Một số ý kiến góp ý về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự - Kỳ cuối

Ths. Nguyễn Quang Lộc, nguyên Thẩm phán TAND tối cao

3. Xét xử phúc thẩm

- Quy định về người có quyền kháng cáo

+ Có ý kiến cho rằng quy định quyền kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của người bị hại đã chết hoặc mất tích hoặc coi như đã chết và chỉ có quyền kháng cáo về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng liên quan đến họ. Chúng tôi cho rằng người đại diện theo pháp luật của người bị hại phải có quyền như người bị hại, tức là có quyền kháng cáo cả về phần hình phạt, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng liên quan đến họ trong vụ án. Nếu chỉ quy định quyền kháng cáo và hạn chế phạm vi kháng cáo của họ là không phù hợp thực tiễn. Giả sử trong vụ án mua bán người; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em nếu không thể biết người bị hại trong vụ án (nạn nhân) hiện đang ở đâu, có thể được coi là mất tích hoặc coi là đã chết hoặc thực tế đã chết mà người đại diện theo pháp luật của nạn nhân không có quyền kháng cáo về hình phạt thì rất bất công khi họ cho rằng hình phạt đối với bị cáo không tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Chúng tôi đã phân tích và trình bày vấn đề này tại Điều 56 Dự thảo BLTTHS và nếu đề xuất bổ sung quyền của người đại diện theo pháp luật của người bị hại trong điều luật này thì không cần quy định tại Điều 323 nữa.

Tuy nhiên, dù quy định tại Điều 56 hay tại Điều 323 thì quyền của người đại diện theo pháp luật của những người tham gia tố tụng vẫn phải đảm bảo, đặc biệt là người đại diện theo pháp luật của người bị hại.

+ Người được Tòa án tuyên bố không có tội vẫn có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định họ không có tội. Họ cũng có thể kháng cáo về cả những câu chữ, nhưng sai sót, nhầm lẫn của bản án sơ thẩm đối với họ. Chẳng hạn trong phần quyết định của bản án sơ thẩm “quên” không tuyên quyết định phục hồi danh dự, quyền lợi; vẫn buộc họ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, tính sai án phí dân sự trong trường hợp họ không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn có trách nhiệm dân sự vv.... Nếu chỉ quy định người được Tòa án tuyên bố không có tội chỉ có quyền kháng cáo về “các căn cứ” mà bản án sơ thẩm xác định họ không có tội là chưa đủ và vô hình chung đã hạn chế việc thực hiện quyền của người không có tội. Do vậy, chúng tôi đề nghị sửa khoản 6 Điều 323 theo hướng sau đây:

“6. Người được Tòa tuyên bố không có tội có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những căn cứ mà bản án sơ thẩm xác định không có tội và những nhận định hoặc quyết định khác của bản án sơ thẩm có liên quan đến họ.”

- Quy định về kháng cáo quá hạn

+ Khoản 5 của Điều 327 chỉ dự thảo quy định trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn (Tòa án cấp sơ thẩm sau khi nhận được quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành các thủ tục do BLTTHS quy định để gửi hồ sơ kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm) mà không quy định trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo quá hạn. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung vào khoản 5 như sau:

“Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Bản án quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định không chấp nhận kháng cáo quá hạn.”

+ Cũng cần bổ sung vào Điều luật này trường hợp trước khi mở phiên tòa phúc thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn kháng cáo quá hạn thì cũng phải thành lập Hội đồng xét kháng cáo quá hạn.

Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với 5 bị cáo, có 2 bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định. Hết thời hạn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã chuyển hồ sơ kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý hồ sơ vụ án thì nhận được đơn kháng cáo quá hạn. Nếu đơn kháng cáo quá hạn được gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm cũng không còn quyền để thực hiện quy định của khoản 2 Điều luật này nữa vì Tòa án cấp phúc thẩm đã thụ lý hồ sơ vụ án. Tòa án cấp phúc thẩm cũng không thực hiện được việc giải quyết định chấp nhận kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện thủ tục gửi hồ sơ kháng cáo vì hồ sơ đã gửi rồi.

Để giải quyết vướng mắc này, chúng tôi đề nghị cần bổ sung quy định tại khoản 5 Điều luật này như sau:

“Trường hợp trước khi mở phiên tòa phúc thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm nhận được kháng cáo quá hạn cũng phải thành lập Hội đồng xét kháng cáo quá hạn. Nếu Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận kháng cáo quá hạn thì quyết định này phải gửi cho người kháng cáo quá hạn, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm và xét xử vụ vụ án theo thủ tục chung. Nếu không chấp nhận thì gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm”.

- Quy định về kháng nghị của Viện kiểm sát.

BLTTHS năm 2003 và dự thảo BLTTHS đều không đề cập đến vấn đề kháng nghị quá hạn. Giả sử xảy ra kháng nghị quá hạn thì giải quyết thế nào? Có thể trong thực tiễn đây là trường hợp hy hữu nhưng không phải là không thể, không bao giờ xảy ra. Chúng tôi cho rằng BLTTHS cũng cần quy định việc giải quyết trường hợp kháng nghị quá hạn tương tự như trường hợp kháng cáo quá hạn. Nếu luật không quy định sẽ được hiểu là kháng cáo quá hạn thì phải xét còn kháng nghị quá hạn thì có thể không phải xét mà đương nhiên được chấp nhận cho dù không phải là “bất khả kháng hoặc vì lý do khách quan mà người có thẩm quyền kháng nghị không thể thực hiện được quyền kháng nghị”.

- Quy định về thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị.

Khoản 2 Điều 330 cần bổ sung quy định “Người được thông báo về kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nên ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm hoặc nêu ý kiến trực tiếp với Tòa án cấp phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm phải lập biên bản ghi ý kiến của người được thông báo kháng cáo, kháng nghị.Các văn bản này được đưa vào hồ sơ vụ án”.

- Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 127 Dự thảo BLTTHS thì thời hạn tạm giữ, tạm giam được tính bằng tháng thì một tháng được tính là 30 ngày. Các thời hạn quyết định trong Điều luật này ở khoản 1 thì là 2 tháng, Khoản 2 và khoản 3 quy định là 30 ngày (tức là 01 tháng theo quy định tại Điều 127). Như vậy, quy định về thời hạn trong BLTTHS không thống nhất và ngay trong một điều luật cũng không có sự thống nhất nên sẽ tạo ra việc thực hiện không thống nhất. Các quy định về thời hạn thể hiện tính nghiêm minh không chỉ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là của những người tham gia tố tụng. Chúng tôi đề nghị cần có một điều luật quy riêng về cách tính thời hạn trong BLTTHS và quy định này (ở phần chung) là căn cứ để tính thời hạn trong toàn bộ các điều luật có liên quan đến thời hạn của Bộ luật này.

- Quy định về sự có mặt của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị.

Chúng tôi đồng tình với dự thảo vì quy định này tương tự như quy định của phần xét xử sơ thẩm và rõ ràng, dễ áp dụng để Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết trường hợp vắng mặt của những người tham gia tố tụng.

- Quy định về sửa bản án sơ thẩm

Điểm e khoản 1 Điều 351 của dự thảo quy định: “giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo”. Đây là quy định tháo gỡ vướng mắc khi Tòa án cấp phúc thẩm buộc phải giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo khi mà mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tuy nhiên để điều luật này logic hơn, chúng tôi đề nghị chuyển điểm e lên cạnh điểm c “giảm hình phạt cho bị cáo”; điểm đ cũng được chuyển lên cạnh điểm e và điểm d đưa xuống cuối cùng. Trật tự của khoản 1 điều này được sắp xếp lại như sau.

“1. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;

b) Áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

c) Giảm hình phạt cho bị cáo;

d) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù cho hưởng án treo.

đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

e) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;

g) Sửa những phần Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không rõ ràng hoặc có sự nhầm lẫn, sai sótnhằm đảo bảo cho việc thi hành án.

Sở dĩ chúng tôi bổ sung thêm “nhầm lẫn, sai sót” để Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ áp dụng khi sửa án sơ thẩm. Chẳng hạn bản án sơ thẩm viết sai về tên đệm của bị cáo, nhầm lẫn tên người bị hại, áp dụng nhầm điều luật mặc dù tuyên bố tội danh là đúng vv... Những nhầm lẫn, sai sót của bản án sơ thẩm cần phải sửa lại cho đúng, mặc dù có thể về nội dung Tòa án cấp phúc thẩm vẫn giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

+ Tương tự như khoản 1, đối với khoản 2 của Điều luật này, chúng tôi cũng hoàn toàn đồng tình với việc bổ sung quy định tại điểm đ “không cho bị cáo hưởng án treo” để giải quyết vướng mắc Tòa án phúc thẩm không được chuyển từ phạt tù cho hưởng án treo sang không cho hưởng án treo (phạt tù giam) mà đúng ra là sửa biện pháp chấp hành hình phạt. Tuy nhiên, quy định này vẫn gặp vướng mắc khi Toà án cấp phúc thẩm xác định rõ ràng mức hình phạt nhưng cho hưởng án treo mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nặng. Quy định này không cho phép Toà án cấp phúc thẩm sửa mức hình phạt mà chỉ sửa “biện pháp chấp hành hình phạt” tức là đã thừa nhận không cho hưởng án treo nặng hơn cho hưởng án treo (tù giam nặng hơn phạt tù nhưng cho hưởng án treo). Gặp trường hợp này, Toà án cấp phúc thẩm chỉ được giữ nguyên hình phạt và không cho hưởng án treo. Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có thể đúng khi thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt mà sẽ không đúng về hình phạt.

Để giải quyết vướng mắc vẫn thường gặp trong thực tiễn này, dù không thật hợp lý lắm, nhưng chúng tôi vẫn đề xuất sửa điểm đ khoản 2 Điều 351 như sau:

“đ, Giữ nguyên hoặc giảm hình phạt và không cho hưởng án treo”

Trật tự sắp xếp các điểm của khoản 2 cũng tương tự như cách sắp xếp mà chúng tôi đề nghị ở khoản 1 điều này.

+ Về khoản 3: Để cho rõ ràng hơn, chúng tôi đề nghị quy định cụ thể như sau:

“3. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị, người bị hại hoặc đại diện theo pháp luật của họ kháng cáo yêu cầu làm xấu đi tình trạng của bị cáo, nếu có căn cứ Toà án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị và những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng nghị “

Nếu quy định như trên tức là bỏ đi, không quy định thẩm quyền của Toà phúc thẩm được sửa bản án sơ thẩm theo hướng nhẹ hơn khi có căn cứ không chấp nhận yêu cầu làm xấu đi tình trạng của bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng nghị; đồng thời lại có căn cứ để áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, trách nhiệm hình sự nhẹ hơn hoặc các quy định khác nhẹ hơn tại khoản 1 của Điều luật này. Chúng tôi cho rằng không nên bỏ quy định này của khoản 3 Điều 249 BLTTHS năm 2003.

V. Phần thứ năm: thi hành bản án và quyết định của Toà án

1. Chương XXIV:Những quy định chung về thi hành bản án và quyết định của Toà án

- Quy định về Bản án, quyết định được thi hành án

+ Khoản 1 Điều 356 bổ sung cụm từ “và đã có quyết định thi hành “ là đầy đủ bởi vì không phải bản án, quyết định nào đã có hiệu lực pháp luật cũng có quyết định thi hành. Chẳng hạn như các bản án tuyên bố không có tội, miễn trách nhiễm hình sự, miễn hình phạt hoặc cảnh cáo thì dù có hiệu lực pháp luật Toà án cũng không ra quyết định thi hành. Mặt khác, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ được thi hành phần dân sự khi cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành. Nếu vì lý do nào đó Toà án hoặc cơ quan thi hành án khi ra quyết định thi hành thì hết thời hiệu theo quy định của pháp luật thì không được ra quyết định thi hành nữa.

+ Điểm a khoản 1 Điều luật này bổ sung thêm “phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm” là phù hợp với quy định tại Điều 331 Dự thảo BLTTHS “Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị” đồng thời cũng khắc phục thiếu sót của Điều 255 BLTTHS năm 2003 khi điều luật này không quy định vấn đề này.

+ Điểm c khoản 1 quy định những bản án, quyết định được thi hành là những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành, trong đó có “Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án”. Theo quy định thì Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật; huỷ bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại. Như vậy, chỉ có quyết định giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của quyết định giám đốc, tái thẩm mới là đối tượng được đưa ra thi hành án. Quyết định huỷ để đình chỉ vụ án, huỷ để điều tra lại xét xử lại không phải là đối tượng (hay phạm vi) được ra quyết định thi hành án. Điều này cũng có nghĩa là không phải tất cả các quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đều thuộc quy định của điểm c khoản 1 Điều 356 BLTTHS. Để bảo đảm tính chính xác của pháp luật thì phải sửa điểm c như sau:

“c, Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; hoặc huỷ bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm đã bị huỷ hoặc bị sửa “.

Cũng có thể quy định dẫn chiếu như sau:

“c, Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án, trừ trường hợp quy đinh tại khoản 2, khoản 3 Điều 385 và khoản 2, khoản 3 Điều 398 của Bộ luật này “

- Quy định về thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án

+ Khoản 2 Điều 357 quy định: “…Trường hợp Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án, thì thời hạn ra quyết định là 07 ngày, kể từ ngày Toà án nhận uỷ thác nhận được quyết định uỷ thác thi hành án”.

Trong thực tiễn, đã có những trường hợp Toà án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định uỷ thác thi hành án nhưng không gửi quyết định đi hoặc Toà án nhận uỷ thác thi hành nhận được quyết định uỷ thác nhưng không ra quyết định thi hành án. Cả hai trường hợp này đều dẫn tới việc bản án, quyết định không được đưa ra thi hành án và hết hiệu lực thi hành. Để bảo đảm quản lý chặt chẽ công tác thi hành án, xác định rõ trách nhiệm của Toà án uỷ thác và Toà án nhận uỷ thác thi hành án, chúng tôi đề nghị cần bổ sung vào khoản 2 Điều luật này như sau:

“Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định uỷ thác thi hành án, Chánh án Toà án đã nhận uỷ thác phải gửi quyết định thi hành án cho Toà án đã uỷ thác để lưu trong hồ sơ uỷ thác thi hành án”.

+ Khoản 4 quy định “Các trường hợp không phải ra quyết định thi hành án, bao gồm:

a, Bản án, quyết định của Toà án được thi hành ngay:

b, Thi hành hình phạt cảnh cáo.

Theo chúng tôi, ngoài hai trường hợp trên, còn có một số trường hợp khác không phải ra quyết định thi hành án như: Bản án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (nếu trong bản án không có quyết định khác về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng ..), quyết định đình chỉ trong trường hợp bị cáo đã chết (khoản 7 Điều 107 BLTTHS năm 2003 và khoản 7 Điều 164 dự thảo BLTTHS) … Điều luật chỉ quy định hai trường hợp trên là chưa đầy đủ.

2. Chương XXVII: Thi hành án trong một số trường hợp cụ thể

- Quy định về thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành

Khoản 1 Điều 359 bổ sung quy định “Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi Chánh án TAND tối cao và bản án phải được gửi Viện trưởng VKSND tối cao”. Thông thường, hồ sơ các vụ án tử hình là phức tạp, nhiều tài liệu. Nếu quy định 3 ngày (phải là ngày làm việc) kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật phải chuyển hồ sơ và bản án thì TAND cấp tỉnh có thể thực hiện được vì còn có thời hạn kháng cáo, kháng nghị để sắp xếp hồ sơ, riêng Toà án cấp cao (Toà phúc thẩm TANDTC) là rất gấp vì bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay. Do đó, để phù hợp với thực tiễn, chúng tôi đề nghị nên quy định thời hạn là 7 ngày làm việc, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án và bản án phải được gửi theo quy định của Điều luật này.

- Về việc bỏ các quy định tại các Điều 259, 260, 261, 262, 263, 264, 265, 266, 267 , 268, 269 của BLTTHS năm 2003.

Chúng tôi đồng tình với việc bỏ các quy định này vì đã được quy định trong Luật thi hành án hình sự. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nên có một quy định mang tính nguyên tắc và dẫn chiếu trong Bộ luật này thì bảo đảm tính hệ thống. Chẳng hạn “Việc thi hành hình phạt tử hình, thi hành hình phạt tù và các hình phạt khác được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự”.

- Quy định về xoá án tích

Dự thảo BLHS đã sửa đổi quy định về xoá án tích theo hướng bỏ Điều 64 của BLHS năm 1999: “Xoá án tích do Toà án quyết định” và chỉ quy định một hình thức xoá án tích duy nhất là đương nhiên xoá án tích. Ngoài ra, dự thảo BLHS còn bổ sung quy định về xoá án tích đối với người bị kết án tù chung thân và người bị kết án tử hình nhưng đã được chuyển thành tù chung thân  (Điều 69 dự thảo Bộ luật hình sự).

Những sửa đổi, bổ sung rất mới này của dự thảo BLHS là căn cứ để sửa đổi, bổ sung đối với chế định xoá án tích của BLTTHS.

VI. Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật

1. Chương XXVIII: Thủ tục giám đốc thẩm

- Quy định về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án. Chúng tôi đồng tình với phương án 1 nhưng có một số ý kiến sau đây:

Một là: Điểm c sửa từ “áp dụng BLHS” thành “áp dụng pháp luật” với chú dẫn là “Thực tiễn xét xử không chỉ có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS, mà còn có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật khác dẫn đến việc ra bản án sai. Ví dụ áp dụng Luật giao thông đường bộ không đúng nên cho rằng bị cáo không phạm tội”.

Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này vì khi xét xử vụ án hình sự, Toà án chỉ căn cứ vào quy định của Điều 45 BLHS “khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tính trách nhiệm hình sự ”. Luật không quy định Toà án phải căn cứ vào các quy định pháp luật khác và áp dụng vào các quy định pháp luật khác. Thực tiễn xét xử cho thấy, hầu như không có bản án, quyết định áp dụng pháp luật khác để làm căn cứ quyết định hình phạt vì áp dụng như vậy là trái với Điều 45 BLHS. Khi phân tích, nhận định trong bản án, có thể việc dẫn quy định của pháp luật khác; việc viện dẫn sai là đánh giá sai, nhận thức sai về quy định pháp luật khác để dẫn tới việc áp dụng quy định của BLHS không đúng chứ không phải là áp dụng sai pháp luật dẫn đến xét xử sai. Chúng tôi cho rằng quy định tại khoản 4 Điều 273 BLTTHS năm 2003 là hoàn toàn có căn cứ, chính xác, phù hợp với quy định của BLHS. Do đó không có căn cứ để sửa quy định này và cần phải giữ nguyên quy định hiện hành.

Hai là: Không nên quy định tại khoản 2 nội dung: “TAND tối cao phối hợp với VKSND tối cao thi hành quy định tại khoản 1 Điều này”. Nếu điều luật quy định cụ thể những sai lầm nghiêm trọng cả về việc thực hiện thủ tục tố tụng cũng như sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS thì không cần phải ban hành hướng dẫn thi hành của TAND tối cao và VKSND tối cao.

- Quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

Khoản 3 Điều 377 quy định “Trường hợp người kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà thì Chánh án Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên toà thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm “.

Điều luật không quy định trường hợp rút một phần kháng nghị trước khi mở phiên toà và tại phiên toà. Như vậy, theo quy định của Điều này thì người có thẩm quyền kháng nghị chỉ được rút toàn bộ kháng nghị mà không được rút một phần kháng nghị. Theo chúng tôi, quy định này không phù hợp đối với trường hợp kháng nghị về nhiều nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền kháng nghị xét thấy có nội dung kháng nghị nào đó là không có căn cứ pháp luật thì có quyền chỉ rút phần kháng nghị.

Vì vậy chúng tôi đề nghị quy định thẩm quyền của người kháng nghị được rút một phần kháng nghị, cụ thể nên bổ sung vào quy định tại khoản 3 Điều luật này như sau:

“Trường hợp người kháng nghị rút ra một phần kháng nghị thì Chánh án Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm đối với phần đã rút kháng nghị, phần không rút kháng nghị được xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút một phần kháng nghị tại phiên toà thì Hội đồng xét xử chỉ xét xử phần không rút kháng nghị, phần rút kháng nghị được đình chỉ xét xử trong quyết định giám đốc thẩm.

2. Chương XXIX: Thủ tục tái thẩm

- Quy định về những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Chúng tôi đồng tình với phương án 2 của dự thảo BLTTHS. Việc bỏ khoản 2  Điều 291 BLTTHS năm 2003 quy định “Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng, làm cho vụ án bị xét xử sai” là chính xác vì đây không phải là tình tiết mới. Nếu phát hiện những người tiến hành tố tụng vì lý do nào đó mà kết luận sai, làm cho vụ án bị xét xử sai tức là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS thì trường hợp này phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

VII. Phần thứ bẩy: Thủ tục đặc biệt

1. Chương XXX: Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

- Quy định về những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị bắt, người tạm giữ và bị can, bị cáo là người chưa thành niên.

Chúng tôi đề nghị cần bổ sung vào Dự thảo (Điều 404) một quy định nữa đó là: “5. Động cơ, mục đích, hoàn cảnh phạm tội” vì đây là một vần đề ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của Tòa án trong xét xử các vụ án nói chung và đặc biệt là đối với vụ án do người chưa thành niên phạm tội. Khi có quy định này, Tòa án có căn cứ vững chắc hơn để quyết định việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, nhất là quyết định xử lý chuyển hướng.

- Quy định về giám sát đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên.

Dự thảo sửa đổi: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo là người chưa thành niên cho người đại diện theo pháp luật…”. Cha, mẹ người chưa thành niên theo quy định của BLDS là người đại diện theo pháp luật hoặc là người giám hộ. BLTTDS, BLTTHS cũng không có khái niệm chính thống về người giám hộ. Thuật ngữ này được sử dụng trong Luật tố tụng hành chính nhưng cũng không có quy định giải thích thế nào là người giám hộ và người được giám hộ (điểm b, khoản 2 Điều 54 LTTHC). Do vậy, chúng tôi đề nghị vẫn giữ lại cụm từ người đỡ đầu để phù hợp thực tiễn và thuận lợi khi thi hành. Điều luật này được sửa như sau:

“1.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo là người chưa thành niên cho người đại diện theo pháp luật hoặc người đỡ đầu giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng”. Nếu đề xuất này được chấp nhận thì khoản 1 Điều 400 Dự thảo BLTTHS cũng cần bổ sung người đỡ đầu được tham gia tố tụng, đồng thời bổ sung vào quy định của Điều 403 Dự thảo BLTTHS để họ thực hiện các quyền theo quy định của Bộ luật này.

Về vấn đề quy định thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Có một số ý kiến đề nghị bổ sung vào BLTTHS quy định về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao với lập luận là không trái với Luật tổ chức TAND, không trái với Hiến pháp và các quy định này đã được xây dựng tại Chương XIX BLTTDS sửa đổi, bổ sung và Chương XV LTTHC.

Về vấn đề này chúng tôi có một số ý kiến sau đây:

Một là: Khoản 1 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“1.TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam”.

Khoản 1 Điều 20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định.

“1. TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam”.

“2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nghiêm cấm cơ quan tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”

Điều 9 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định:

“1. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoạc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.”

Quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa án nhân dân nêu trên được hiểu là ở nước CHXHCN Việt Nam chỉ có TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất. Bất kể cơ quan, tổ chức cá nhân nào cũng bị nghiêm cấm can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào, không phân biệt can thiệp đúng hay sai. Như vậy, nếu BLTTHS quy định cho phép cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, theo chúng tôi là vi hiến.

Hai là: Theo quy định tại Điều 364 Dự thảo BLTTHS thì:

“1.Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, được coi là quyết định cao nhất của cơ quan xét xử cao nhất, không ai có quyền được can thiệp hoặc không được phép kháng nghị.

Ba là: Quyền xét xử là biểu hiện cụ thể nhất, quan trọng nhất của quyền tư pháp. Nếu quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao còn bị xem xét, bị kháng nghị bởi Chánh án TAND tối cao thì vô hình chung quyền tư pháp của Tòa án đã bị hạn chế rất lớn nếu không nói là gần như vô hiệu.

Bốn là: Xu hướng chung hiện nay là Tòa án cố gắng áp dụng án lệ trong xét xử, giải quyết các vụ án. Không phải bất cứ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nào cũng trở thành án lệ để được áp dụng trong xét xử. Chúng ta chưa có quy định những bản án, quyết định nào được coi là án lệ, nhưng chúng tôi tin rằng các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chắc chắn phải là án lệ. Nếu luật quy định thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì có lẽ không có bản án, quyết định nào được coi là án lệ nữa. Khi các bản án, quyết định lấy quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao làm án lệ để xét xử mà quyết định đó bị xem xét lại thì các bản án, quyết định căn cứ vào án lệ này cũng đương nhiên bị xem xét, kháng nghị.

Với những lập luận nêu trên, chúng tôi cho rằng không nên xây dựng thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao trong BLTTHS và cần mạnh dạn loại bỏ thủ tục này khỏi BLTTDS và LTTHC.

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi