Một số nét về quyền bình đẳng trong tư pháp hình sự và hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam

Ths. Nguyễn Đức Hạnh – Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội                                              

1. Khái niệm pháp lý "quyền bình đẳng"

Pháp luật là một hiện tượng xã hội, cùng với Nhà nước pháp luật ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp. Bình đẳng là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội hiện đại ngày nay trong đó có pháp luật. Quyền bình đẳng là một thuật ngữ pháp lý thể hiện sự pháp luật hóa quyền tự nhiên của con người. Trong xã hội hiện đại, với nền tư pháp tiên tiến quyền con người ngày càng được đề cao thì quyền bình đẳng càng có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh, đặc biệt là lĩnh vực tư pháp hình sự. Tuy nhiên, không phải ngay khi có pháp luật thuật ngữ "bình đẳng" và "quyền bình đẳng" đã được sử dụng mà nó xuất hiện sau khi pháp luật ra đời một thời kỳ dài. Thuật ngữ "bình đẳng" được xuất hiện lần đầu tiên trong thời kỳ Cách mạng tư sản ở Châu Âu do các nhà triết học và tư tưởng sử dụng khi luận giải về nhà nước và pháp luật tiêu biểu như:

 Trong tác phẩm "Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự" của J.Locke đã luận giải về bình đẳng khi bàn về quyền con người và nguồn gốc của nhà nước. Locke cho rằng con người có những quyền tự nhiên cơ bản  là quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền sở hữu. Ông khẳng định rằng đây là những "quyền tự nhiên" hay quyền thiên bẩm phải được bảo vệ ở mọi chế độ xã hội. Theo đó, mỗi người sinh ra đều bình đẳng với nhau dù có khác biệt về khả năng, hoàn cảnh sống hay của cải. Con người thông qua lý trí tự nhiên, luôn quan tâm tới nghĩa vụ và bổn phận đối với người khác để mọi người luôn bình đẳng với nhau về quyền lợi, không ai có quyền xâm phạm tới lợi ích của người khác.

Trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật" (De l'esprit des lois) của Montesquieu Tại Chương 3 thuật ngữ "bình đẳng" cũng được sử dụng khi tác giả luận giải về "tinh thần bình đẳng cực đoan". Tác giả chỉ ra rằng: "Tinh thần bình đẳng chân chính khác tinh thần bình đẳng cực đoan một trời một vực". Bình đẳng chân chính không phải là làm cho mọi người đều chỉ huy hay không ai bị chỉ huy cả, mà là chỉ huy những người bình đẳng với mình và phục tùng con người bình đẳng với mình. Nền dân chủ không phải là vô chủ, mà là do những người bình đẳng làm chủ.

Thuật ngữ "bình đẳng" cũng được đề cập đến trong tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội" (Du Contrat social) của Jean - Jacques Rousseau. Rousseau viết: "Công ước xã hội xây dựng nên sự bình đẳng về tinh thần và pháp chế, để thay thế cái thiên nhiên đã làm cho người không bình đẳng về thể lực. Trên phương diện công ước và pháp quyền, con người tuy không đồng đều nhau về thân thể và trí tuệ vẫn được hoàn toàn bình đẳng như nhau". "Dưới quyền cai trị của một chính phủ tồi tệ, sự bình đẳng chỉ là bề ngoài và giả tạo"[1]  hay tại chương XI - Các hệ thống lập pháp khác nhau. Rousseau viết: "về bình đẳng thì không nên hiểu là mọi mức độ quyền lực về tài sản đều phải tuyệt đối ngang nhau"[2]

Năm 1776 tại Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã ghi nhận: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” nội dung đó cũng phù hợp với quy định tại Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217 (III) ngày 10 tháng 12 năm 1948: “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền”.

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên) được nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học phát hành năm 1997 thì bình đẳng có nghĩa là: "ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Nam nữ bình đẳng. Đối xử bình đẳng" và "quyền" có nghĩa là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành... và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại.

Với những nội dung trên, cho phép nhận thức "quyền bình đẳng" trong pháp luật là một loại quyền có nguồn ngốc từ quyền tự nhiên của con người mà pháp luật phải ghi nhận và bảo vệ để những đối tượng ngang hàng nhau về địa vị trong một quan hệ pháp luật thì có quyền lợi như nhau và không cho phép các đối tượng khác xâm hại.

Mặc dù thuật ngữ "quyền bình đẳng" lần đầu tiên được sử dụng và ghi nhận trong thời kỳ cách mạng tư sản lật đổ chế độ Phong kiến ở Châu Âu nhưng mầm mống tư tưởng về bình đẳng đã manh nha được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật thời kỳ trước đó ở cả phương Tây và phương Đông, trong các quy định của pháp luật nói chung và tư pháp hình sự nói riêng, sau đó dần dần được phát triển, hoàn thiện với những tư tưởng tiến bộ như ngày nay.

2. Quyền bình đẳng trong lịch sử tư pháp hình sự thế giới

- Bộ luật Hammourabi xuất hiện dưới vương triều Vua Babylone (1793-1750 trước công nguyên) là Bộ luật cổ còn lại và hoàn chỉnh nhất trong khu vực Lưỡng Hà, được xây dựng dựa trên sự phân biệt đẳng cấp xã hội để định thang hình phạt. Về hình sự thể hiện nhiều sự bất bình đẳng như quy định hình phạt đồng thái phục thù, đó là: "Luật xét xử ẩu đả theo tinh thần lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng". Xử phạt người thầy thuốc làm chết bệnh nhân tùy theo đẳng cấp bệnh nhân "Nếu chữa mắt mà làm hỏng mắt hay chết người dân tự do thì thầy thuốc bị chặt ngón tay. Nếu là nô lệ chết trong trường hợp tương tự thì thầy thuốc phải bồi thường một nô lệ". Dẫn đến bất bình đẳng do đẳng cấp trong xã hội mang lại. Kiến trúc sư xây nhà nếu nhà đổ chết chủ thì xử tử kiến trúc sư, nếu con chủ nhà chết thì xử tử con kiến trúc sư. Tạo nên sự bất bình đẳng do quan hệ huyết thống nên con kiến trúc sư bị đối xử bất bình đẳng so với các thành viên khác trong xã hội.

- Giữa thế kỷ thứ V trước công nguyên, giai cấp quý tộc chủ nô cầm quyền ở La Mã trên bán đảo Italia đã nhượng bộ với sự đấu tranh của quần chúng nhân dân soạn thảo và ban hành luật bằng văn bản khắc trên 12 tấm bảng bằng đồng đặt ở những nơi công cộng (còn gọi là luật 12 bảng), cho phép người bị gây thiệt hại có quyền tự xử đối với người gây thiệt hại như: "ngày phiên chợ thứ ba, chủ nợ có thể mang tùng xẻo con nợ". Nếu không trả được nợ con nợ có thể bị giết, hoặc bị bán ra nước ngoài (Bảng III, Điều 6) hoặc quy định: "nếu kẻ nào đang đêm ăn trộm mà bị giết ngay tại chỗ thì hành vi giết người ấy được coi là hợp pháp" (Bảng VIII, Điều 12). Có thể thấy, ở Luật La Mã cổ đại, những quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền tự do bị xâm phạm một cách nghiêm trọng nên không thể có sự bình đẳng trong đó.

- Từ giữa thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên ở Ấn Độ, các Raja (Vua của Ấn Độ) đã ban hành Bộ luật Manu và thiết lập Tòa án để xét xử những hành vi phạm tội. Trong đó cũng định ra các đẳng cấp trong xã hội, Chương VIII gồm 420 Điều nói về cách xét xử những người bị tội và các lỗi của đẳng cấp dưới đối với đẳng cấp trên về kinh tế, an ninh, xã hội... Như vậy, cho thấy việc xét xử những hành vi phạm tội được thực hiện một cách bất bình đẳng giữa những người có đẳng cấp khác nhau trong xã hội. Nếu có chăng, sự bình đẳng chỉ có được ở những người cùng đẳng cấp.

- Bộ luật Xalich của Vương quốc Fran là Vương quốc của người Giécmanh liên minh bộ lạc xâm nhập vào lãnh thổ Rôma soạn thảo và ban hành khoảng cuối thế kỷ thứ V. Tại chương XIV nói về tội xâm phạm và cướp đoạt đã phản ánh rõ sự bất bình đẳng và đặc quyền của người Fran lúc đó là: "Một người La Mã cướp đoạt một người Fran thì áp dụng điều khoản 1 để phạt - phạt 2.500 đina. Nếu một người Fran cướp đoạt một người La Mã thì chỉ phải phạt 35 solida", thể hiện sự bất bình đẳng giữa hai loại người thuộc các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, Bộ luật Xalich đã có sự tiến bộ là đã ghi nhận được mầm mống của việc xét xử bình đẳng khi quy định về thủ tục và cách xét xử tội phạm đó là: "Đối tượng bị xét xử không trừ bất cứ một ai, kể cả thẩm phán của phiên tòa nếu bị phạm lỗi" 

- Trong các triều đại phong kiến Trung Hoa, với hình thức chính thể quân chủ chuyên chế, đứng đầu đất nước là nhà Vua (Thiên tử) với xã hội thần dân. Mọi người và tài sản trên lãnh thổ đều là của Vua, Vua bắt chết thì phải chết, ý Vua là ý trời thì chưa có sự bình đẳng trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bên cạnh đó, do ảnh  hưởng của tư tưởng Nho giáo, trong xã hội cũng tồn tại những đẳng cấp người khác nhau như "Trượng phu" và "Tiểu nhân" trong đó có quan niệm: "hình phạt thì không tới bậc đại phu, lễ nghi thì không tới bậc thứ dân", tức là hình luật chẳng thể phạm tới kẻ bề trên và pháp luật cũng thể chế hóa tư tưởng này, tạo ra sự bất bình đẳng trong tư pháp hình sự.

 - Kể từ sau thời kỳ cách mạng tư sản ở Châu Âu, tư tưởng về quyền bình đẳng ngày càng được hoàn thiện và nhận thức rõ ràng trên phạm vi toàn thế giới. Sau khi Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc được thông qua, các nước thành viên đã từng bước nội luật hóa tư tưởng này trong bộ luật và đạo luật của nước mình. Cho đến nay, giá trị và tư tưởng về bình đẳng đã được phổ quát trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực tư pháp hình sự và tố tụng hình sự. Một số quốc gia khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự, về kỹ thuật lập pháp thể hiện có các điều quy định về các nguyên tắc, coi đó là tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt mà Bộ luật đó phải tuân theo khi kiến thiết các điều luật, trong đó có nguyên tắc về sự bình đẳng hoặc mang giá trị của sự bình đẳng được ghi nhận thành Điều luật. Cũng có một quốc gia khác, khi xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự, mặc dù không đặt ra những nguyên tắc về bình đẳng và ghi nhận thành Điều luật cụ thể nhưng trong nội dung các chế định, quy phạm của Bộ luật thì đều có sử dụng giá trị và tư tưởng bình đẳng trong lập pháp. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng thời kỳ, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia mà việc ghi nhận, thể chế giá trị bình đẳng vào trong các quy định của tố tụng hình sự có sự khác nhau, bởi nó phải dựa trên cơ sở của trình độ lập pháp và điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của chính quốc gia đó. Những giá trị và tư tưởng bình trong tư pháp hình sự được hoàn thiện và phát triển với những quan niệm sau:

+ Bình đẳng trong tư pháp hình sự đó là bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội. Do đó, khi tham gia tố tụng các bên buộc tội cũng như bên gỡ tội phải có cơ hội ngang nhau để phản bác các ý kiến của bên đối tụng, nói cách khác phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên tham gia tranh tụng trong tố tụng hình sự và không bên nào bị đặt trong vị trí bất lợi trong vòng quay tố tụng. Thực hiện sự bình đẳng này cũng là khát vọng của thực tế tố tụng hình sự hiện nay nhằm thực hiện các điều ước nhân quyền quốc tế[3].

+ Tư pháp hình sự nói chung và tố tụng hình sự nói riêng luôn luôn có sự đối lập về lợi ích. Do đó, trong một nhà nước lập hiến thì cần đối xử với họ một cách công bằng và công minh khi phán quyết, không nên tạo ra kẻ thù của pháp luật trong tố tụng hình sự, cần đề cao giá trị quyền con người về mặt hình thức trong việc bảo vệ lợi ích của các bên. Để đạt được điều đó trong hệ tố tụng thẩm vấn cần có những nguyên tắc nhất định như thẩm tra chéo, bình đẳng trước tòa án, tranh luận dân chủ.[4]

+ Trong tư pháp hình sự, một khía cạnh quan trọng đó là sự công bằng, để đạt được điều đó các bên có lợi ích đối lập nhau (bên buộc tội và bên gỡ tội) phải có sự “Bình đẳng vũ khí” bảo vệ quyền lợi trong tố tụng. Điều này như là một tiểu nguyên tắc công bằng. Theo đó, người tố cáo và bị cáo phải được đối xử bình đẳng trước pháp luật, muốn vậy thì nguồn lực của các bên trong tố tụng hình sự phải tương đối bình đẳng, cần đề cao vai trò của Luật sư trong việc tham gia tố tụng hình sự. Bình đẳng phải được coi như một nguyên tắc của tố tụng hình sự không những trong khi xét xử mà ngay cả trước khi xét xử.[5]

+  Tư tưởng về bình đẳng trong tư pháp hình sự không còn trong khuôn khổ một nước mà được phát triển dưới góc độ toàn khu vực (nhiều quốc gia). Như tư tưởng bình đẳng, không phân biệt đối xử của các cá nhân thuộc các quốc gia trong khu vực chung châu Âu khi bị bắt giữ, thuộc Dự án nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu pháp lý, kinh tế và xã hội – quản trị “Nicolae Titulescu” thuộc Đại học Bucharest, Romania, trong đó đề ra các nguyên tắc của Tòa án tư pháp liên minh châu Âu về tính hợp pháp, bình đẳng, không phân biệt đối xử. Trên cơ sở đó, châu Âu coi đây như là một khu vực tự do, an ninh và công lý được xây dựng trên các nguyên tắc chung, tôn trọng nguyên tắc chung của luật pháp EU.[6]

+ Thể hiện tư tưởng bình đẳng trong tư pháp hình sự vượt khỏi biên giới quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển nhân quyền. Có quan điểm cho rằng, một số quốc gia sẽ tiến hành những phiên tòa tố tụng hình sự mẫu, theo đó nếu Điều ước quốc tế mà các nước thành viên tham gia ký kết trong một số phiên tòa hình sự của các nước này sẽ có thể có quan sát viên, quan sát đối chiếu với hệ thống các tiêu chuẩn xét xử để đảm bảo quyền bình đẳng và xét xử công bằng trong tố tụng hình sự[7]

+ Để bảo đảm quyền bình đẳng thì tố tụng hình sự không những chỉ bảo vệ quyền cho bị cáo, bị can mà còn phải bảo vệ cả các quyền cho người bị tình nghi, chống phân biệt đối xử kể cả những tội phạm chiến tranh. Tư tưởng này cũng chỉ ra sự đối lập giữa truy tố tội ác và bảo vệ quyền của bị can, bị cáo, người bị tình nghi và cần có các giải pháp nhằm khắc phục có hiệu quả vi phạm các quyền của bị can, bị cáo, người bị tình nghi đã được pháp luật ghi nhận[8] với các tiêu chuẩn của xét xử công bằng, phải bảo vệ các quyền cần của  bị can, người bị tình nghi trước khi xét xử, bình đẳng trong tiếp cận chứng cứ, cung cấp chứng cứ và bình đẳng trước Tòa án[9]. Tất cả những người bị tình nghi phải được bảo đảm về quyền của họ trong suốt quá trình tố tụng[10].

+ Khi giải quyết các vụ án hình sự có người bị hại là người đã bị tội phạm gây thiệt hại về vật chất, thể chất hoặc tinh thần. Để đạt tới sự công bằng thì quyền bình đẳng của người bị hại hoặc những người bảo vệ quyền lợi cho họ cũng phải bình đẳng đối với bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo, người bị tình nghi. Có như vậy thì người bị hại mới không bị "gây thiệt hại" một lần nữa do sự chậm chễ, kéo dài của tố tụng hoặc chính tố tụng lại tạo ra sự bất bình đẳng trong bảo vệ quyền của người bị hại[11].

- Trong các tác phẩm của mình, mặc dù Các - Mác không luận giải bình đẳng là gì, nguồn gốc của bình đẳng từ đâu nhưng ông lại cho ta thấy được tính hiện thực của bình đẳng bằng cách chỉ ra bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội; chỉ ra thực chất mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể là quan hệ lợi ích; sự thống nhất giữa cá nhân và tập thể là điều kiện cơ bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân cũng như của tập thể; khái niệm xã hội được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn là những hệ thống xã hội như quốc gia, dân tộc, giai cấp, chủng tộc[12]. Như vậy, có thể thấy các lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh trong đó có tư pháp hình sự thì bình đẳng chỉ có được khi chú ý đến việc từng cá nhân có giá trị và được đối xử bình đẳng với các cá nhân khác trong xã hội.

3. Hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

Các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đều ghi nhận giá trị của bình đẳng và coi đó là một nguyên tắc Hiến định. Với ý nghĩa như vậy, nên các tất cả các Đạo luật và Bộ luật của Việt Nam đều thể chế hóa nguyên tắc này thành nguyên tắc cụ thể, được ghi nhận trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể mà nó điều chỉnh trong đó có Luật tố tụng hình sự. Là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật tố tụng hình sự quy định cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc giải quyết vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự  (BLTTHS) năm 2003, quy định hai nguyên tắc cơ bản liên quan đến quyền bình đẳng đó là: Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật” được quy định tại Điều 5 và nguyên tắc “Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án” được quy định tại Điều 19 BLTTHS năm 2003.

Mặc dù “quyền bình đẳng” được ghi nhận dưới hình thức hai nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS đã đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự thời gian qua. Tuy nhiên, do quá trình phát triển vận động của xã hội và trước đòi hỏi công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng, Nhà nước khởi xướng và lãnh đạo thì hai nguyên tắc liên quan đến quyền bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam cần có sự đánh giá, ghi nhận và kết cấu lại để góp phần hoàn thiện hơn về kỹ thuật lập pháp của BLTTHS, để giá trị bình đẳng được phổ quát hết trong cả quá trình tố tụng, nhằm bảo vệ có hiệu quả nhất các quyền con người, phù hợp xu thế của thời đại. Chúng tôi cho rằng, khi sửa đổi BLTTHS năm 2003 cần tiếp tục ghi nhận giá trị của bình đẳng, bên cạnh đó cần có sự điều chỉnh bởi:

Một là, bản Hiến pháp mới được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013, được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 09/12/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã ghi nhận giá trị của bình đẳng với tư cách là nguyên tắc Hiến định tại Điều 16: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội". Như vậy, thay vì quy định việc bình đẳng của “mọi công dân” như trước đây thì Hiến pháp quy định việc bình đẳng của “mọi người” là khái niệm có nội hàm rộng hơn khái niệm mọi công dân. Bên cạnh đó, lần đầu tiên Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm tại Điều 103, điều đó cũng có nghĩa, Hiến pháp đã ghi nhận những giá trị của bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, bình đẳng về địa vị pháp lý và yêu cầu trước tòa án... Vì vậy mà BLTTHS phải thể chế hóa thành nguyên tắc khi được sửa đổi bổ sung. Mặt khác, khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực pháp luật, với tư cách như là một đạo luật gốc đòi hỏi các đạo luật khác phải sớm điều chỉnh khi có những điểm chưa phù hợp với Hiến pháp mới, trong đó có Bộ luật tố tụng năm 2003.

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng, trong lần sửa đổi BLTTHS tới đây thì Điều 5 cần được thay cụm từ "mọi công dân" thành cụm từ "mọi người" để quy định trở thành nguyên tắc của tố tụng không những chỉ điều chỉnh, ghi nhận giá trị bình đẳng của nhân loại đối với riêng công dân của Việt Nam mà còn điều chỉnh, ghi nhận giá trị bình đẳng đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự Việt Nam. Thay từ cụm từ "nam nữ" thành cụm từ "giới tính" cho phù hợp với xã hội hiện nay có cả những người chuyển giới, người đồng tính..., về tên của nguyên tắc cũng không cần nói rõ chủ thể là “mọi công dân” vì đã được hiểu là “mọi người” một cách chung nhất rồi.

Để thực hiện nguyên tắc Hiến định, cần bổ sung một nguyên tắc mới của  BLTTHS đó là nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và nguyên tắc suy đoán vô tội. Chúng tôi cho rằng, nên bỏ nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án quy định tại Điều 19 như hiện nay để tránh sự trùng lặp với nguyên tắc tranh tụng, vì để thực hiện tranh tụng đã phải đảm bảo các nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong đó. Mặt khác, thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội cũng là đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án giữa bên buộc tội và bên gỡ tội.

Hai là, để những nguyên tắc của Bộ luật tố tụng hình sự trở thành tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng, giải thích và áp dụng đối với các chế định khác của Bộ luật, đồng thời phù hợp các nguyên tắc Hiến định, thể hiện Việt Nam sớm có sự tiếp thu giá trị tinh hoa và thành quả pháp lý của nhân loại khi xây dựng nền tư pháp phù hợp với xã hội hiện đại và tiến bộ. Mặt khác cũng thể hiện được trách nhiệm nội luật hóa của Việt Nam trong việc thực thi Công ước Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 01 (05) năm 2015

 

[1] Xem: Thanh Đạm, Bàn về khế ước xã hội, Nxb TP HCM, 1992, Tr.14

 

[2] Xem: Thanh Đạm, Bàn về khế ước xã hội, Nxb TP HCM, 1992, Tr.86

[3] Xem “The principle of equality of arms” – Nguyên tắc bình đẳng cánh tay trong tố tụng hình sự (2009) của J.P.W. Temminck Tuinstra tại Khoa luật Đại học Amsterdam

[4] Xem “The principles of criminal procedure and post-modern society: Contradictions and perspectives” – Nguyên tắc của tố tụng hình sự và xã hội hậu hiện đại: Mâu thuẫn và toàn cảnh của giáo sư luật học người Đức DR. Klaus Volk

[5] Xem“Right of defence and the principle of equality of arms in the criminal procedure in Bulgaria” – Bảo vệ quyền lợi hợp pháp và nguyên tắc bình đẳng vũ khí trong tố tụng hình sự của Bulgaria của các tiến sỹ luật học Maria Yordanova (Giám đốc chương trình luật dự án thuộc Trung tâm nghiên cứu dân chủ Bulgaria), Ognian Shentov, Alexander Stoyanov (2012)

[6] Xem “General principles of EU (Criminal) law: Legality, equality, non-Discrimination, specialty and ne bis in idem in the field of the Eropean arrest warrant” (2010) – Nguyên tắc tố tụng hình sự của pháp luật EU

[7] Xem “Trial Observation Manual for Criminal Proceedings” – Phiên tòa tố tụng hình sự mẫu của Ủy ban quốc tế về luật gia (International Commission of Jurists - ICJ) đặt tại Geneva (2009)

[8] Xem “Safeguarding the rights of Suspects and Accused persons in International criminal proccedings” – Bảo vệ quyền của các nghi phạm và bị cáo trong tố tụng hình sự quốc tế (2009), Masha – Tiến sỹ luật hình sự quốc tế Viện nhân quyền, Đại học Utrecht Hà Lan; Sten Verhoever cơ sở nghiên cứu viện luật quốc tế và Giáo sư Jan Wouters giám đốc trung tâm Leuven nghiên cứu quản lý toàn cần và viện luật quốc tế, đại học Leuve trong đó phân tích về quyền con người các tác giả cho rằng

 

[9] Xem “What is a fair trial” (2002) – Xét xử công bằng là gì do hai tác giả đều thuộc Tổ chức luật sư ủy ban nhân quyền (Lawyers committee for Human rights) là Jelena Pejic viết năm 1995 và Vanessa Lesnie bổ sung năm 1999.

 

[10] Xem “human rights in the Administration of Justice-a manual on human rights for judges, prosecutor and lawyers” do Văn phòng cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người và hội luật sự quốc tế xuất bản năm 2009; Tác phẩm “The right of the suspect to counsel in Pre-trial criminal proceedings, its content and the extent and the extent of afflycation” do Giáo sư tội phạm Jaan Ginter và Tiến sỹ Anneli Soo của Đại học Tartu Califonia Hoa Kỳ

 

[11] Xem: “Victim of Crime: An Overview of Reasearch and Policy” (1998) – Nạn nhân của tội phạm: Tổng quan tình hình nghiên cứu và chính sách của Viện Tội phạm học Australia đã nghiên cứu tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu trước đó của Australia về nạn nhân của tội phạm và tóm tắt các sáng kiến về mặt chính sách nhằm cải thiện vị trí, vai trò và quyền của người bị hại trong hệ thống tư pháp hình sự Australia.

[12] Xem: Giáo trình triết học Mác - Lê nin, Nxb chính trị quốc gia, 2004,Tr480-482

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi