Vấn đề kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hình sự

TS. Phạm Mạnh Hùng - Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Thuật ngữ "hoạt động tư pháp", "quyền tư pháp" "cơ quan tư pháp" trong mỗi quốc gia được hiểu không giống nhau. Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta và từ nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Viện kiểm sát và Tòa án ở Việt Nam có những chức năng, nhiệm vụ khác với Viện kiểm sát (Viện công tố) và Tòa án các nước khác.

 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của Viện kiểm sát, được quy định trong Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp trước đó và được khẳng định lại trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 107). Căn cứ quy định của Hiến pháp và các đạo luật khác như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), B          ộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật tố tụng hành chính... và căn cứ vào các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, có thể hiểu hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án hình sự, hành chính, các vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động... Cơ quan tư pháp bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án. Kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể hoạt động tư pháp.

Trong một số trường hợp nhất định, ngoài Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức khác cũng tiến hành một số hoạt động tư pháp, như các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vụ án hình sự, các cơ quan, tổ chức tham gia vào việc thi hành án treo, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, thi hành các biện pháp tư pháp do Tòa án quyết định đối với người phạm tội... Tuy nhiên, các cơ quan, tổ chức này không phải cơ quan tư pháp vì chức năng của các cơ quan, tổ chức này không phải chủ yếu là thực hiện hoạt động tư pháp.

Mặc dù quyền tư pháp là quyền năng hiện hữu, xuất hiện từ lâu, gắn liền với Nhà nước và được hiểu như một thứ quyền lực trong ba  loại quyền của bất cứ Nhà nước nào: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, nhưng ở Việt Nam, trước khi có Hiến pháp năm 2013, hầu như chưa có quy định nào của pháp luật đề cập đến việc phân định cơ quan nào là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Điều 102 Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên ghi nhận chức năng "Thực hiện quyền tư pháp" của Tòa án nhân dân khi đưa ra quy định:  "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp".

Với quy định trên, đã có nhiều ý kiến khác nhau về nội hàm của việc thực hiện quyền tư pháp.

Ý kiến thứ nhất cho rằng, theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 thì quyền tư pháp là quyền riêng có của Tòa án. Theo quan điểm này, ngoài Tòa án, các cơ quan khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không thực hiện quyền tư pháp (và không phải cơ quan tư pháp). Quan điểm này cho rằng, cần hiểu quyền tư pháp của Tòa án được thể hiện ở tất cả các giai đoạn: Trước, trong và sau xét xử. Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, thực hiện quyền tư pháp cho nên những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân phải do Tòa án quyết định, như quyết định khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp bắt, khám xét, tạm giữ, tạm giam... để thực hiện nhiệm vụ Hiến định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật[1].

 Theo chúng tôi, Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp nhưng điều đó không có nghĩa Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp. Theo nguyên tắc Nhà nước thống nhất quyền lực, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thì ở Việt Nam, không có cơ quan nào là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp. Quy định về việc Tòa án thực hiện quyền tư pháp thực chất là quy định chức năng xem xét, phán quyết của Tòa án khi thực hiện việc xét xử các vụ việc được đưa đến Tòa án sau khi có quyết định truy tố, khởi kiện... ra Tòa án về các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án. Việc quyết định hoặc phê chuẩn quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam... trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử được coi là các biện pháp thực hiện quyền tư pháp. Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp và BLTTHS, trong giai đoạn điều tra, truy tố, các biện pháp này đã được giao cho Viện kiểm sát xem xét quyết định hoặc phê chuẩn quyết định. Việc nêu vấn đề Tòa án cần được quyết định những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự trong giai đoạn điều tra, truy tố là trái với các quy định của Hiến pháp và không phù hợp với thực tế hoạt động tố tụng ở Việt Nam hiện nay.

Ý kiến thứ hai cho rằng, Hiến pháp quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp là quy định mở rộng phạm vi thực hiện chức năng của Tòa án. Theo đó thực hiện quyền tư pháp không chỉ là thực hiện quyền xét xử mà còn là quyền đánh giá và kết luận về tính hợp pháp và có căn cứ của các quyết định, hành vi tố tụng do các cơ quan tư pháp thực hiện trong tất cả quá trình tố tụng và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Ý kiến này cho rằng, trước yêu cầu bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi biện pháp ngăn chặn hoặc cưỡng chế của Nhà nước nếu hạn chế quyền con người, quyền công dân thì đều phải được Tòa án xem xét, áp dụng hoặc kiểm tra để thay đổi, hủy bỏ trong trường hợp việc áp dụng các biện pháp đó là trái pháp luật hoặc không cần thiết[2].

Theo chúng tôi, cần nhìn nhận phạm vi nội dung của hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa  án trong mối quan hệ với phạm vi nội dung của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Đúng là trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực phải được kiểm soát, nhất là quyền của các cơ quan nhà nước liên quan đến việc tước bỏ hoặc hạn chế các quyền con người, quyền công dân để tránh sự lạm quyền, xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp (Điều 107), ở Việt Nam, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng, thuộc về Viện kiểm sát để thực hiện "nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" (Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp 2013). Như vậy, vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân không phải chỉ là nhiệm vụ của Tòa án mà còn là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước khác, trong đó có Viện kiểm sát.

Trong hoạt động tố tụng hình sự, thẩm quyền xem xét, quyết định hoặc phê chuẩn áp dụng biện pháp bắt người trong giai đoạn điều tra, truy tố là thuộc nội dung của chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát và là chức năng do Hiến pháp quy định. Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định."

Theo quan điểm chúng tôi, ở Việt Nam, quyền tư pháp là quyền mà Nhà nước giao cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vụ án hình sự, hành chính; các vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động... theo các thủ tục tố tụng tư pháp, bao gồm thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng hành chính... Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án đều thực hiện quyền tư pháp ở những mức độ khác nhau. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh một trong những phương hướng và nhiệm vụ cải cách tư pháp đến năm 2020 là "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm...". Như vậy, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đã xác định Tòa án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan tư pháp duy nhất.

 Với việc Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" thì cần phải hiểu việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án gắn liền với chức năng xét xử và chỉ thực hiện khi xét xử chứ không phải bao trùm cả chức năng điều tra, chức năng công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là những chức năng thuộc về các cơ quan khác. Việc Tòa án thực hiện quyền tư pháp thực chất là việc Tòa án thực hiện quyền xem xét (thông qua phiên tòa hoặc phiên họp...), ra phán quyết về sự đúng, sai của các vụ việc, các tranh chấp và xem xét, ra phán quyết về tính hợp pháp các hành vi, quyết định tố tụng của các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng tư pháp khi Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử đối với những vụ việc được đưa đến Tòa án. Hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án chỉ xảy ra khi vụ việc được chuyển đến Tòa án xem xét, quyết định và hoàn toàn độc lập với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát.

Vấn đề đặt ra là, nếu đã coi quyền tư pháp của Tòa án là quyền xem xét,  phán quyết sự đúng, sai các vụ việc được đưa đến Tòa án thì có nên tiếp tục coi hoạt động xét xử của Tòa án thuộc đối tượng tác động của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát không? Nếu tiếp tục coi hoạt động xét xử của Tòa án thuộc đối tượng của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát thì hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát có gây ảnh hưởng đến nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không?

Theo chúng tôi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát là chức năng do Hiến pháp quy định nhằm kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. Hoạt động xét xử là hoạt động tư pháp nên cũng là đối tượng tác động của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát. Đây là một trong những cơ chế do Hiến pháp quy định để kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của các cơ quan nhà nước, trong đó có Tòa án.

Theo các quy định của Hiến pháp và luật, Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án với nội dung là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các chủ thể tiến hành hoặc tham gia hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử. Tuy nhiên, hoạt động của Viện kiểm sát không gây cản trở, khó khăn cho hoạt động xét xử. Tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa điều khiển phiên tòa. Kiểm sát viên là người đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật và chịu sự điều khiển của Hội đồng xét xử. Ngoài thực hành quyền công tố tại phiên tòa, thể hiện bằng các hoạt động: công bố cáo trạng, tham gia xét hỏi, đối đáp, tranh luận, luận tội, đề nghị Tòa án áp dụng pháp luật để kết tội bị cáo theo điều khoản cụ thể của BLHS và quyết định hình phạt đối với bị cáo..., Viện kiểm sát (đại diện là Kiểm sát viên) còn thực hiện việc kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Thẩm phán, Hội thẩm và các chủ thể khác tham gia tố tụng. Tuy nhiên, phương thức kiểm sát tại phiên tòa của Kiểm sát viên, ngoài việc đưa ra yêu cầu, đề nghị để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định khi xét xử, còn là theo dõi, ghi chép, nắm bắt quá trình xem xét, giải quyết vụ việc để sau khi phiên tòa kết thúc, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ diễn biến và phán quyết của Hội đồng xét xử tại phiên tòa, đối chiếu với bút ký phiên tòa, biên bản nghị án... Viện kiểm sát sẽ xem xét, đánh giá về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của các chủ thể tham gia giải quyết vụ án hình sự, như tính hợp pháp của thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; tính hợp pháp của việc áp dụng BLHS; về sự phù hợp giữa kết luận trong bản án hoặc quyết định của Tòa án với những tình tiết khách quan của vụ án... Trong trường hợp tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát hiện có các vi phạm trong việc áp dụng pháp luật hình sự hoặc vi phạm thủ tục tố tụng hình sự trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì Kiểm sát viên không có quyền quyết định dừng, hoãn phiên tòa hoặc kháng nghị yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục vi phạm ngay tại phiên tòa mà sẽ xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị sau khi kết thúc phiên tòa. Như vậy, tại phiên tòa xét xử, Kiểm sát viên không thể can thiệp làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử và phán quyết của Hội đồng xét xử. Trong trường hợp đã xác định rõ hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử có vi phạm pháp luật thì sau phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình để xem xét, quyết định kháng nghị hay không kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án để đề nghị xét xử lại theo các thủ tục do BLTTHS quy định hoặc ban hành văn bản kiến nghị để yêu cầu Tòa án khắc phục các vi phạm trong hoạt động xét xử. Như vậy, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử của Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không làm ảnh hưởng đến việc bảo đảm nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mà vẫn bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử.

 Có ý kiến cho rằng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thực hiện chức năng buộc tội thì không nên giao cho Kiểm sát viên đó kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động kiểm sát xét xử. Theo ý kiến này, để bảo đảm tính khách quan thì trong cơ quan Viện kiểm sát cần có hai bộ phận độc lập: bộ phận thực hành quyền công tố và bộ phận thực hiện kiểm sát hoạt động xét xử[3].

Như chúng ta đã biết, thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là hai chức năng của Viện kiểm sát. Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hoạt động thực hành quyền công tố với các biện pháp như xác minh, điều tra, yêu cầu điều tra xác minh, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định của Cơ quan điều tra, tiến hành các hoạt động điều tra và các hoạt động tố tụng tại phiên tòa... là các biện pháp cần thiết để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, đồng thời là phương tiện để thực hiện có hiệu quả chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát đối với các cơ quan tư pháp khác. Viện kiểm sát khó có thể phát hiện ra những vi phạm trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp khác để thực hiện việc kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm nếu không tham gia vào các hoạt động tố tụng, trong đó có cả hoạt động xác minh, điều tra. Một trong những nguyên tắc hoạt động đặc thù của Viện kiểm sát đã được Hiến pháp quy định là nguyên tắc tập trung lãnh đạo thống nhất trong ngành. Theo đó, khi thực hiện nhiệm vụ, kiểm sát viên phải tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp mình, chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo các quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và của BLTTHS, các quyết định quan trọng của hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đều được giao cho Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét quyết định, như quyết định truy tố, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định kháng nghị, kiến nghị. Do vậy, quy định trong Viện kiểm sát có hai bộ phận thực hiện hai chức năng độc lập vừa không hiệu quả, vừa cồng kềnh, lãng phí (cả về nhân lực, kinh phí hoạt động) và không phù hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù của Viện kiểm sát.

Vấn đề đặt ra tiếp theo là, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp thì hoạt động của Viện kiểm sát có chịu sự kiểm soát của cơ quan khác ngoài Viện kiểm sát không? Nếu có thì ai là người kiểm soát hoạt động của Viện kiểm sát?

Chúng ta đều biết, cơ chế kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước bao gồm các hoạt động kiểm soát trong nội bộ từng cơ quan; nội bộ từng Bộ, ngành; nội bộ từng hệ thống các cơ quan: Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các hoạt động kiểm soát từ phía các cơ quan khác, kiểm soát từ bên ngoài. Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan nhà nước nên hoạt động của Viện kiểm sát cũng chịu sự kiểm soát của các cơ quan, tổ chức khác ngoài hệ thống kiểm tra, giám sát nội bộ ngành.

Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát vừa thực hành quyền công tố vừa kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra. Để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát có quyền quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra, quyết định thay đổi, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra... Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát. Đối với quyết định của Viện kiểm sát áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra, huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, quyết định việc truy tố bị can, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, "nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị" (Điều 114 BLTTHS).

Các hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố còn chịu sự kiểm soát của Tòa án sau khi hồ sơ vụ án đã được chuyển đến Tòa án. Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên và chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố... đều được Tòa án kiểm soát về tính hợp pháp và tính có căn cứ. Kết quả của hoạt động kiểm soát của Tòa án đối với hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố có thể dẫn đến việc Tòa án trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung hoặc yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án...

Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử nhưng hoạt động của Viện kiểm sát cũng chịu sự kiểm soát của Tòa án. Thể hiện ở chỗ, tại phiên tòa, Tòa án có thể tuyên bị cáo không phạm tội; tuyên bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự; ra bản án kết tội khác với tội mà Viện kiểm sát truy tố; quyết định loại và mức hình phạt khác với đề nghị của Viện kiểm sát; ra quyết định khởi tố vụ án (trong trường hợp thấy Viện kiểm sát bỏ lọt tội)... Mặt khác, các yêu cầu, đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa không có tính bắt buộc đối với Hội đồng xét xử, Hội động xét xử có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát. Sau phiên tòa, thông qua hoạt động kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát có thể ban hành quyết định kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án nhưng ngược lại, hoạt động kháng nghị  của Viện kiểm sát cũng chịu sự kiểm soát của Tòa án bằng việc Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị khi xét xử vụ án theo các thủ tục tố tụng (theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm). Đối với quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không thể bị Viện kiểm sát kháng nghị.

Như vậy, khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có kiểm sát hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, không phải Viện kiểm sát không chịu sự kiểm soát lại từ phía Cơ quan điều tra và Tòa án. Cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án đã tồn tại trong BLTTHS hiện hành, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các thông tư liên tịch về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an trong việc thi hành các quy định của BLTTHS.

Tóm lại, theo các quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án. Ngược lại, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát cũng chịu sự kiểm soát từ phía các cơ quan khác, đặc biệt là chịu sự kiểm soát từ phía Tòa án khi Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vấn đề đặt ra hiện nay là, căn cứ các quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà ở đó quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thì cần tiếp tục rà soát, tìm ra những bất cập trong các quy định của BLTTHS hiện hành để sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng hình sự, trong đó có hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát, hoạt động xét xử của Tòa án đều phải được kiểm soát chặt chẽ từ phía các cơ quan khác.

[1] - Xem Tổng hợp ý kiến tọa đàm về quyền tư pháp và việc cụ thể hóa quyền tư pháp trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) Tọa đàm tại Hà Nội được tổ chức ngày 06/5/2014; Tọa đàm tại thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức ngày 15/5/2014 - http://toaan.gov.vn

[2] - Xem Tổng hợp ý kiến tọa đàm về quyền tư pháp ... đã dẫn.

[3] - Xem Tổng hợp ý kiến tọa đàm về quyền tư pháp ... đã dẫn.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi