Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn, vướng mắc, kiến nghị hoàn thiện

ThS. Thái Chí Bình

Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp được nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII: “…Nghiên cứu thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng…” và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/12/2002 của Bộ Chính trị: “…Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng”, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (viết tắt là BLTTHS) đã quy định thủ tục rút gọn (sau đây viết tắt là TTRG) tại Chương XXXIV gồm 07 điều từ Điều 318 đến Điều 324 bao gồm các vấn đề phạm vi, điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục áp dụng. Nhìn chung, quy định về TTRG trong BLTTHS đã đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp cũng như kế thừa các hướng dẫn về TTRG trong các văn bản pháp luật trước đó.[1] Theo đó, các quy định về TTRG trong BLTTHS đã đơn giản về thủ tục, rút ngắn về thời gian giúp giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo việc xác định sự thật khách quan của vụ án, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng mà trực tiếp là quyền của bị can, bị cáo. Tuy nhiên, thực tế, số lượng các vụ án được giải quyết theo TTRG không đáng kể so với số vụ án mà các các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết hàng năm. Nguyên nhân của tình trạng này do các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện còn thụ động, chưa nhận thức đầy đủ mục đích, ý nghĩa của TTRG trong việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự; trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng (chủ yếu là Điều tra viên, Kiểm sát viên) còn có những hạn chế nhất định; áp lực do công việc nên chưa chủ động áp dụng chế định này. Bên cạnh đó, còn xuất phát từ quy định của BLTTHS còn chưa hoàn chỉnh về trình tự, thủ tục tiến hành; tính ràng buộc cũng như trách nhiệm khi không áp dụng thủ tục này chưa được quy định nên tạo sự tùy nghi trong việc áp dụng; các điều kiện áp dụng chưa bám sát thực tiễn, quy định còn chung chung, thiếu chặt chẽ; thời gian giải quyết quá ngắn nên gây áp lực cho cơ quan, người tiến hành tố tụng khi áp dụng thủ tục này.

Vì vậy, để góp phần phát huy ý nghĩa, vai trò của TTRG trong giải quyết các vụ án hình sự, cần thiết phải hiểu rõ quy định của BLTTHS về TTRG; những vướng mắc, bất cập qua thực tiễn áp dụng; những yêu cầu cần phải đảm bảo khi xây dựng quy định TTRG trong tố tụng hình sự và đề xuất kiến nghị hoàn thiện thủ tục này.

1. Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn

1.1. Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Theo Điều 318 BLTTHS, TTRG được áp dụng đối với việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm theo quy định của Chương XXXIV BLTTHS và những quy định khác của BLTTHS nhưng không trái với những quy định của Chương XXXIV BLTTHS.

TTRG là 01 trong 03 thủ tục đặc biệt được BLTTHS quy định bên cạnh thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên và thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Xuất phát từ mục đích của việc áp dụng TTRG là rút ngắn thời gian giải quyết vụ án; tăng cường hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, giúp cơ quan tiến hành tố tụng tập trung giải quyết các vụ án phức tạp; tiết kiệm thời gian kinh phí của cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; khắc phục án tồn đọng cho nên phạm vi áp dụng TTRG chỉ áp dụng ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm mà không áp dụng đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Bởi vì, khi vụ án xét xử ở giai đoạn phúc thẩm, xem xét theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm thì vụ án cần được xem xét thận trọng nên cần có thời gian để nghiên cứu, đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án.

Bên cạnh đó, khi đã quyết định giải quyết vụ án theo TTRG thì quy định tại Chương XXXIV BLTTHS sẽ ưu tiên được áp dụng trước. Đồng thời, để tránh quy định về TTRG một cách rườm rà và tận dụng các quy định chung về thủ tục giải quyết vụ án, đối với những thủ tục mà Chương XXXIV BLTTHS không quy định thì được áp dụng quy định khác của BLTTHS để giải quyết nhưng phải đảm bảo các đặc thù về việc giải quyết vụ án theo TTRG, nhất là phải đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án.

1.2. Về điều kiện áp dụng TTRG

Theo Điều 319 BLTTHS, việc áp dụng TTRG phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau: (1) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; (2) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; (3) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng và (4) Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng. Chỉ khi nào đảm bảo tất cả các điều này thì TTRG mới được áp dụng. Nếu thiếu 01 trong 04 điều kiện này thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục chung.

1.2.1. Về điều kiện “người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang”

Theo Điều 82 BLTTHS, bắt người phạm tội quả tang là trường hợp người đang thực tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Trong đó, người đang thực hiện tội phạm là trường hợp người phạm tội đang thực hiện hành vi được mô tả trong một cấu thành tội phạm cụ thể thì bị phát hiện; người bị phát hiện ngay sau khi thực hiện tội phạm là trường hợp vừa thực hiện tội phạm xong, người phạm tội chưa kịp hoặc đang cất giấu phương tiện, công cụ phạm tội, đang xoá dấu vết của tội phạm … thì bị phát hiện và bị bắt giữ; người thực hiện hành vi phạm tội bị đuổi bắt là trường hợp người đó đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt.

Khi bắt người phạm tội quả tang, thông thường người phạm tội thừa nhận tội đã thực hiện; chứng cứ đầy đủ, rõ ràng; những người tham gia tố tụng được xác định đầy đủ nhất là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến vụ án. Cho nên, việc giải quyết những vụ án mà người phạm tội bị bắt quả tang sẽ đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án.

1.2.2. Về điều kiện “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng”[2]

Sự việc đơn giản được hiểu là những vụ án có những tình tiết không phải mất nhiều thời gian để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh. Việc xác định các tình tiết của vụ án được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng. Chứng cứ rõ ràng là những chứng cứ chứng minh nhanh chóng, chính xác các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự như: hành vi phạm tội xảy ra; thời gian, địa điểm phạm tội, người thực hiện tội phạm; lỗi của người thực hiện tội phạm; những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đồng thời, những chứng cứ này được thu thập tương đối dễ dàng, đầy đủ ngay từ đầu. Thông thường, chúng có thể được xác định thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người tham gia tố tụng có mặt tại nơi xảy ra tội phạm và vật chứng được thu thập tại hiện trường.

Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng phải được thể hiện trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Nếu trong quá trình đó, mặc dù đã áp dụng TTRG nhưng khi vụ án có những tình tiết phức tạp cần phải có thời gian dài để điều tra, xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ thì phải hủy bỏ việc áp dụng TTRG và vụ án phải được giải quyết theo thủ tục chung.

1.2.3. Về điều kiện “tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”

Theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (viết tắt là BLHS), tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 3 năm tù.

Việc quy định điều kiện này sẽ giới hạn các loại tội phạm có thể áp dụng TTRG, tránh sự tùy tiện của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Đồng thời, do hậu quả mà loại tội phạm này gây ra cho xã hội là không lớn, trách nhiệm pháp lý (chủ yếu là trách nhiệm hình sự) đối với người phạm tội cũng không cao cho nên việc điều tra, truy tố, xét xử có thể tiến hành nhanh chóng, ít có khả năng xảy ra sai sót, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng, nhất là người phạm tội.

Khi đánh giá điều kiện này để quyết định áp dụng TTRG đối với những điều luật vừa quy định tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng thì cơ quan, người tiến hành tố tụng cần phải xem xét kỹ quy định về cấu thành cơ bản cũng như những tình tiết định khung cấu thành tăng năng như: tình tiết thuộc về nhân thân, tiền án, tiền sự, đối tượng tác động của tội phạm… để xác định hành vi phạm tội thuộc vào khoản nào của Điều luật. Tránh ban hành quyết định áp dụng TTRG rồi phải hủy bỏ, giải quyết vụ án theo thủ tục chung do vi phạm điều kiện này.

1.2.4. Về điều kiện “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng

Đây là điều kiện thuộc về đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Theo khoa học luật hình sự, nhân thân của người phạm tội được hiểu là tổng thể các đặc điểm có nghĩa về mặt xã hội của người thực hiện hành vi phạm tội như: giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc, thành phần xã hội, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hoàn cảnh gia đình, quá trình hoạt động chính trị, xã hội, tính tình, tác phong, tiền án, tiền sự… Các đặc điểm này cần được cân nhắc khi giải quyết các vấn đề trong vụ án hình sự như: trách nhiệm hình sự (cấu thành tội phạm, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, biện pháp tư pháp…); vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (nghĩa vụ bồi thường)... Cho nên, trong vụ án hình sự, muốn xử lý nghiêm minh hành vi phạm tội của người phạm tội cần phải làm rõ căn cước, lai lịch của họ.

Do vụ án được giải quyết theo TTRG rút ngắn về thời gian giải quyết vụ án nên căn cước, lai lịch của người phạm tội phải dễ dàng xác định, không có những yếu tố phức tạp để tránh tốn thời gian điều tra, xác minh làm rõ dẫn đến vi phạm thời hạn giải quyết vụ án.

1.3. Về thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn

Theo khoản 1 Điều 320 BLTTHS, sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện áp dụng TTRG thì Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng TTRG.

Với quy định này, cơ quan có thẩm quyền áp dụng TTRG là Viện kiểm sát cùng cấp với Cơ quan điều tra đã ban hành quyết định khởi tố vụ án. Đồng thời, Viện kiểm sát có quyền quyết định áp dụng TTRG trong 02 trường hợp: (1) theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc là (2) tự mình áp dụng TTRG nếu qua hoạt động kiểm sát thấy rằng vụ án có đủ điều kiện áp dụng TTRG nhưng Cơ quan điều tra không áp dụng.

Việc quy định thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà ở đây là kiểm sát hoạt động xử lý tin báo về tội phạm, khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra. Đặc thù của TTRG là rút ngắn thời gian giải quyết vụ án nên dễ ảnh hưởng đến quyền lợi của người phạm tội. Cho nên, để đảm bảo khách quan, hạn chế sự tùy tiện của Cơ quan điều tra, thẩm quyền này được trao cho Viện kiểm sát.

Theo khoản 2 Điều 320 BLTTHS, quyết định áp dụng TTRG được gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành các hoạt động tố tụng phục vụ cho việc điều tra, truy tố. Bên cạnh đó, quyết định này còn phải được gửi cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng TTRG. Quy định này nhằm bảo đảm một cách tốt nhất quyền lợi của người phạm tội. Bởi vì, mục đích của việc áp dụng TTRG nhằm phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là chính (chủ yếu là tránh tồn đọng án, bớt chi phí tiến hành các hoạt động tố tụng), trong khi đó, các điều kiện áp dụng TTRG, không có điều kiện phải có sự chấp nhận áp dụng của người phạm tội.

Theo khoản 3 Điều 320 BLTTHS, trong trường hợp không đồng ý với việc áp dụng TTRG, người phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng TTRG. Thời hiệu khiếu nại là ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng TTRG và phải được giải quyết trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quy định này nhằm đảm bảo việc áp dụng TTRG là đúng đắn, tránh sự tùy tiện khi áp dụng.

Mặc dù, BLTTHS không quy định kết quả giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, với tinh thần của điều luật thì có thể hiểu Viện kiểm sát sẽ xem xét lại tính có căn cứ của quyết định áp dụng TTRG. Trong trường hợp quyết định áp dụng TTRG không có căn cứ thì Viện kiểm sát chấp nhận khiếu nại, hủy bỏ TTRG và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

1.4. Về điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn

1.4.1. Về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử

Theo quy định tại các Điều 321, 323 và 324 BLTTHS, thời hạn tiến hành các giai đoạn tố tụng điều tra, truy tố, xét xử ngắn hơn theo thủ tục chung. Theo đó, thời hạn tiến hành tố tụng theo TTRG không quá 30 ngày. Trong đó, thời hạn điều tra không quá 12 ngày; thời hạn truy tố không quá 04 ngày và thời hạn xét xử không quá 14 ngày (thời hạn chuẩn bị xét xử là 07 ngày và thời hạn mở phiên tòa từ khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là 07 ngày).

Việc quy định thời hạn tố tụng của từng giai đoạn tố tụng ngắn hơn so với thủ tục chung xuất phát từ bản chất của TTRG là rút ngắn thời gian giải quyết vụ án với các điều kiện áp dụng nhất định. Cho nên, thời hạn tiến hành tố tụng phải đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời.

Nhìn chung, thời hạn tố tụng mà BLTTHS quy định đối với TTRG đảm bảo cho việc tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng; điều kiện hoàn cảnh xảy ra tội phạm; khối lượng công việc của cơ quan, người tiến hành tố tụng; cơ sở vật chất phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng; năng lực của cơ quan thực thi pháp luật.

1.4.2. Về các hoạt động trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử

* Đối với giai đoạn điều tra:

Theo Điều 321 BLTTHS, việc điều tra theo TTRG chỉ có điểm khác biệt lớn so với điều tra theo thủ tục chung là khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và không được gia hạn thời hạn điều tra.

Do tính chất của vụ án được giải quyết theo TTRG tương đối đơn giản, chứng cứ chứng minh các tình tiết của vụ án phần lớn đã được thu thập khi phát hiện tội phạm và chủ yếu được phản ánh trong biên bản bắt người phạm tội quả tang nên hoạt động điều tra được tiến hành tương đối dễ dàng cho nên khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không cần phải làm bản kết luận điều tra mà chỉ cần ra quyết định đề nghị truy tố đề nghị Viện kiểm sát truy tố. Nội dung của quyết định đề nghị truy tố theo TTRG tương đối đơn giản, ngắn gọn so với nội dung của kết luận điều tra.

Tuy nhiên, khó khăn của Cơ quan điều tra tiến hành hoạt động điều tra theo TTRG là mặc dù, thời gian điều tra rút ngắn nhưng để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh các tình tiết của vụ án, Cơ quan điều tra vẫn tiến hành các hoạt động tố tụng như thủ tục chung. Cho nên, Cơ quan điều tra, Điều tra viên phải chủ động, tích cực tiến hành các hoạt động điều tra để hoàn thành hồ sơ, tránh vi phạm thời hạn điều tra.

* Đối với giai đoạn truy tố:

Không như giai đoạn điều tra, Điều 323 BLTTHS quy định rõ thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố. Theo đó, trong thời hạn truy tố, Viện kiểm sát có quyền ra một trong những quyết định sau đây: (1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố; (2) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; (3) Tạm đình chỉ vụ án hoặc (4) Đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều 323 BLTTHS thì Viện kiểm sát phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng TTRG và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. Bởi vì, khi đó, bản chất của vụ án đã trở nên phức tạp, không đảm bảo điều kiện áp dụng TTRG.

Việc truy tố theo TTRG có điểm khác biệt lớn so với truy tố theo thủ tục chung là khi thấy hồ sơ vụ án đã hoàn thiện, có đủ căn cứ truy tố bị can ra trước Tòa án thì Viện kiểm sát ban hành quyết định truy tố theo TTRG mà không phải ban hành cáo trạng. Nội dung của quyết định truy tố theo TTRG cũng đơn giản, rút ngắn hơn so với nội dung cáo trạng.

* Đối với giai đoạn xét xử:

Theo Điều 324 BLTTHS, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: (1) Đưa vụ án ra xét xử; (2) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; (3) Tạm đình chỉ vụ án hoặc (4) Đình chỉ vụ án.

Trong trường hợp Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án.

Việc xét xử sơ thẩm được tiến hành theo thủ tục chung. Cho nên, thành phần Hội đồng xét xử; trình tư, thủ tục tại phiên tòa; việc hoãn phiên tòa; sự có mặt của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa… cũng không khác thủ tục chung. Chỉ khác ở chỗ, bắt đầu phần xét hỏi, Kiểm sát viên đọc quyết định truy tố theo TTRG thay cho việc đọc cáo trạng.

Cũng như giai đoạn truy tố, trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều 324 BLTTHS thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo TTRG được tiến hành theo thủ tục chung.

1.4.3. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn

* Về tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố:

Theo quy định tại Điều 322 BLTTHS, các quy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo thủ tục chung.

Về thời hạn tạm giữ, trong TTRG, thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Quy định này giống với thời hạn tạm giữ theo thủ tục chung. Tuy nhiên, điểm khác nhau giữa việc áp dụng biện pháp tạm giữ theo TTRG với thủ tục chung là không được gia hạn thời hạn tạm giữ. Quy định này xuất phát từ đặc thù của TTRG là rút ngắn thời gian giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ đã rõ ràng, đơn giản. Trong khoản thời gian 03 ngày, Cơ quan điều tra hoàn toàn có đủ thời gian quyết định việc có khởi tố bị can hay không.

Đối với biện pháp tạm giam, thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được quá 16 ngày. Do xuất phát từ đặc thù của vụ án được giải quyết theo TTRG và để nâng cao trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nên việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cũng rất hạn chế và thời hạn tạm giam cũng ngắn hơn so với thủ tục chung.

Theo khoản 3 Điều 322 BLTTHS, thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được quá mười sáu ngày nên trong trường hợp đã áp dụng biện pháp tạm giữ rồi mới khởi tố thì khi áp dụng biện pháp tạm giam, thời hạn tạm giam phải trừ thời gian tạm giữ, cứ 01 ngày tạm giữ được tính bằng 01 ngày tạm giam.

* Về tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:

Theo khoản 4 Điều 324 BLTTHS, trong trường hợp cần thiết, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc xét xử. Thời hạn tạm giam không được quá mười bốn ngày. Thời hạn này đúng bằng thời hạn tố tụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm theo TTRG. Tuy nhiên, cũng như giai đoạn điều tra, truy tố, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ở giai đoạn xét xử sơ thẩm không nhiều do các điều kiện áp dụng TTRG đã thu hẹp nhiều đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam.

Ngoài các phân tích trên, các quy định về điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành khi áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục chung đều được xem xét áp dụng khi vụ án được giải quyết theo TTRG.

2. Một số vướng mắc, bất cập về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

2.1. Về khái niệm thủ tục rút gọn

Theo Điều 1 BLTTHS thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của BLTTHS là quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự; phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Đồng thời, theo các khoản 2, 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (viết tắt là BLHS) thì tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà tội phạm được phân chia tội phạm thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Cho nên, tùy theo từng loại tội phạm mà cần có trình tự, thủ tục tố tụng khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bằng pháp luật tố tụng hình sự.

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về TTRG.[3] Nhìn chung, các quan điểm đều thống nhất ở việc TTRG là thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; giản lược một số thủ tục tố tụng nhất định trong quá trình giải quyết vụ án so với việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung; đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự nhằm giúp cho việc điều tra, truy tố và xét xử được nhanh chóng; chỉ được áp dụng đối với những vụ án đạt được những điều kiện nhất định do BLTTHS quy định; bảo đảm quyền con người mà trước tiên là quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Bên cạnh đó, theo quy định về TTRG tại Chương XXXIV của BLTTHS thì TTRG có các đặc điểm: (1) Đó là thủ tục đặc biệt, được quy định trong BLTTHS thành chương riêng, có những quy định đặc biệt khác với thủ tục thông thường; (2) TTRG được áp dụng với những tội phạm có điều kiện và trong phạm vi nhất định, nhằm giải quyết nhanh chóng các vụ án, tránh tình trạng án tồn đọng kéo dài; (3) Việc áp dụng TTRG phải đảm bảo các nguyên tắc của BLTTHS và quyền lợi của người tham gia tố tụng; (4) Việc áp dụng TTRG để giải quyết vụ án hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định và (5) TTRG được áp dụng sẽ rút ngắn về thời gian, giản lược về thủ tục, tiết kiệm chi phí, công sức của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Ngoài ra, việc áp dụng TTRG để giải quyết vụ án hình sự còn có ý nghĩa qua việc: (1) Đẩy nhanh tốc độ giải quyết vụ án có mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn; hạn chế án tồn đọng; tạo điều kiện cho cơ quan, người tiến hành tố tụng có thời gian, tập trung lực lượng giải quyết những vụ án gây nguy hại cho xã hội cao hơn. Đó là những vụ án có tổ chức, nhiều bị can, phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; (2) Giúp rút ngắn thời gian, công sức, chi phí cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, qua đó, sẽ tăng cường tính hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm; (3) Đổi mới tư duy, cách nhận thức trong việc giải quyết các vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; (4) Giúp nhanh chóng khôi phục lại các quan hệ pháp luật bị xâm phạm như: cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại sớm được bồi thường; người phạm tội có điều kiện sớm cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Từ việc nghiên cứu các quan điểm về khái niệm TTRG, đặc điểm và ý nghĩa của TTRG bên trên, chúng tôi cho rằng cần bổ sung vào BLTTHS khái niệm TTRG để có sự khái quát chung về TTRG, góp phần hiểu thống nhất và làm cơ sở cụ thể hóa các quy định áp dụng thủ tục đặc biệt này.

2.2. Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Theo Điều 318 BLTTHS, TTRG chỉ áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng đã có những quan điểm khác nhau về phạm vi áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm sẽ đi ngược, mâu thuẫn với tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án và đi ngược lại xu hướng dân chủ hóa trong tố tụng hình sự theo tin thần Nghị quyết số 08-NQ/TW về nâng cao tính chất tranh tụng tại phiên tòa.[4] Ngược lại, có quan điểm cho rằng, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng TTRG đến giai đoạn xét xử phúc thẩm. Bởi các lý do: (1) việc bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị không làm cho tính chất của vụ án thêm phức tạp do việc áp dụng TTRG đã được cân nhắc kỹ trước khi có quyết định áp dụng; (2) việc áp dụng thủ tục này phải đảm bảo một số điều kiện nhất định. Cho nên, trong giai đoạn sơ thẩm nếu có những lý do không áp dụng được TTRG thì cơ quan tiến hành tố tụng đã hủy bỏ việc áp dụng TTRG và (3) trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không mất nhiều thời gian để khắc phục. Trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy án để giải quyết theo thủ tục chung.[5]

Chúng tôi cho rằng, việc không áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm sẽ không đảm bảo ý nghĩa và mục đích của TTRG. Theo Điều 242 BLTTHS, thời hạn xét xử phúc thẩm là 60 ngày. Trong khi, thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm chỉ có 30 ngày. Cho nên, cần thiết phải rút ngắn thời gian giải quyết ở giai đoạn xét xử phúc thẩm đối với những vụ án đã xét xử sơ thẩm theo TTRG.

Bên cạnh đó, qua thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự theo TTRG cũng như các vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng bị bắt quả tang được giải quyết theo thủ tục chung thì có nhiều vụ án, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt cho người phạm tội chủ yếu là vì bức xúc trước hành vi phạm tội của họ và những người kháng cáo thường không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Vì vậy, khi xem xét các yêu cầu này, Tòa án cấp phúc thẩm không phải xem xét lại nội dung vụ án mà chỉ xem xét lại việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm. Cho nên, việc hạn chế áp dụng TTRG khi xét xử phúc thẩm trong các trường hợp này là chưa phù hợp. Trong khi đó, khi đã chấp nhận việc áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm thì các điều kiện áp dụng thủ tục này cũng phải đảm bảo theo. Tức các điều kiện áp dụng tại Điều 319 BLTTHS cũng phải đảm bảo.

Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta có thể áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm đối với mọi vụ án đã xét xử theo TTRG ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Bởi vì, bên cạnh các kháng cáo như phân tích bên trên, thực tiễn còn có trường hợp, Viện kiểm sát kháng nghị do có sự bất đồng với Tòa án về việc áp dụng pháp luật nội dung, việc Tòa án vi phạm tố tụng trong xét xử, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án. Chẳng hạn, sau phiên tòa sơ thẩm phát sinh thêm tình tiết mới làm ảnh hưởng kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm; Tòa án xét xử theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát truy tố hoặc xét xử về tội nhẹ hơn trong giới hạn xét xử theo Điều 196 BLTTHS. Bên cạnh đó, còn có trường hợp, bị cáo, người bị hại kháng cáo không đồng ý với nhận định của Tòa án cũng làm cho vụ án phức tạp.

Vì vậy, để hoàn chỉnh TTRG trong tố tụng hình sự, khai thác có hiệu quả, đầy đủ ý nghĩa,mục đích của TTRG cần mở rộng phạm vi áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, cũng cần quy định những điều kiện nhất định để áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm để tránh việc áp dụng tùy tiện.

2.3. Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Theo Điều 319 BLTTHS thì TTRG chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; (2) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; (3) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; (4) Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, chúng tôi thấy rằng, quy định của BLTTHS về điều kiện áp dụng TTRG có một số bất cập như sau:

2.3.1. Về tính ràng buộc trong việc áp dụng

Theo Điều 319 BLTTHS, “TTRG chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:…”. Đồng thời, khoản 1 Điều 320 BLTTHS còn quy định, “Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra (viết tắt là CQĐT) hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng TTRG”.  Với các quy định này thì việc có quyết định áp dụng TTRG hay không tùy thuộc vào cơ quan tiến hành tố tụng vì điều luật chỉ quy định là “có thể” mà không phải là “phải” ra quyết định áp dụng TTRG. Bên cạnh đó, khi không đủ điều kiện mà áp dụng cũng bị xem là vi phạm các điều kiện này. Nhìn chung, các quy định này không tạo ra sự ràng buộc cũng như kích thích các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng TTRG trong điều tra, truy tố, xét xử. Cho nên, để tạo ra sự ràng buộc các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng TTRG thì cần quy định bắt buộc chứ không tùy nghi như quy định tại Điều 319 và khoản 1 Điều 320 BLTTHS.

2.3.2. Đối với quy định của từng điều kiện cụ thể

Thứ nhất, đối với điều kiện “Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang”

Việc quy định điều kiện này không nhằm mục đích nào khác nhằm dễ dàng điều tra vụ án vì khi đó, các tài liệu, chứng cứ để chứng minh các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự đã có thể xác định ngay thời điểm đó, rút ngắn thời gian điều tra vụ án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, có rất nhiều vụ án người phạm tội bị bắt khẩn cấp, tuy không phải thuộc trường hợp phạm tội quả tang, nhưng lại có nội dung đơn giản, dễ dàng kiểm tra, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án; hoặc trong những vụ án có người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình mà hành vi phạm tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm ít nghiêm trọng nhưng vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng TTRG. Do đó, để phục vụ công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả và đạt mục đích, ý nghĩa của TTRG, cần mở rộng phạm vi áp dụng đối với điều kiện thứ nhất này. Theo đó, khi bắt khẩn cấp, người phạm tội đầu thú, tự thú vẫn có thể áp dụng TTRG nếu đảm bảo các điều kiện khác được quy định tại Điều 319 BLTTHS.

Thứ hai, đối với điều kiện “sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng”

Trong thực tiễn áp dụng điều kiện này, việc hiểu để vận cụng các thuật ngữ “sự việc phạm tội đơn giản”, “chứng cứ rõ ràng” chưa được thống nhất. Có quan điểm cho rằng, để đáp ứng điều kiện này thì các tình tiết trong vụ án phải dễ dàng đánh giá mà không phụ thuộc vụ án đó có đồng phạm hay không, người phạm tội phạm một hay nhiều tội… Quan điểm khác lại cho rằng, khi vụ án có đồng phạm, người phạm tội phạm nhiều tội thì vụ án đó không đáp ứng điều kiện này. Cho nên, đòi hỏi phải có sự quy định rõ ràng các thuật ngữ này để áp dụng thống nhất.

Theo chúng tôi, “sự việc phạm tội đơn giản” được hiểu là tội phạm xảy ra do một người thực hiện hoặc vụ án có đồng phạm nhưng dễ dàng đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đồng thời, đó không phải là vụ án phức tạp; vụ án không có nhiều bị can, không có tổ chức hoặc không phạm nhiều tội; vụ án chỉ liên quan 01 lĩnh vực, xảy ra trên phạm vi nhỏ. Về “chứng cứ rõ ràng” thì chứng cứ phải đủ giải quyết các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 BLTTHS và các vấn đề liên quan khác như: vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp. Đồng thời, đó là vụ án có tài liệu không đáng kể, các chứng cứ không mâu thuẫn với nhau và không cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc không cần tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn. Vì vậy, cần bổ sung việc giải thích 02 thuật ngữ này vào khoản 2 Điều 319 BLTTHS để áp dụng thống nhất.

Thứ ba, đối với điều kiện “tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng”

Việc áp dụng căn cứ này trong thực tiễn gặp vướng mắc ở chỗ các tội phạm cụ thể trong BLHS thường có cả tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng (có khi có cả tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặt biệt nghiêm trọng). Cho nên, ngay từ ban đầu để xác định có phải tội ít nghiêm trọng hay không không phải là chuyện dễ. Bên cạnh đó, một số tội có tình tiết định khung liên quan đến nhân thân của người phạm tội cho nên trong thời hạn tạm giữ để đánh giá hành vi phạm tội đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng hay tội phạm nghiêm trọng không hề dễ. Hơn nữa, nghiên cứu các tội phạm cụ thể trong BLHS thì không hẳn tội phạm ít nghiêm trọng sẽ dễ dàng thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hơn tội phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, do khoản 3 Điều 319 BLTTHS quy định chỉ áp dụng TTRG đối với tội phạm ít nghiêm trọng nên có rất nhiều vụ án có thể áp dụng được TTRG, nhưng phải giải quyết theo thủ tục chung, làm mất nhiều thời gian, không hạn chế được lượng án tồn đọng, tốn kém về chi phí vật chất, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, đôi khi còn vi phạm cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Chúng tôi cho rằng, hoàn toàn có thể áp dụng TTRG đối với tội phạm nghiêm trọng. Bởi vì, việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác phụ thuộc vào sự đơn giản, rõ ràng của các tình tiết trong vụ án mà không phụ thuộc vào sự phân loại về tính chất nguy hiểm của tội phạm. Hơn nữa, việc phân loại tội phạm ở nước ta theo mức cao nhất của khung hình phạt chứ không phải theo sự đơn giản hay phức tạp của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần mở rộng loại tội được giải quyết theo TTRG đối với cả tội nghiêm trọng.

Thứ tư, đối với điều kiện “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng”

Việc áp dụng căn cứ này trong thực tiễn có vướng mắc qua việc xác định thế nào là “có căn cước, lai lịch rõ ràng”. Chúng tôi cho rằng, căn cước, lai lịch thuộc điều kiện này được hiểu là các yếu tố nhân thân của người phạm tội có liên quan đến việc định tội, định khung, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có ý nghĩa đến việc quyết định hình phạt và chúng phụ thuộc vào từng vụ án khác nhau. Cho nên, để đảm bảo được điều kiện “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng” phải chứng minh được các yếu tố này, còn các nội dung khác thuộc về nhân thân người phạm tội, không nhất thiết phải làm rõ. Bên cạnh đó, một trong những ý nghĩa của TTRG là giải quyết vụ án được nhanh chóng nên việc xác định căn cước, lai lịch còn phải đảm bảo điều kiện dễ dàng, nhanh chóng. Nếu việc xác định đó tốn nhiều thời gian thì không đáp ứng mục đích, ý nghĩa của TTRG. Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần bổ sung “xác định dễ dàng, nhanh chóng” bên cạnh “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng”.

2.4. Về quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

Quyết định áp dụng TTRG được quy định tại Điều 320 BLTTHS. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn đã gặp phải một số vướng mắc sau:

Thứ nhất, về thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG và trách nhiệm của cơ quan ban hành quyết định

Theo khoản 1 Điều 320 BLTTHS, CQĐT đề nghị, Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG. Trong khi đó, CQĐT là chủ thể tiến hành các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ và thực hiện các hoạt động chính trong vụ án, chủ động trong việc nắm bắt thông tin, đánh giá điều kiện áp dụng TTRG. Cho nên, nếu quy định CQĐT lập văn bản đề nghị sẽ phát sinh thêm thủ tục, không đảm bảo mục đích, ý nghĩa của TTRG. Bên cạnh đó, nếu CQĐT có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG thì họ sẽ chủ động tiến hành các hoạt động điều tra. Cho nên, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 320 BLTTHS theo hướng CQĐT có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG; Viện kiểm sát chỉ quyết định khi có đủ điều kiện mà CQĐT không thực hiện.

Theo khoản 1 Điều 320 BLTTHS thì điều kiện để ban hành quyết định áp dụng TTRG là phải có quyết định khởi tố vụ án. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 320 BLTTHS thì quyết định áp dụng TTRG phải được gửi cho bị can (hoặc người đại diện hợp pháp của bị can) cho nên khi chưa có quyết định khởi tố bị can mà quyết định áp dụng TTRG lại được đưa cho bị can là chưa phù hợp. Để khắc phục vướng mắc này, theo chúng tôi,  khoản 1 Điều 320 BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng, khi ban hành quyết định khởi tố vụ án thì CQĐT ban hành quyết định khởi tố bị can. Sau khi Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì CQĐT mới được ra quyết định áp dụng TTRG. Đồng thời, cần dành thời gian để Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can là 01 ngày kể từ ngày có văn bản đề nghị của CQĐT.

Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung quy định trách nhiệm tống đạt quyết định áp dụng TTRG cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của bị can thuộc về cơ quan ban hành quyết định nhằm tránh đùn đẩy trách nhiệm, hạn chế việc tống đạt qua nhiều khâu.

Ngoài ra, việc áp dụng thủ tục này để giải quyết vụ án sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, nhất là quyền bào chữa. Với yêu cầu việc áp dụng TTRG phải đảm bảo quyền lợi của người phạm tội bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục thì cần thiết phải giải thích việc áp dụng thủ tục này để người phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ biết quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn ngắn, thực hiện quyền khiếu nại, chuẩn bị tâm lý, vật chất, chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tự bào chữa, nhờ người bào chữa để bảo vệ quyền lợi của người phạm tội trước tòa. Cho nên, cần bổ sung vào BLTTHS trách nhiệm của cơ quan ban hành quyết định áp dụng TTRG giải thích việc áp dụng TTRG khi tống đạt quyết định này cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của bị can thuộc về cơ quan ban hành quyết định. Cùng với đó, phải giải thích các quyền, nghĩa vụ khác để bị can biết thực hiện, đặc biệt là quyền nhờ người khác bào chữa.

Về chủ thể có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG, các khoản 1, 3 Điều 320 BLTTHS chỉ quy định chung chung thẩm quyền đề nghị áp dụng TTRG là CQĐT và thẩm quyền áp dụng TTRG là Viện kiểm sát mà không quy định cụ thể thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng Viện kiểm sát hay Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện nên gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Quy định về thẩm quyền của Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên, viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên tại các Điều 34, 35, 36 và 37 BLTTHS cũng không nêu rõ vấn đề này. Theo chúng tôi, với việc xác định CQĐT có quyền ban hành quyết định áp dụng TTRG và xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của việc áp dụng TTRG nên cần bổ sung vào Điều 34 BLTTHS thẩm quyền áp dụng TTRG thuộc về thủ trưởng CQĐT và bổ sung vào Điều 36 BLTTHS thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp có đầy đủ điều kiện áp dụng TTRG mà CQĐT không áp dụng.

Thứ hai, vấn đề khiếu nại và giải quyết khiếu nại việc áp dụng thủ tục rút gọn

Theo khoản 3 Điều 320 BLTTHS, Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại việc áp dụng TTRG do theo khoản 1 Điều 320 BLTTHS thì Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG. Tuy nhiên, với đề xuất bên trên về việc CQĐT có thẩm quyến áp dụng TTRG, Viện kiểm sát chỉ áp dụng khi có đủ căn cứ mà CQĐT không áp dụng. Cho nên, cần bổ sung thẩm quyền giải quyết khiếu nại cho CQĐT.

Bên cạnh đó, BLTTHS không quy định rõ các bước tiếp theo khi chấp nhận hoặc không chấp nhận khiếu nại. BLTTHS có quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự tại Chương XXXV. Tuy nhiên, với việc quy định thời hạn thực hiện việc khiếu nại và thời gian giải quyết nại ngắn như khoản 3 Điều 320 BLTTHS thì việc áp dụng quy định về khiếu nại tại Chương XXXV BLTTHS là không phù hợp. Cho nên, cần bổ sung hướng xử lý khi giải quyết khiếu nại. Theo đó, cần quy định khi có căn cứ xác định việc khiếu nại áp dụng TTRG là đúng thì cơ quan đã ban hành quyết định sẽ hủy bỏ việc áp dụng TTRG và vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung. Nếu việc khiếu nại không có căn cứ thì cơ quan ra quyết định ban hành văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLTTHS thì thời hạn điều tra theo TTRG là 12 ngày. Trong khi đó, nếu theo đúng trình tự quy định tại Điều 320 BLTTHS thì thời gian khiếu nại, giải quyết khiếu nại phải mất 08 ngày nên thời hạn điều tra chỉ còn lại 04 ngày. Với thời gian như vậy, CQĐT sẽ khó đảm bảo đầy đủ các quy định của pháp luật trong hoạt động điều tra. Để khắc phục hạn chế này, chúng tôi cho rằng, cần loại trừ thời hạn khiếu nại, giải quyết khiếu nại khỏi thời hạn điều tra để đảm bảo thời gian cho CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra.

Thứ ba, vấn đề chuyển từ thủ tục rút gọn sang thủ tục chung

Theo khoản 2 Điều 323 BLTTHS, việc hủy quyết định áp dụng TTRG chuyển sang giải quyết theo thủ tục chung xảy ra trong giai đoạn truy tố khi Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ và việc hủy quyết định sẽ có giá trị cho cả 03 giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, BLTTHS không quy định trong giai đoạn điều tra, sau khi có quyết định mà thấy việc đánh giá điều kiện không phù hợp thì cơ quan đã ban hành quyết định áp dụng TTRG có quyền hủy quyết định hay không nên đã hạn chế việc khắc phục sai sót do áp dụng TTRG không đúng. Tương tự, trong giai đoạn truy tố, xét xử cũng gặp khó khăn khi Viện kiểm sát, Tòa án đánh giá các điều kiện áp dụng TTRG không đảm bảo nhưng không thuộc trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ thì lại không được hủy việc áp dụng TTRG. Bên cạnh đó, khi Tòa án hoãn phiên tòa thì vụ án có phải chuyển sang áp dụng theo thủ tục chung hay không cũng chưa được quy định.

Chúng tôi cho rằng, để khắc phục kịp thời sai sót trong việc đánh giá các căn cứ áp dụng TTRG thì cần dành quyền hủy bỏ quyết định áp dụng TTRG khi cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá việc áp dụng không đúng. Đồng thời, cần quy định, trong trường hợp hoãn phiên tòa thì thời gian hoãn phiên tòa không tính vào thời gian giải quyết chung của vụ án và vụ án cũng không cần phải chuyển sang giải quyết theo thủ tục chung để đảm bảo mục đích, ý nghĩa của TTRG.

Thứ tư, vấn đề thời hạn tố tụng và gia hạn thời hạn tố tụng

Một trong những hạn chế việc áp dụng TTRG trong thực tiễn là thời hạn trong từng giai đoạn tố tụng quá ngắn, trong khi các hoạt động bổ trợ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử chưa đáp ứng đối với thời hạn rút ngắn theo TTRG. Hiện nay, thời hạn điều tra, truy tố, xét xử lần lượt là 12, 04 và 14. Với thời hạn này, chỉ khi các hoạt động bổ trợ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo như: định giá, giám định, trích lục tiền án, tiền sự, cung cấp thông tin về lý lịch bị can … đảm bảo thì mới có thể áp dụng TTRG. Bên cạnh đó, hoạt động điều tra bao gồm nhiều hoạt động, việc tiến hành phải theo trình tự, thủ tục nhất định nên dễ kéo dài thời gian. Một nguyên nhân nữa là việc phát sinh tình tiết mới so với đánh giá ban đầu rất dễ xảy ra. Vì vậy, với thời hạn giải quyết quá ngắn nên làm cho nhiều cơ quan tiến hành tố tụng ngại áp dụng thủ tục này. Bên cạnh đó, việc không cho phép gia hạn thời hạn tố tụng cũng dễ làm cho nhiều vụ án đang giải quyết theo TTRG phải chuyển sang giải quyết theo thủ tục chung vì vi phạm thời hạn giải quyết. Khi đó, mục đích, ý nghĩa của TTRG không được đảm bảo mà còn làm kéo dài việc giải quyết vụ án do phải chuyển sang giải quyết theo thủ tục chung. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần tăng thời hạn tố tụng đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đồng thời, quy định quyền được gia hạn 01 lần đối với mỗi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử để khắc phục bất cập về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.

Thứ năm, vấn đề tách bạch việc áp dụng thủ tục rút gọn trong từng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

Theo quy định tại Điều 320 BLTTHS, khi Viện kiểm sát quyết định áp dụng TTRG thì thủ tục này được áp dụng cho các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Nếu trong giai đoạn điều tra, TTRG không được áp dụng thì khi vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố, xét xử nếu Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện có điều kiện áp dụng TTRG thì thủ tục này cũng không được áp dụng. Quy định này rõ ràng chưa phát huy được vai trò của TTRG đối với công tác đấu tranh, phòng chồng tội phạm.

Chúng tôi cho rằng, trong trường hợp có điều kiện áp dụng TTRG mà giai đoạn điều tra không áp dụng thì khi vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố, xét xử, để khắc phục sai sót này thì Viện kiểm sát, Tòa án sẽ trả hồ sơ điều tra bổ sung. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ không giải quyết được vấn đề rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, không hạn chế được sự tồn đọng án và không đáp ứng mục đích, ý nghĩa của TTRG. Cho nên, cần tách bạch việc áp dụng TTRG ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử trong trường hợp ở giai đoạn điều tra TTRG không được áp dụng. Theo đó, cần bổ sung vào BLTTHS quy định, trường hợp trong giai đoạn điều tra, TTRG không được áp dụng thì khi vụ án chuyển sang giai đoạn truy tố, xét xử, Viện kiểm sát, Tòa án xác định có đủ căn cứ áp dụng TTRG thì Viện kiểm sát, Tòa án có quyền quyết định áp dụng thủ tục này.

2.5. Về quyền bào chữa

Quy định về TTRG tại Chương XXXIV BLTTHS không có điều luật nào đề cập đến vấn đề bào chữa. Cho nên, về nguyên tắc quyền bào chữa của bị can, bị cáo phải áp dụng theo thủ tục chung. Tuy nhiên, nếu áp dụng theo thủ tục chung sẽ gây khó khăn cho bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong việc nhờ người bào chữa vì thời hạn tố tụng quá ngắn vì thời hạn điều tra, truy tố, xét xử trong TTRG diễn ra trong thời gian ngắn. Bên cạnh đó, theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, điều kiện áp dụng TTRG không có điều kiện phải được người phạm tội đồng ý. Trong khi đó, thủ tục này chủ yếu phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm (hạn chế sự tồn đọng án ở các cơ quan tiến hành tố tụng) và phần nào tiềm ẩn các điều kiện có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người phạm tội.

Để khắc phục vướng mắc này và tạo sự cân bằng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả với đảm bảo quyền của người phạm tội, cần thiết phải bổ sung vào BLTTHS quy định, khi giao quyết định áp dụng TTRG thì cơ quan có thẩm quyền phải giải thích quyền nhờ người bào chữa và hướng dẫn thủ tục để họ thực hiện. Nếu họ không có điều kiện lựa chọn thì người tiến hành tố tụng phải yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ.

2.6. Về các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

Qua thực tiễn áp dụng, các quy định về điều tra, truy tố, xét xử của BLTTHS bộc lộ một số vướng mắc sau:

Thứ nhất, đối với việc tạm đình chỉ điều tra

BLTTHS chỉ quy định Viện kiểm sát, Tòa án có quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án trong TTRG mà chưa quy định về thủ tục tạm đình chỉ điều tra nên khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra, CQĐT gặp lúng túng không biết áp dụng thế nào. Để tránh vi phạm thời hạn điều tra, chúng tôi cho rằng, sau khi đã áp dụng TTRG mà có căn cứ tạm đình chỉ điều tra theo Điều 160 BLTTHS thì CQĐT quyết định hủy bỏ việc áp dụng TTRG. Khi đó, vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung nhưng CQĐT phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Thứ hai, đối với việc giao quyết định truy tố

Việc giao quyết định truy tố cho bị can chưa được BLTTHS quy định chặt chẽ. Theo điểm a khoản 1 Điều 323 BLTTHS trong hạn 04 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ từ CQĐT, Viện kiểm sát phải ban hành quyết định truy tố. Tuy nhiên, Điều 323 BLTTHS không thời hạn tống đạt quyết định truy tố cho bị can, người bào chữa và chuyển hồ sơ cho vụ án. Từ đó, có thể dẫn đến trường hợp Viện kiểm sát giao quyết định truy tố sau khi hết thời hạn truy tố. Vì vậy, cần bổ sung vào Điều 323 BLTTHS trách nhiệm tống đạt quyết định truy tố cho bị can, người bào chữa và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cùng với ngày viện kiểm sát ban hành quyết định truy tố.

Thứ ba, về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm

Điều 324 BLTTHS chỉ quy định rút ngắn thời gian xét xử cho nên thành phần Hội đồng xét xử vẫn tiến hành theo thủ tục chung. Trong thời gian qua, đã có quan điểm đề xuất chỉ nên quy định 01 Thẩm phán xét xử vụ án theo TTRG mà không cần Hội thẩm tham gia. Tuy nhiên, đề xuất này gặp vướng mắc do vi phạm các quy định của Hiến pháp năm 1992 về nguyên tắc Tòa án xét xử theo tập thể, quyết định theo đa số và nguyên tắc việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia hoặc Hội thẩm quân nhân tham gia (đối với Tòa án quân sự) theo quy định của  pháp luật.

Tuy nhiên, khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực ngày 01/01/2014 thì vướng mắc này đã được tháo gỡ. Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 thì “Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo TTRG” và “Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo TTRG”. Cho nên, chúng tôi kiến nghị, cần cụ thể hóa quy định của Hiến pháp vào quy định của BLTTHS về người xét xử vụ án hình sự theo TTRG chỉ cần 01 Thẩm phán.

Thứ tư, về thời gian giao quyết định đưa vụ án ra xét xử

Khi xét xử vụ án theo thủ tục chung, Tòa án phải tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước ngày phiên tòa được mở từ 10 ngày trở lên. Quy định này nhằm giúp bị cáo có thời gian thực hiện công tác chuẩn bị tinh thần, củng cố tài liệu, chứng cứ bào chữa cho mình hoặc thực hiện thủ tục nhờ người khác bào chữa; xem xét yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng… Tuy nhiên, đối với vụ án được giải quyết theo TTRG, BLTTHS không quy định thời hạn Tòa án phải tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo nên Tòa án có thể giao quyết định đưa vụ án ra xét xử bất cứ khi nào trước ngày mở phiên tòa. Tuy nhiên, nếu đưa quyết định đưa vụ án ra xét xử quá cận ngày mở phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người phạm tội. Do đó, chúng tôi cho rằng, cần quy định thời hạn Tòa án phải tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi mở phiên tòa ít nhất 02 ngày trước khi phiên tòa được mở để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

2.7. Về việc áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm

Như phần trên đã trình bày, việc nới rộng phạm vi áp dụng TTRG ở cấp phúc thẩm là cần thiết. Khi đã nới rộng việc áp dụng TTRG ở cấp phúc thẩm thì một số nội dung liên quan đến việc xét xử phúc thẩm cũng cần phải bổ sung vào BLTTHS để áp dụng thống nhất. Đó là các nội dung sau:

Thứ nhất, về thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Do là TTRG nên thời hạn kháng cáo, kháng nghị cũng phải ngắn hơn thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục chung. Theo đó, chỉ nên quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 07 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, hoặc từ ngày bản án được niêm yết trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo.

Thứ hai, về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Theo quy định hiện nay, với việc giải quyết những vụ án ít nghiêm trọng thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 60 ngày kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm nhận hồ sơ vụ án (Điều 242 BLTTHS), phải mở phiên tòa trong hạn 15 ngày kể từ ngày thông báo mở phiên tòa và thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm 03 Thẩm phán, trường hợp cần thiết có thêm 02 Hội thẩm (Điều 244 BLTTHS). Khi giải quyết vụ án theo TTRG thì thời hạn và những người tham gia xet xử là không phù hợp. Để đảm bảo việc rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, theo chúng tôi cần rút ngắn thời gian chuẩn bị xét xử, thời gian mở phiên tòa và người tiến hành xét xử. Theo đó, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm chỉ nên quy định trong hạn 20 ngày kể từ nhận hồ sơ vụ án (với thời hạn mở phiên tòa là 7 ngày từ ngày thông báo mở phiên tòa); người xét xử phúc thẩm cũng chỉ cần 01 Thẩm phán như đề xuất đối với Thẩm phán xét xử ở giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Về quyết định áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, về nguyên tắc khi vụ án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm đã giải quyết theo TTRG thì ở giai đoạn xét xử phúc thẩm cũng giải quyết theo TTRG. Trong trường hợp đánh giá điều kiện áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm không đảm bảo thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm ban hành quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Quyết định này không bị khiếu nại, kiến nghị để tạo sự thuận lợi cho Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng TTRG.

Thứ ba, về trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa

Theo quy định tại Điều 247 BLTTHS, phiên tòa phúc thẩm cũng tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng có một số thay đổi cho phù hợp với tính chất của phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, khi vụ án được giải quyết theo TTRG thì trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa cần đơn giản hơn. 

Theo chúng tôi, về cơ bản, thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm theo TTRG cũng cần phải sự rút ngắn về thời gian. Theo đó, cần bỏ thủ tục xét hỏi mà chỉ còn việc trình bày của người kháng cáo, quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa rồi Thẩm phán tuyên án ngay tại phòng xét xử mà không cần phải vào phòng nghị án. Bên cạnh đó, cần quy định hạn chế việc hoãn phiên tòa như trong trường hợp có người tham gia tố tụng được triệu tập vắng mặt tại phiên tòa.

Thứ tư, về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm

Về điều kiện áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Hiện nay, BLTTHS chưa quy định về vấn đề này. Chúng tôi cho rằng, để tiến hành giải quyết vụ án theo TTRG ở phiên tòa phúc thẩm cần phải đảm bảo nhũng điều kiện nhất định để tránh áp dụng tùy tiện và đảm bảo vai trò, mục đích của TTRG. Với các yêu cầu khi sửa đổi, bổ sung được nên bên trên, chỉ tiến hành giải quyết vụ án theo TTRG ở Tòa án cấp phúc thẩm khi đảm bảo các điều kiện sau: Một là, vụ án đó đã được xét xử theo TTRG ở giai đoạn xét xử sơ thẩm thì mới xem xét giải quyết ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Hai là, các điều kiện về áp dụng TTRG ở cấp sơ thẩm được đảm bảo. Nếu không thì không được áp dụng TTRG ở phiên tòa phúc thẩm. Ba là, việc giải quyết vụ án TTRG sẽ rút ngắn thời gian. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng thì các tình tiết của vụ án phải rõ ràng, không mâu thuẫn. Cho nên, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án đã được làm rõ, không có mâu thuẫn và người phạm tội đã thừa nhận tội của mình khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án. Bốn là, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án đã được làm rõ và không có sự đánh giá khác nhau giữa Viện kiểm sát, người có quyền lợi trực tiếp đến vụ án với kết quả giải quyết vụ án về việc áp dụng pháp luật. Cho nên, chỉ áp dụng TTRG ở Tòa án cấp phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị nhưng chỉ theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc điều chỉnh mức bồi thường, áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng.

2.8. Đối với quy định về tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố

Thứ nhất, về thời hạn tạm giữ

Theo khoản 2 Điều 323 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày và CQĐT không được gia hạn thời hạn tạm giữ. Tuy nhiên, việc quy định thời hạn tạm giữ 03 ngày sẽ không đảm bảo thời gian để CQĐT xem xét các điều kiện áp dụng thời hạn tạm giữ như: thu thập tài liệu, chứng cứ, xác định tiền án tiền sự, định giá tài sản… Cho nên, cần quy định cho CQĐT được gia hạn tạm giữ 01 lần để họ có đủ thời gian xem xét điều kiện áp dụng TTRG, nhằm tạo điều kiện để tăng việc áp dụng TTRG để xét xử các vụ án hình sự.

Thứ hai, về thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố

Khoản 3 Điều 322 BLTTHS quy định “Thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được quá mười sáu ngày”. Tuy nhiên, BLTTHS không quy định tách bạch thời hạn tạm giam để điều tra, thời hạn tạm giam để truy tố nên dẫn đến vướng mắc hoặc là CQĐT ra lệnh tạm giam cho cả thời hạn điều tra, truy tố hoặc là CQĐT, Viện kiểm sát ra lệnh tạm giam riêng tương ứng với thời hạn tố tụng của từng giai đoạn điều tra, truy tố.

Chúng tôi cho rằng, theo khoản 1 Điều 322 BLTTHS, căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giam được áp dụng theo quy định của BLTTHS. Cho nên, căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong TTRG được áp dụng theo thủ tục chung được quy định tại các Điều 80, 88 BLTTHS. Theo đó, thời hạn tạm giam ở từng giai đoạn tố tụng không được vượt quá thời hạn tố tụng của giai đoạn tố tụng đó. Cho nên, khi vụ án đang ở giai đoạn điều tra, thời hạn tạm giam không được vượt quá 12 ngày; hồ sơ ở giai đoạn truy tố thì thời hạn tam giam không quá 04 ngày. Vì vậy, CQĐT không được ra lệnh tạm giam vượt quá thời hạn điều tra. Bên cạnh đó, do 01 ngày tạm giam được tình bằng một ngày tạm giữ nên trong trường hợp CQĐT đã áp dụng biện pháp tạm giữ thì khi đã ban hành lệnh tạm giam, CQĐT còn phải trừ số ngày đã tạm giữ người phạm tội. Tuy nhiên, để có cách hiểu thống nhất thì khoản khoản 3 Điều 322 BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

Thứ ba, về việc phê chuẩn lệnh tạm giam

Do các quy định khác của BLTTHS sẽ được áp dụng cho TTRG nếu chúng không trái với quy định của Chương XXXIV. Cho nên, khi CQĐT ban hành lệnh tạm giam sẽ kéo theo thủ tục phê chuẩn lệnh tạm giam của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, Chương XXXIV BLTTHS không quy định thời hạn Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT. Trong khi đó, theo thủ tục chung, thời hạn Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT là 3 ngày. Tuy nhiên, nếu áp dụng thời hạn phê chuẩn lệnh tạm giam theo thủ tục chung thì thời gian điều tra của CQĐT sẽ giảm đáng kể trong khi thời hạn điều tra theo TTRG chỉ có 12 ngày (kể cả thời hạn tạm giữ). Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, cần quy định, thời hạn Viện kiểm sát phê  chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT là 01 ngày.

3. Một số yêu cầu cần phải tuân thủ khi khi xây dựng quy định về thủ tục rút gọn trong thời gian tới

Mặc dù, có sự kế thừa các quy định trước đây về TTRG và việc quy định TTRG trong BLTTHS đã đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp nhưng do TTRG được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự đã có sự gián đoạn về thời gian (BLTTHS năm 1986 không quy định thủ tục này) nên các quy định về TTRG trong BLTTHS còn có sự thử nghiệm qua việc quy định nhiều quy định mang tính tùy nghi, ít có sự ràng buộc. Vì vậy, việc giải quyết các vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội không cao vẫn phải tiến hành theo thủ tục chung, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, chưa phát huy được mục đích, ý nghĩa của TTRG mà Đảng ta đề ra. Trong tình hình hiện nay, cùng với việc tổ chức, thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện BLTTHS, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng nên cần nghiên cứu, hoàn thiện chế định TTRG để khai thác có hiệu quả chế định thủ tục đặc biệt này vào công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong đó, việc sửa đổi, bổ sung cần tuân thủ các yêu cầu sau: Một là, đảm bảo nguyên tắc chung của BLTTHS. Hai là, các quy định về chế định này phải chặt chẽ, tránh quy định chung chung, hình thức. Bởi vì, mặc dù là 01 trong 03 thủ tục đặc biệt bên cạnh thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên và thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nhưng cần phải có nhận thức rằng TTRG không phải áp dụng cho đối tượng riêng biệt như 02 thủ tục đặc biệt còn lại mà chúng quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án có sự giản đơn về thủ tục và thời hạn thực hiện nên cần có trình tự, thủ tục tố tụng tiến hành chặt chẽ. Ba là, đảm bảo các quan điểm chỉ đạo của Đảng về yêu cầu cải cách tư pháp. Bốn là, phục vụ tích cực cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà trực tiếp là quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Năm là, tránh sự lãng phí về thời gian, công sức, tiền bạc của Nhà nước, của các Cơ quan tiến hành tố tụng. Sáu là, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệp lập pháp của các nước có quy định chế định này trong pháp luật tố tụng hình sự của quốc gia họ. Cuối cùng, phải quy định trách nhiệm ràng buộc để đảm bảo tính thực tiễn khi áp dụng, tránh tùy tiện.

Đây là các yêu cầu có vai trò quan trọng góp phần đưa phát huy những giá trị của TTRG vào công tác giải quyết các vụ án hình sự. Cho nên, việc đánh giá các quy định của BLTTHS về TTRG và đề xuất kiến nghị hoàn thiện phải tuân thủ các yêu cầu này.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện

Để khắc phục các vướng mắc, bất cập về TTRG trong BLTTHS, trên cơ sở các yêu cầu cần phải tuân thủ khi xây dựng quy định về TTRG trong thời gian tới, kiến nghị hoàn thiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, bổ sung vào Điều 318 BLTTHS khái niệm về TTRG, việc áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Theo đó, Điều 318 sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 318. Khái niệm và phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

1. TTRG là trình tự, thủ tục tố tụng đặc biệt, giản lược về thời gian, hoạt động tố tụng, được áp dụng đối với những vụ án đáp ứng các điều kiện nhất định, do cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng; dựa trên các nguyên tắc của Bộ luật này và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội và những người tham gia tố tụng khác.

2. TTRG đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này.”

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các điều kiện áp dụng TTRG ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm tại Điều 319 BLTTHS. Cụ thể như sau:

“Điều 319. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

TTRG phải được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, bị bắt khẩn cấp hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú;

2. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;

Sự việc phạm tội đơn giản là tội phạm xảy ra do một người thực hiện hoặc vụ án có đồng phạm nhưng dễ dàng đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; vụ án không có tình tiết phạm tội có tổ chức, phạm nhiều tội; vụ án chỉ liên quan 01 lĩnh vực, xảy ra trên phạm vi nhỏ.

Chứng cứ rõ ràng là chứng cứ đủ để giải quyết các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 63 BLTTHS và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp. Đồng thời, các chứng cứ không mâu thuẫn với nhau và không cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc không cần tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn.

3. Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng;

4. Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng và được xác định dễ dàng, nhanh chóng.

Đó là những thông tin về căn cước, lai lịch có ý nghĩa đối với việc định tội, định khung, là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định về quyết định áp dụng TTRG tại Điều 320 BLTTHS với các nội dung: thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG, trách nhiệm giải thích quy định về TTRG, quyền nhờ người khác bào chữa của người phạm tội, việc giải quyết khiếu nại. Theo đó Điều 320 BLTTHS sẽ có nội dung như sau:

Điều 320. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

1. Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, CQĐT phải ra quyết định áp dụng TTRG sau khi Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Trong trường hợp CQĐT không áp dụng thì Viện kiểm sát phải ra quyết định áp dụng TTRG.

2. Cơ quan ban hành quyết định áp dụng TTRG phải gửi quyết định cho bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định áp dụng TTRG. Đồng thời, khi gửi quyết định, cơ quan ban hành quyết định phải giải thích quy định pháp luật có liên quan đến việc áp dụng TTRG và các quyền khác mà Bộ luật này quy định cho bị can; hướng dẫn thủ tục thực hiện quyền bào chữa để bị can, người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. Nếu bị can, người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải mời người bào chữa cho người phạm tội trừ trường hợp bị can, người đại diện hợp pháp của họ từ chối.

3. Quyết định áp dụng TTRG có thể bị khiếu nại. Bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng TTRG; thời hiệu khiếu nại là ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến cơ quan đã ra quyết định áp dụng TTRG và phải được giải quyết trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

Khi có căn cứ xác định việc khiếu nại áp dụng TTRG là đúng thì cơ quan đã ra quyết định áp dụng TTRG sẽ hủy bỏ việc áp dụng và vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung. Nếu việc khiếu nại không có căn cứ thì cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Thời gian giải quyết khiếu nại không tính vào thời hạn điều tra.”

Bên cạnh đó, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 57 BLTTHS điểm c quy định về bào chữa chỉ định khi vụ án được tiến hành theo TTRG với nội dung:

c) Vụ án được tiến hành theo TTRG

Đồng thời, bổ sung vào khoản 2 Điều 34 BLTTHS điểm g quy định về thẩm quyền quyết định áp dụng TTRG thuộc về thủ trưởng CQĐT và bổ sung vào khoản 1 Điều 36 BLTTHS điểm i thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp có đầy đủ điều kiện áp dụng TTRG mà CQĐT không áp dụng.

Thứ tư, bổ sung vào khoản 2 Điều 323 và khoản 3 Điều 324 BLTTHS thẩm quyền hủy quyết định áp dụng TTRG khi Viện kiểm sát, Tòa án đánh giá các căn cứ áp dụng TTRG không đảm bảo. Theo đó, khoản 2 Điều 323 BLTTHS sẽ có nội dung như sau:

“2. Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này hoặc khi xác định các căn cứ áp dụng TTRG tại Điều 319 Bộ luật này không đảm bảo thì Viện kiểm sát phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định áp dụng TTRG và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.”

Và khoản 3 Điều 324 BLTTHS sẽ có nội dung:

“3. Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này hoặc khi xác định các căn cứ áp dụng TTRG tại Điều 319 Bộ luật này không đảm bảo thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời hạn điều tra, truy tố, xét xử tại các Điều 312, 323 và 324 BLTTHS. Theo đó, thời hạn điều tra sẽ tăng từ 12 ngày lên 22 ngày; thời hạn truy số sẽ tăng từ 04 ngày lên 08 ngày và thời hạn chuẩn bị xét xử sẽ tăng từ ngày 07 ngày lên 10 ngày. Thời hạn từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi mở phiên tòa giữ nguyên là 07 ngày.

Đồng thời, bổ sung vào các Điều 312, 323 và 324 BLTTHS việc gia hạn thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Theo đó, trong trường hợp cần thiết, CQĐT có thể gia hạn thời hạn điều tra 01 lần không quá 05 ngày; Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn truy tố 01 lần không quá 03 ngày và Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử không quá 04 ngày.

Thứ sáu, bổ sung vào Điều 320 khoản 4 quy định về quyền áp dụng TTRG của Viện kiểm sát, Tòa án khi có căn cứ áp dụng TTRG nhưng giai đoạn điều tra, truy tố, CQĐT, Viện kiểm sát không áp dụng để rút ngắn thời gian giải quyết vụ án. Theo đó, khoản 4 Điều 320 BLTTHS sẽ có nội dung như sau:

4. Khi có các căn áp dụng TTRG mà trong giai đoạn điều tra, truy tố, CQĐT, Viện kiểm sát không áp dụng thì khi vụ án được chuyển sang giai đoạn truy tố, xét xử, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định áp dụng TTRG. Trong trường hợp, Viện kiểm sát áp dụng TTRG trong giai đoạn truy tố thì giai đoạn xét xử cũng áp dụng TTRG.

Thứ bảy, đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về tạm giữ, tạm giam tại các khoản 2, 3 Điều 322 BLTTHS với các nội dung: việc gia hạn thời hạn tạm giữ; trừ thời hạn tạm giữa vào thời hạn tạm giam; thời hạn phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT; tách việc áp dụng biện pháp tạm giam giữa CQĐT với Viện kiểm sát. Theo đó, các khoản 2, 3 Điều 322 BLTTHS sẽ có nội dung như sau:

“2. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ ngày CQĐT nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết, CQĐT có thể gia hạn tạm giữ một lần. Việc thực hiện thủ tục gia hạn tạm giữ được thực hiện như thủ tục chung.

3. Thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được vượt quá thời hạn điều tra, truy tố. Trong trường hợp, CQĐT có áp dụng biện pháp tạm giữ thì thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Viện kiểm sát xem xét phê chuẩn việc gian hạn tạm giữ, lệnh tạm giam của CQĐT trong hạn 24 giờ kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị phê chuẩn của CQĐT.

Thứ tám, bổ sung vào Điều 321 BLTTHS khoản 3 quy định về tạm đình chỉ điều tra với nội dung như sau:

3. Khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra theo Điều 160 Bộ luật này thì CQĐT quyết định hủy bỏ việc áp dụng TTRG và phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Khi đó, vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục chung.”

Thứ chín, bổ sung vào Điều 323 BLTTHS trách nhiệm tống đạt quyết định truy tố cho bị can, người bào chữa và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cùng với ngày Viện kiểm sát ban hành quyết định truy tố.

Thứ mười, bổ sung vào khoản 2 Điều 324 BLTTHS thời hạn tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo; bổ sung vào khoản 3 Điều 324 BLTTHS quy định về thời hạn hoãn phiên tòa không tính vào thời hạn xét xử và bổ sung vào Điều 326 BLTTHS khoản 6 quy định về thành phần xét xử vụ án hình sự theo TTRG. Theo đó, các khoản 2, 3 và 6 Điều 324 BLTTHS sẽ có nội dung như sau:  

Điều 324. Xét xử

2. …

Tòa án phải tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi mở phiên tòa ít nhất 02 ngày sau khi ban hành để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

3. …

Thời gian hoãn phiên tòa không tính vào thời hạn giải quyết vụ án theo TTRG.

4. …

5. …

6. Việc xét xử vụ án theo TTRG do một Thẩm phán tiến hành.

Thứ mười một, bổ sung Chương XXXIV Điều 324a quy định về điều kiện và trình tự, thủ tục tố tụng áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm như sau:

Điều 324a. Điều kiện và trình tự, thủ tục tố tụng áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm

1. Việc áp dụng TTRG ở giai đoạn xét xử phúc thẩm phải đảm bảo các điều kiện sau:

a) Vụ án đó đã được xét xử theo TTRG ở giai đoạn xét xử sơ thẩm.

b) Ở phiên tòa sơ thẩm, các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án đã được làm rõ, không có mâu thuẫn và người phạm tội đã thừa nhận tội của mình.

c) Chỉ có kháng cáo, kháng nghị theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc kháng cáo, kháng nghị điều chỉnh mức bồi thường, áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng.

d) Các điều kiện về áp dụng TTRG ở cấp sơ thẩm được đảm bảo.

2. Việc kháng cáo, kháng nghị đối với bản án đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết theo TTRG

Thời hạn kháng cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 07 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, hoặc từ ngày bản án được giao, được niêm yết.

3. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 7 ngày kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án.

4. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm

Trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm khi xét xử vụ án theo TTRG được thực hiện như sau:

Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa theo thủ tục chung; người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị trình bày ý kiến; Viện kiểm sát nêu quan điểm giải quyết vụ án trong trường hợp Viện kiểm sát không kháng nghị, người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo trình bày ý kiến trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị; Thẩm phán xem xét và tuyên án ngay tại phòng xét xử mà không cần phải vào phòng nghị án.

Ngoài ra, cần sửa đổi, bổ sung 02 nguyên tắc của BLTTHS tại Điều 15 về thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và Điều 17 về việc Toà án xét xử tập thể cho phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, việc áp dụng 02 nguyên tác này sẽ không áp dụng trong trường hợp vụ án được xét xử theo TTRG.

Tóm lại, việc giải quyết vụ án theo TTRG là định hướng lớn đã được Đảng, Nhà nước ta đề ra từ khi đất nước mới giành độc lập. Trong tố tụng hình sự, chế định này đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản của Chính phủ, các cơ quan tư pháp trung ương trước khi được quy định chi tiết trong BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, do bị gián đoạn trong thời gian dài, từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1986 có hiệu lực đến khi BLTTHS có hiệu lực, nên các quy định về TTRG trong BLTTHS chưa được hoàn chỉnh, việc nhận thức, vận dụng các quy định này trong thực tiễn còn hạn chế nhất định. Chính vì vậy, qua thực tiễn áp dụng, đòi hỏi phải có sự tổng kết để sửa đổi, bổ sung quy định về TTRG, góp phần phát huy ý nghĩa, vai trò của TTRG, đấu tranh phòng chống tội phạm ngày càng hiệu quả hơn và bảo vệ tốt quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Với các vướng mắc, bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện mà bài viết này nêu lên, hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện quy định về TTRG trong BLTTHS, đặc biệt trong thời điểm Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang tổng hợp ý kiến để hoàn thành dự thảo BLTTHS sửa đổi.

[1] Đó là, Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Thông tư số 139 ngày 28/5/1974 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư số 10-TATC ngày 08/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao; Chỉ thị số 954/CP ngày 17/8/1974 của Bộ Công an; Thông tư số 01-TT ngày 28/2/1975 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư liên ngành số 12/TTLN ngày 31/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ.

[2] Có ý kiến cho rằng, việc xem xét điều kiện này có thể tham khảo Thông tư số 10/TATC ngày 08/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tội phạm dơn giản, rõ ràng. Theo đó, “Tội phạm đơn giản, rõ ràng là: Vụ án không có các tình tiết phải mất thì giờ điều tra, xác minh, bị cáo đã nhận tội và trong vụ án chỉ có một hoặc hai bị cáo”.

[3] Nguyễn Đức Mai, Hoàn thiện TTRG đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 15/2008, tr.7-14; Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.527.

[4] Nguyễn Đức Mai, Hoàn thiện TTRG đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 15/2008, tr.7-14.

[5] Vũ Gia Lâm, Hoàn thiện quy định của BLTTHS về TTRG, Tạp chí Luật học số 8/2008, tr.46-51.

Nguồn: http://moj.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi