Một số ý kiến góp ý về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự - Kỳ 4

Ths. Nguyễn Quang Lộc, nguyên Thẩm phán TAND tối cao

2. Chương XXIV: Xét xử sơ thẩm

- Quy định về chuyển vụ án

Theo quy định về việc chuyển vụ án tại Điều 174 BLTTHS năm 2003 thì Tòa án đã thụ lý vụ án chỉ được chuyển vụ án nếu xét thấy vụ án đó không thuộc thẩm quyền xét xử của mình trong hai trường hợp: (1) Khi vụ án chưa được xét xử và quyết định chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định; (2) Nếu vụ án đã đưa ra xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp trên hoặc Tòa án quân sự thì việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Như vậy, nếu vụ án đã đưa ra xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án cùng cấp thì Hội đồng xét xử của Tòa án nhân dân hoặc Tòa án quân sự vẫn phải tiếp tục xét xử vụ án mặc dù biết rõ không thuộc thẩm quyền của Tòa án mình. Hậu quả là bản án đó bị hủy vì vi phạm thẩm quyền xét xử, vụ án bị kéo dài do lỗi của pháp luật, nhưng những người tiến hành tố tụng lại là người phải trực tiếp gánh chịu hậu quả đó.

Vì vậy, chúng tôi đồng tình với việc sửa Điều 174 BLTTHS năm 2003 theo hướng không phân biệt trước khi xét xử hay trong khi xét xử vụ án mà phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định hoặc thay mặt Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố. Viện kiểm sát xét thấy việc trả hồ sơ đúng thì hủy cáo trạng (quyết định truy tố) để chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. Nếu xét thấy việc trả hồ sơ của Tòa án không có căn cứ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ cho Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do không chấp nhận việc trả hồ sơ. Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử.

Chúng tôi đề nghị cần quy định rõ hơn trong khoản 2 của Điều luật này đối với trường hợp chuyển hồ sơ vụ án giữa VKSND và VKSQS.

Ví dụ: Nếu VKSND quận A xét thấy thẩm quyền truy tố thuộc VKSQS khu vực B hoặc ngược lại thì thẩm quyền thủ tục chuyển vụ án thế nào? Chuyển trực tiếp hay phải qua Viện kiểm sát cấp trên? Trường hợp Viện kiểm sát được nhận hồ sơ vụ án để truy tố lại xét thấy hồ sơ vụ án đó không thuộc thẩm quyền của mình thì giải quyết thế nào?

- Quy định về thụ lý hồ sơ vụ án

Khoản 2 Điều 269 qui định:“Trong thời gian 24h kể từ khi thụ lý hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án ra quyết định phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa”. Về quy định này, chúng tôi xin nêu ra một số ý kiến sau:

Một là: thời hạn luật quy định để Chánh án phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là quá ngắn. Trong thực tế không ít trường hợp Chánh án Tòa án phải đi học, đi họp, đi công tác mà Tòa án đó chưa có Phó Chánh án thì chưa thể phân công được, dẫn tới vi phạm pháp luật. Mặt khác, trước khi phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Chánh án cũng phải nghiên cứu sơ bộ hồ sơ vụ án để quyết định phân công Thẩm phán cho phù hợp với khả năng, trình độ, sở trường của Thẩm phán nhằm bảo đảm việc xét xử giải quyết vụ án tốt nhất. Do đó, chúng tôi đề nghị cần quy định là: “Trong 03 ngày làm việc, kể từ khi thụ lý hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án ra quyết định phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa”.

Hai là: Khi dùng thuật “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa”, tức là vụ án đã thụ lý, Chánh án Tòa án đã ra quyết định phân công Thẩm phán thì Thẩm phán này đã là Chủ tọa phiên tòa, tức là vụ án sẽ được đưa ra xét xử. Thực tiễn, họ là chủ tọa phiên tòa, tức là vụ án sẽ được đưa ra xét xử. Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đã thụ lý đều được kết thúc tại phiên tòa vì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công có thể ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc chuyển vụ án. Những quyết định này có thể chấm dứt việc làm “Chủ tọa phiên tòa” của Thẩm phán được phân công. Do đó, nếu dùng thuật ngữ” quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án” thì đúng trong mọi trường hợp vì xét xử nằm trong giải quyết.

- Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Chúng tôi đồng tình với việc sửa từ “nhận hồ sơ vụ án” thành “thụ lý hồ sơ vụ án” vì nhận hồ sơ không có nghĩa là thụ lý hồ sơ vụ án. Thực tế có nhiều hồ sơ vụ án phức tạp, rất nhiều tài liệu, Tòa án nhận hồ sơ và phải có thời gian để kiểm tra các tài liệu theo bảng kê tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Những trường họp này thường kéo dài nhiều ngày mới thụ lý nếu có đủ điều kiện để thụ lý. Mặt khác nhận hồ sơ, chưa thụ lý thì chưa phát sinh tố tụng tại Tòa án.

Trong thời hạn xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Có lẽ vì theo qui định tại Điều 174 BLTTHS năm 2003 thì thẩm quyền chuyển vụ án không thuộc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án mà thuộc Chánh án Tòa án nên Luật chỉ quy định trong thời hạn chuẩn bị xét  xử, Thẩm phán chỉ được ra một trong các quyết định nêu trên. Điều 261 dự thảo BLTTHS đã sửa về quy định chuyển vụ án khi không thuộc thẩm quyền và cũng không quy định về thẩm quyền quyết định chuyển vụ án là của Chánh án Tòa án. Do đó, cần bổ sung vào khoản 1 của Điều này Thẩm phán có thẩm quyền “quyết định chuyển vụ án”.

- Quy định về áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.

 Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với việc giao cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và có quyền ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa mà đến ngày mở phiên tòa, thời hạn tạm giam đã hết.

Tuy nhiên theo trình tự tố tụng thì sau khi nhận được hồ sơ giải quyết, Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xác định mình có được giải quyết vụ án hay phải từ chối tiến hành tố tụng. Nếu không phải từ chối tiến hành tố tụng thì việc đầu tiên phải thực hiện là xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Do đó, nên chuyển Điều luật này sát sau Điều luật quy định về  “Thụ lý hồ sơ vụ án” thì phù hợp hơn.

- Quy định về những vấn đề cần giải quyết trước khi mở phiên tòa.

Đây là quy định mới về một số công việc mà Thẩm phán phải giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, một số quy định tại Điều luật này không hợp lý và mâu thuẫn  với các điều luật khác trong Bộ luật này, cụ thể như sau:

Một là: điểm a khoản 1 Điều 272 quy định

“a) Yêu cầu của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án;” Hồ sơ vụ án do VKS “thẩm định” trước khi quyết định truy tố hoặc không truy tố. Kiểm sát viên lại có quyền yêu cầu Thẩm phán cung cấp và bổ sung chứng cứ là không phù hợp; ngược lại, Thẩm phán mới có quyền này, tức là có quyền yêu cầu VKS “cung cấp, bổ sung chứng cứ “ và được thể hiện bằng quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Hai là: điểm d khoản 1 Điều 272 quy định

“d) Đề nghị của những người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa” Tức là những người tham gia tố tụng xin được xử vắng mặt họ. Nếu Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa chấp nhận và đã ra thông báo cho họ biết thì theo quy định tại Điều 295 dự thảo BLTTHS “Giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt”, nếu tại phiên tòa, Kiểm sát viên hoặc những người tham gia tố tụng có yêu cầu triệu tập người đó ra Tòa, thẩm quyền giải quyết có triệu tập hay không triệu tập, có hoãn phiên tòa hay không hoãn phiên tòa, khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa lại thuộc về Hội đồng xét xử. Nếu Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa vì cần phải triệu tâp người tham gia tố tụng vắng mặt thì giải quyết thông báo chấp nhận cho phép vắng mặt của Thẩm phán như thế nào? Do đó, theo chúng tôi, quy định này mâu thuẫn với quy định tại Điều 295 vì Thẩm phám không có quyền chấp nhận hay không chấp nhận việc vắng mặt của người tham gia tố tụng mà đây là quyền của Hội đồng xét xử, chỉ được giải quyết tại phiên tòa.

Ba là: Khoản 2 của Điều luật này quy định

“2. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa chấp nhận và thông báo cho người có yêu cầu, đề nghị biết. Nếu không có căn cứ chấp nhận thì phải trả lời bằng văn bản”.

Như vậy, theo quy định trên thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án. Quy định này trái với quy định tại các Điều 50 “Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm” và Điều 51 “Thay đổi Thư ký Tòa án”. Theo quy định của hai điều luật này thì việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án chứ không phải là của Thẩm phán.

Do đó, chúng tôi đề nghị nếu có quy định mới về các công việc mà Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa cần phải giải quyết thì cần nghiên cứu và loại bỏ những mâu thuẫn, trái các quy định khác của BLTTHS như đã nêu ở trên.

- Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung

+ Chúng tôi đồng tình với việc pháp điển hóa hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của VKSND tối cao, Bộ Công an, TAND tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung vào Điều luật này để áp dụng thống nhất và không cần phải ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, Điều 267 dự thảo BLTTHS quy định: “Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đã truy tố”. Tòa án ở đây được hiểu là Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa và khi đã giao cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ thì đây là một trường hợp mới cần quy định rõ hơn trong khoản 1 của Điều luật này. Đó là “... Khi xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa quyết định trả hồ sơ cho VKS đã truy tố”

+ Khoản 2 Điều 273 quy định: “Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa quyết định trả hồ sơ cho VKS trong trường hợp VKS có đề nghị bằng văn bản để bổ sung chứng cứ; thay đổi, bổ sung cáo trạng; khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng”.

Đây là trường hợp VKS chủ động đề nghị rút hồ sơ, trả lại hồ sơ vụ án bằng văn bản gửi Tòa án. Trong văn bản này, đương nhiên VKS phải nêu lý do rút hồ sơ. Trường hợp này có được hiểu là nếu có đề nghị của VKS thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định trả hồ sơ không? Mặc dù trong dự thảo quy định không rõ nhưng tinh thần là phải trả hồ sơ. Quy định này không phù hợp và mang tính áp đặt. Giả sử, Thẩm phán xét thấy những lý do xin rút hồ sơ (hay yêu cầu, đề nghị) rút hồ sơ của VKS là không có căn cứ thì theo quy định của Điều luật này vẫn phải trả hồ sơ. Tòa án đã thụ lý hồ sơ vụ án thì việc giải quyết vụ án như thế nào thuộc quyền của Tòa án, hay nói cách khác, việc trả hồ sơ hay không trả hồ sơ cho VKS là quyền của Tòa án - quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Nếu VKS có yêu cầu, đề nghị rút hồ sơ mà Thẩm phán xét thấy lý do xin rút hồ sơ là có căn cứ thì chấp nhận, nếu thấy không có căn cứ thì có quyền không chấp nhận và thông báo cho VKS biết. Vì vậy, chúng tôi đề nghị sửa khoản 2 của Điều luật này như sau:

“2. Khi VKS có đề nghị bằng văn bản về việc rút hồ sơ để bổ sung chứng cứ; thay đổi, bổ sung cáo trạng; khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa xem xét, nếu thấy đề nghị rút hồ sơ của VKS có căn cứ thì quyết định trả hồ sơ; nếu thấy không có căn cứ thì thông báo cho VKS biết.

+ Khoản 3 Điều 273 quy định:

“3. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung phải nêu rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho VKS kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định”. Quy định này là phù hợp trong trường hợp Tòa án chủ động trả hồ sơ cho VKS, nhưng không phù hợp trong trường hợp VKS có đề nghị trả hồ sơ vì các vấn đề cần điều tra, bổ sung là của VKS chứ không phải của Tòa án. Do vậy, trong khoản 3 phải loại trừ trường hợp trả hồ sơ theo đề nghị của VKS. Mặt khác, khi quy định thời hạn trả hồ sơ cần quy định rõ “ trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày...”.

- Quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên

Chúng tôi đề nghị chỉ quy định Kiểm sát viên thực hành quyền công tố mà không thực hành Kiểm sát xét xử tại phiên tòa (như đã trình bày tại những điều luật liên quan đến vấn đề này ở phần trên)

- Quy định về sự có mặt của người bào chữa

Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với những sửa đổi, bổ sung tại Điều luật này. Việc quy định chặt chẽ về sự có mặt của người bào chữa và tôn trọng ý chí của bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo sẽ hạn chế được trình trạng rất nhiều phiên tòa phải hoãn xử như hiện nay. Tuy nhiên, để quy định chặt chẽ hơn chúng tôi đề xuất sửa đoạn cuối của Khoản 2 Điều luật này như sau:

2...., trừ trường hợp bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo đều đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Yêu cầu này phải được ghi trong biên bản phiên tòa.”

Sở dĩ chúng tôi đề xuất việc sửa như trên vì các lí do sau đây:

Một là: Nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện theo pháp luật của họ có quyền tham gia tố tụng, tức là có quyền nhờ người bào chữa, thay đổi người bào chữa. Đây là trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa nên họ có quyền yêu cầu Toà án chỉ định người bào chữa cho bị cáo. Nếu bị cáo hoặc người đại diện theo pháp luật của bị cáo đều đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa thì mới được áp dụng Điều luật này. Nếu một trong hai người (bị cáo hoặc đại diện theo pháp luật của họ) không đồng ý thì Toà án phải hoãn phiên toà.

Hai là: Đây là trường hợp đặc biệt nên cần phải ghi ý kiến đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa của bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị cáo vào biên bản phiên toà vì nếu không thể hiện trong biên bản phiên toà thì Toà án phải lập biên bản về việc này và lưu trong hồ sơ vụ án.

- Quy định về sự có mặt của Điều tra viên

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án như sau:

Phương án 1: “Trong quá trình xét xử. Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đã điều tra vụ án đến phiên toà để làm rõ những tình tiết của vụ án, làm căn cứ cho việc ra bản án, quyết định”.

Phương án 2: Không quy định trong BLTTHS

Chúng tôi đồng tình với phương án 1, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đến phiên toà. Theo chúng tôi đó là quy định mới, tiến bộ. Nếu phương án 1 được chấp nhận thì cần bổ sung vào Điều 36 dự thảo BLTTHS về nghĩa vụ chấp hành của Điều tra viên khi Hội đồng xét xử triệu tập đến phiên toà. Mặt khác cũng cần nghiên cứu, suy nghĩ về tư cách tham gia tố tụng tại phiên toà của Điều tra viên. Họ là người tiến hành tố tụng hay là người tham gia phiên toà? Quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên tại phiên toà là gì? Những vấn đề này cũng phải được quy định cụ thể trong Điều luật này để Hội đồng xét xử thực hiện.

- Quy định về Kiểm sát viên rút quyết định hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên toà.

+ Tên của Điều luật này nên sửa đổi như sau:“Kiểm sát viên rút quyết định truy tố. Kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn”. Khoản 1 của cả hai phương án nên sửa thành:“Tại phiên toà, Kiểm sát viên có thể rút ra một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn tội danh đã truy tố”.

Trong cả hai phương án cũng cần bổ sung từ “bằng” vào trường hợp Kiểm sát viên kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn thì …”

Sở dĩ chúng tôi đề xuất như trên là bởi các lý do sau đây:

Một là: tại khoản 3 Điều 312 quy định về Luận tội có nội dung “…về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”.

Hai là: tại phiên toà, các quyết định cuối cùng để giải quyết vụ án thuộc về Hội đồng xét xử. Việc Kiểm sát viên nên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố là quyền của người thực hành quyền công tố. Chấp nhận hay không chấp nhận là quyền của Hội đồng xét xử. Theo Điều 195 BLTTHS năm 2003 thì Kiểm sát viên rút một phần hoặc toàn bộ truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án. Tại Công văn số 328/NCPL ngày 22/6/1993 của TAND tối cao về quyết định rút truy tố của VKS đã hướng dẫn như sau:

Nếu VKS rút toàn bộ quyết định truy tố (tức là rút toàn bộ cáo trạng) thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút truy tố của VKS. Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không phạm tội  thì Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không phạm tội. Ngược lại, nếu xét thấy có đủ căn cứ để xác định bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp để xem xét về quyết định rút toàn bộ truy tố của VKS cấp dưới. Cùng với công văn kiến nghị này, Toà án phải chuyển hồ sơ đến VKS cấp trên trực tiếp của VKS cấp dưới nêu trên.

Nếu VKS cấp trên trực tiếp thống nhất với quyết định rút toàn bộ truy tố của VKS cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án đã ra quyết định tạn đình chỉ biết. Nếu VKS cấp trên trực tiếp nhất trí với kiến nghị  của Toà án thì ra quyết định huỷ bỏ quyết định rút toàn bộ truy tố của VKS cấp dưới và chuyển hồ sơ cho Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ. Toà án thụ lý lại vụ án và xét xử trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý lại vụ án.

Nghiên cứu quy định của một số nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Nga, Đức, Pháp về vấn đề này thì tuy cách giải quyết khác nhau, nhưng hầu hết các nước này đều quy định là Toà án vẫn có nghĩa vụ chứng minh tội phạm (tức là vẫn tiếp tục xét xử). Điều  221 BLTTHS năm 2003 cũng quy định Toà án tiếp tục xét xử vụ án trong trường hợp Kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án.

Từ những lập luận trên, chúng tôi cho rằng không nên quy định có tính “trói buộc” quyền của Hội đồng xét xử tại phiên toà. Hội đồng xét xử không thể bị giới hạn “chỉ xét xử phần quyết định truy tố không bị rút” hoặc cũng không thể trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung được. Khi mà Kiểm sát viên đã rút một phần hay rút toàn bộ quyết định truy tố thì việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung liệu có khách quan và vô tư nữa không? Vì vậy, chúng tôi đề nghị quy định như sau:

Điều 290: Kiểm sát viên rút quyết định truy tố,  kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn quyết định đã truy tố tại phiên toà.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn tội VKS đã truy tố.

Trường hợp Kiểm sát viên kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

Trường hợp Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố thì Hội đồng vẫn xét xử toàn bộ vụ án. Nếu xét thấy phần rút quyết định truy tố có căn cứ thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ đối với phần rút truy tố.

Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử toàn bộ vụ án. Nếu xét thấy quyết định rút toàn bộ quyết định truy tố có căn cứ thì Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không phạm tội. Nếu thấy quyết định rút toàn bộ truy tố không có căn cứ thì Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung”.

- Quy định về giới hạn của việc xét xử

Chúng tôi cho rằng đây là một quy định hạn chế rất nhiều quyền của Hội đồng xét xử. Theo quy định này thì Tòa án không có quyền xét xử bị cáo về một tội danh nặng hơn tội danh đã khởi tố. Như vậy, việc xét xử của Tòa án lệ thuộc vào việc truy tố của VKS, trong trường hợp dù có đủ căn cứ bị cáo phạm tội nặng hơn cũng không được xét xử đúng tội. Trách nhiệm chứng minh tội phạm là của các cơ quan tiến hành tố tụng, dù có chứng minh được tội phạm thì tội phạm với ý nghĩa là đúng tội cũng không bị xử lý. Giới hạn của xét xử là quy định làm kéo dài tố tụng không cần thiết hoặc có thể làm mất đi chân lý. Do đó, chúng tôi đề nghị cần loại bỏ quy định về giới hạn của việc xét xử trong dự thảo BLTTHS

- Quy định về chuẩn bị bắt đầu phiên tòa

Đây là một điều luật mới, quy định những công việc mà Thư ký Tòa án phải thực hiện trước khi bắt đầu phiên tòa. Chúng tôi đồng tình với quy định này, tuy nhiên trong khoản 2 có quy định “nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do”. Thư ký Tòa án chỉ có thể kiểm tra, xác định có mặt hay vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án chứ không thể làm rõ lý do vắng mặt. Nếu quy định như trên thì Thư ký Tòa án phải thực hiện việc xác minh. Ví dụ có thông tin họ vắng mặt vì bị ốm phải đi bệnh viện, phải đi công tác gấp…thì Thư ký Tòa án phải xác minh tại bệnh viện hoặc nơi người tham gia tố tụng vắng mặt đang công tác, làm việc. Điều này có nghĩa là phiên tòa phải chờ kết quả xác minh thì mới bắt đầu được. Quy định này không phù hợp thực tiễn xét xử. Thư ký Tòa án chỉ kiểm tra, xác định sự có mặt hay vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa để báo cáo Hội đồng xét xử. Việc quyết định giải quyết sự vắng mặt của người tham gia tố tụng là quyền của Hội đồng xét xử. Do đó, chúng tôi đề nghị bỏ quy định “nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do”.

- Quy định về bắt đầu phiên tòa

+ Trong thực tiễn xét xử, khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố lý do “ Hôm nay, ngày…. tháng….năm….TAND… mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án….. Thay mặt Hội đồng xét xử, tôi công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử”. Không có phiên tòa nào, Hội đồng xét xử mà người người thay mặt là Chủ tọa phiên tòa bắt đầu phiên tòa bằng việc đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Để phù hợp thực tiễn, chúng tôi đề nghị nên bổ sung vào khoản 1 như sau:

“1. Khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố lý do, khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử” để phù hợp với thực tiễn xét xử.

+ Như đã nêu ở trên, Thư ký phiên tòa không thể biết lý do, không buộc phải làm rõ lý do vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa nên câu cuối của khoản 2 của quy định này cần bỏ và nếu để thì phải thêm từ nếu có trong ngoặc đơn (nếu có), tức là Thư ký Tòa án có thể biết hoặc không biết lý do vắng mặt.

+ Khoản 3 quy định “Chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước, phổ biến quyền, nghĩa vụ của những người tham gia phiên tòa có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án”. Theo quy định này, những người tham gia tố tụng vắng mặt thì không cần phải phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ (nếu Tòa án xét xử vắng mặt). Thực tiễn xét xử, Hội đồng xét xử phải xem xét và quyết định có xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng không; nếu vẫn xét xử thì vẫn phải dành cho họ, bảo đảm cho họ có và thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn Chủ tọa phiên tòa phải thay mặt Hội đồng xét xử công bố quyết định như “Sự vắng mặt của người bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Tòa án vẫn xét xử vụ án. Tòa án sẽ thông báo kết quả xét xử cho người bị hại vắng mặt biết và họ có quyền kháng cáo bản án”.

Vì vậy, chúng tôi để nghị bổ sung vào khoản 3 cả trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng không làm triệt tiêu quyền và nghĩa vụ của họ.

- Quy định về giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch.

Dự thảo bổ sung vào quy định của BLTTHS năm 2003 cụm từ “lý do của việc đề nghị thay đổi (nếu có)”. Chúng tôi đề nghị bỏ từ “(nếu có)” vì khi có đề nghị thay đổi thì người đề nghị đương nhiên phải nêu lý do. Mặt khác, Chủ tọa phiên tòa đã hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng về việc có ai đề nghị thay đổi hay không và lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu để từ “(nếu có)” thì có nghĩa là cứ đề nghị thay đổi, không cần phải nêu lý do. Quy định này là không hợp lý.

- Quy định về công bố bản cáo trạng

Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung. Ý kiến bổ sung này không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo hoặc không được làm thay đổi, không được làm ảnh hưởng (tạo ra ảnh hưởng) đối với những vấn đề cơ bản của bản cáo trạng. Thông thường, tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, Chủ tọa phiên tòa vẫn hỏi ý kiến của bị cáo về bản cáo trạng và các vấn đề Kiểm sát viên bổ sung (nếu có). Do vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung vào Điều luật này Khoản 2:

“2. Chủ tọa phiên tòa hỏi ý kiến của bị cáo về bản cáo trạng và ý kiến bổ sung của Kiểm sát viên ( nếu có)”.

- Quy định về trình tự xét hỏi

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án. Chúng tôi đồng tình với phương án 1 và có ý kiến về khoản 4 của Phương án 1 như sau:

“4. Những người khác tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định”.

Những người khác tham gia phiên tòa là tất cả những ai đến dự phiên tòa. Nếu quy định như vậy thì người đến dự phiên tòa (tham gia phiên tòa) cũng có quyền đề nghị, quyền phát biểu tại phiên tòa. Đây là quy định không hợp lý và thực tiễn xét xử thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận cho những người tham gia tố tụng phát biểu chứ không phải những người tham gia, tham dự phiên tòa được phát biểu. Quy định như vậy cũng làm mất đi tính nghiêm túc của phiên tòa. Do đó, chúng tôi đề nghị phải sửa lại là “những người khác tham gia tố tụng tại phiên tòa cũng có quyền đề nghị…”

- Quy định về công bố những lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố

Chúng tôi đề nghị bổ sung khoản 3 của Điều luật này như sau:

“3. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố các lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố”.

- Quy định về nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình

Dự thảo quy định: “Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm; xem băng ghi hình, đĩa ghi hình tại phiên tòa”.

Theo chúng tôi, không nên dùng từ “yêu cầu Hội đồng xét xử” mà nên dùng từ “đề nghịHội đồng xét xử” thì phù hợp hơn, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với Hội đồng xét xử.

- Quy định về luận tội

Dự thảo quy định tại khoản 3 “Kiểm sát viên có thể đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hoặc một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về khoản nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

Theo Điều 290 của dự thảo thì Kiểm sát viên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố. Về quyết định rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thường diễn ra trong phần luận tội, tức là sau khi xét hỏi. Khi luận tội, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, chỉ luận tội về phần không rút hoặc không luận tội nếu rút toàn bộ quyết định truy tố. Do dó, cần quy định rõ trong khoản 3 Điều luật này về quyền rút một phần hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố của Kiểm sát viên.

Chúng tôi đề xuất thiết kế khoản 3 như sau:

“3. Kiểm sát viên có thể đề nghị rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hoặc phần nội dung bản cáo trạng không rút truy tố; kết luận về khoản nhẹ hơn khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”.

Quy định này không trùng với quy định tại Điều 290 Dự thảo BLTTHS vì ở Điều 290 tuy cũng có quy định về quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhưng nội dung của Điều luật đó nhằm quy định về việc giải quyết của Hội đồng xét xử đối với việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên.

Điều 312 là Điều luật được bổ sung mới, tách từ Điều 217 BLTTHS năm 2003 quy định về “Trình tự phát biểu khi tranh luận” nhằm cụ thể hóa chức năng công tố - chức năng buộc tội. Điều luật này cụ thể hóa các nội dung mà Kiểm sát viên phải kết luận, phải để nghị tại phiên tòa, nội dung này không thể thiếu việc quyết định rút một phần, rút toàn bộ quyết định truy tố - một trong những quyền quan trọng của VKS mà đại diện là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thực hiện.

- Quy định về tranh luận

Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận của Viện kiểm sát chứ không phải chỉ đối với luận tội. Chẳng hạn người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền phát biểu, trình bày ý kiến của mình về việc Kiểm sát viên rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố. Bộ luật cũng quy định khi Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến của việc rút đó (Điều 221 BLTTHS 2003). Để đảm bảo quyền của những người tham gia tố tụng, đảm bảo thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo phù hợp với các quy định khác của BLTTHS về vấn đề này, chúng tôi đề nghị cần thiết phải thay cụm từ “về luận tội của Kiểm sát viên” bằng cụm từ “Về kết luận của Kiểm sát viên”.

Trong phần tranh luận, Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển việc tranh luận. Khi ý kiến của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chưa được Kiểm sát viên “đáp lại”, tranh luận lại thì Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận chứ không phải là “đề nghị Kiểm sát viên tranh luận”. Đối đáp lại, tranh luận là trách nhiệm của Kiểm sát viên, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu (tức là buộc) Kiểm sát viên phải trả lời, “yêu cầu” và “đề nghị” không đồng nghĩa hoàn toàn với nhau dưới góc độ tranh tụng.

- Quy định về trở lại việc xét hỏi

Có quan điểm đề nghị sửa điều này thành “Quyết định của Hội đồng xét xử sau tranh luận”. Theo đó, Hội đồng xét xử quyết định một số vấn đề về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, trở lại việc xét hỏi, yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ, tiến hành xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ hoặc tiến hành nghị án, tạm ngừng hoặc hoãn phiên tòa….

Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này vì các lẽ sau đây:

Hội đồng xét xử chỉ quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ khi nghị án. Khi kết thúc tranh luận, còn có thủ tục bị cáo nói lời sau cùng, nếu bị cáo trình bày thêm những tình tiết mới, có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử chưa thể nghị án mà phải trở lại việc xét hỏi (Điều 330 dự thảo BLTTHS và Điều 220 BLTTHS 2003). Cho dù kết thúc phần tranh luận, không có việc trở lại xét hỏi thì Hội đồng xét xử cũng không được bỏ qua quyền nói lời sau cùng của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng chưa thể ra ngay quyết định tiến hành nghị án được.

Trở lại việc xét hỏi là một quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc “ Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”. Xét hỏi để thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và trong mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, xét hỏi vẫn là phần rất quan trọng. BLTTHS đã quy định tới 03 lần trở lại việc xét hỏi, đó là sau khi tranh luận, sau khi bị cáo nói lời sau cùng và khi nghị án.

Do đó, chúng tôi đồng tình với việc giữ nguyên quy định này của BLTTHS năm 2003 để phù hợp với quy định tại điều 316 và 318 dự thảo BLTTHS (quy định về Bị cáo nói lời sau cùng và Trở lại việc xét hỏi và tranh luận), cũng như phù hợp với trình tự tố tụng tại phiên tòa.

- Quy định về nghị án

+ Trong thực tiễn xét xử, thông thường, Chủ tọa phiên tòa vừa điều khiển việc nghị án vừa là người ghi biên bản nghị án. Do đó luật nên quy định là “Chủ tọa phiên tòa điều khiển việc nghị án và có trách nhiệm đưa ra từng vấn đề để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ tọa phiên tòa có thể tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử ghi biên bản nghị án”.

Để đảm bảo khách quan trong nghị án, tránh việc “áp đặt” hay “lái” các vấn đề phải giải quyết khi nghị án, cần quy định Hội thẩm phát biểu ý kiến trước, biểu quyết trước Thẩm phán. Cụ thể nên sửa như sau: “Hội thẩm phát biểu và biểu quyết trước, Thẩm phán phát biểu và biểu quyết sau cùng”

+ Khoản 2 của Điều luật này cần bổ sung vào điểm c về “biện pháp chấp hành hình phạt” trong trường hợp Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

“c, Hình phạt, các biện pháp chấp hành hình phạt, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo”.

Mặt khác, chúng ta đang tiến hành sửa đổi BLHS, trong đó sửa đổi các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội, biện pháp phạt tiền và nếu không chấp hành hình phạt tiền thì chuyển thành hình phạt tù. Đây cũng là những vấn đề mới cần nghiên cứu để bổ sung trong BLTTHS và trong Điều luật mới này.

+ Trong thực tiễn xét xử, hầu như không xảy ra trường hợp không có ý kiến chiếm đa số khi Hội đồng xét xử nghị án. Tuy nhiên cũng không thể loại trừ trường hợp này. Nếu xảy ra thì giải quyết thế nào khi mà các thành viên Hội đồng xét xử vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Về nguyên tắc, chỉ quyết định theo đa số tức là khi không có đa số thì không quyết định được, không thể tuyên án được. Trong trường hợp này phải hoãn phiên tòa, nhưng trong dự thảo không có quy định nào cho phép hoãn phiên tòa. Do đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tìm cách “lách luật” bằng việc tìm lý do để “trở lại việc xét hỏi, tranh luận” để cố tìm ra lí do hoãn phiên tòa để tổ chức phiên tòa với thành phần Hội thẩm hoặc Thẩm phán khác. Để giải quyết các trường hợp hy hữu này, chúng tôi đề nghị nên có quy định “nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến đa số. Trường hợp vẫn không xác định được ý kiến đa số thì phải hoãn phiên tòa để xét xử lại vụ án bằng thành phần Hội đồng xét xử khác”.

- Quy định về tuyên án

Chúng tôi đề nghị thay “đọc bản án” bằng “công bố bản án” bản án cho phù hợp với việc sửa từ này trong quy định “công bố bản cáo trạng”; đồng thời thể hiện sự trang nghiêm và mang tính quyền lực nhà nước, pháp lý hơn.

Nguồn: http://toaan.gov.vn/ (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi