Tố tụng Hình sự nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng hình sự

- Về nội dung Điều 37 BLTTHS:

Khoản 4 Điều 103 quy định: “Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”. Trong thực tế, Kiểm sát viên là người được phân công làm công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, hiện nay khoản 1 Điều 37 BLTTHS 2003 chưa có quy định cho Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 111). Theo quy định tại Điều 112: “... khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, Kiểm sát viên cũng có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra. Tuy nhiên, Điều 37 BLTTHS 2003 chưa quy định về thẩm quyền này. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính độc lập của Kiểm sát viên như phân tích ở phần trên, cần bổ sung cho họ nhiều thẩm quyền tố tụng hơn nữa.

Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung nội dung sau:

- Khoản 1 của Điều 37 BLTTHS 2003 như sau:

“Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên

1. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a) Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra;

b) Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra;

c) Đề ra yêu cầu điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này;

d) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn (trừ biện pháp tạm giam); quyết định gia hạn điều tra; quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

đ) Quyết định trưng cầu giám định; quyết định xử lý vật chứng;

e) Quyết định cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa;

...”

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát (Số 23 tháng 12 năm 2014)

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi