Một số ý kiến góp ý về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự - Kỳ 3

Ths. Nguyễn Quang Lộc, Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

6. Chương VII: Bào Chữa

- Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.

Đề nghị bổ sung vào quy định tại điểm d khoản 1 điều này về quyền của  người  bào chữa, đó là quyền được đề nghị hủy bỏ một số biện pháp cưỡng chế như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước, tạm hoãn xuất cảnh và phạt tiền. Các biện pháp cưỡng chế này là những biện pháp trực tiếp tác động đến quyền con người và đương nhiên người bào chữa có quyền đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ của người bào chữa có một vấn đề đặt ra là trong quá trình thực hiện các tác nghiệp của mình nếu người bào chữa biết thân chủ còn có các hành vi phạm tội nghiêm trọng khác thì họ có nghĩa vụ phải tố giác không? Hiện nay, có hai quan điểm về vấn đề này:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: người bào chữa không có nghĩa vụ phải tố giác vì nếu tố giác thì mất đi ý nghĩa của bào chữa và đó là nghề nghiệp của người bào chữa.

- Quan điểm thứ hai cho rằng: người bào chữa cũng phải có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ pháp chế; nghĩa là người bào chữa phải có trách nhiệm tố giác tội phạm, nếu họ không tố giác những hành vi phạm tội được quy định tại Điều 313 BLHS thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và đề nghị cần quy định nội dung này trong dự thảo BLTTHS.

- Quy định về việc chỉ định người bào chữa.

Khoản 3 điều luật này quy định: “3. Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có nhược điểm về thể chất và không thể tự mình thực hiện được quyền và nghĩa vụ bào chữa”.

Bào chữa là quyền, hoàn toàn không phải là nghĩa vụ phải thực hiện quyền này. Điều luật này quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm quyền bào chữa cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi họ là các đối tượng quy định tại điều luật này. Do vậy, chúng tôi đề nghị bỏ quy định về “nghĩa vụ” trong dự thảo BLTTHS.

Mặt khác, đề nghị bổ sung vào đoạn 1 nội dung: “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” vì các cơ quan này khi bắt, tạm giữ cũng phải bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ.

- Quy định về thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

Đề nghị bổ sung vào điểm a và b khoản 3 Điều luật này nội dung “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” như đã lập luận ở Điều 112 dự thảo BLTTHS.

- Quy định về trách nhiệm thông báo cho người bào chữa.

Đề nghị bổ sung trách nhiệm của “cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” vào khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này.

- Quy định về “Đề nghị thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật; đề nghị triệu tập người làm chứng” và “ Thu thập, giao nộp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa”.

Đây là hai điều luật mới, rất tiến bộ, thể hiện sâu sắc nguyên tắc tranh tụng, đảm bảo quyền tranh tụng, nâng cao vai trò, vị trí của người bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo thực hiện tốt việc bảo vệ quyền con người. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với những quy định tại hai điều luật này, đặc biệt là quy định tại khoản 2 Điều 119 “Người bào chữa tự mình thu thập chứng cứ sau khi đã đề nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập mà không được chấp nhận”.

Tuy  nhiên, trong hai điều luật có những quy định trùng lặp và cần được sửa lại. Chẳng hạn quy định tại khoản 3 Điều 122 trùng với quy định tại khoản 1 Điều 121.

Mặt khác trong cả hai điều luật này cũng cần bổ sung trách nhiệm của “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” như đã trình bày tại phần trên.

7. Chương VIII: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Quy định về yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

Cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra quy định tại khoản 1 Điều luật này nếu theo sửa đổi tại Điều 56 dự thảo BLTTHS là bị hại. Điều 56 dự thảo và Điều 51 BLTTHS năm 2003 cũng chỉ quy định thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra chứ không quy định là do “hành vi phạm tội trực tiếp gây ra”. Do đó, nên quy định như khái niệm tại Điều 56 về bị hại để phù hợp và chính xác.

Theo khoản 2 của Điều luật này thì “Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định tại Điều 162 BLTTDS có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể, lợi ích của Nhà nước”.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì cơ quan, tổ chức này là nguyên đơn. Như vậy, cơ quan, tổ chức càng không thể vừa là nguyên đơn vừa là bị hại trong cùng vụ án hình sự (như đã trình bày tại Điều 56 dự thảo BLTTHS trong bài viết này).

8. Chương IX: Biên bản, thời hạn, chi phí tố tụng.

- Quy định về tính thời hạn

Chúng tôi đồng tình với phương án 2 của Dự thảo BLTTHS về Điều luật này. Việc quy định “Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì một tháng được tính là ba mươi ngày”, nếu tính thống nhất như quy định này thì thời hạn trong các điều luật khác của BLTTHS cũng cần phải thống nhất. Chẳng hạn như quy định tại Điều 338 dự thảo BLTTHS thì khoản 1 quy định là 02 tháng, khoản 2 và khoản 3 lại quy định là 30 ngày…

Mặt khác, cũng cần thống nhất về cách viết thời hạn vì trong Bộ luật, có Điều luật thì viết bằng số (30 ngày, 02 tháng), có Điều luật thì viết bằng chữ “ba mươi ngày”… Theo chúng tôi, các văn bản pháp luật cần phải thật chính xác, dễ đọc, dễ hiểu, tránh sự nhầm lẫn. Nếu viết bằng số có thể dễ nhầm lẫn hoặc không phù hợp với trình độ dân trí thấp. Nếu viết bằng chữ vừa đảm bảo chính xác vừa đảm bảo dễ đọc, dễ hiểu và không thể nhầm lẫn.

9. Chương X: Cấp, giao, gửi, thông báo các văn bản tố tụng

- Quy định về nghĩa vụ cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng

Cần quy định thêm nghĩa vụ của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới đầy đủ

- Quy định về các phương thức cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng

Khoản 1 quy định: 1.“Cấp, giao, gửi thông báo trực tiếp, qua bưu điện việc cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều luật này được coi là hợp lệ” (theo quy định của Điều 134 dự thảo BLTTHS). Như vậy, việc cấp, giao, gửi văn bản tố tụng qua bưu điện cũng được coi là hợp lệ. Các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ cần gửi các văn bản tố tụng của mình qua bưu điện, không cần biết người có quyền được nhận các văn bản tố tụng này có nhận được hay không là không phù hợp với thực tiễn. Ví dụ khi Tòa án gửi văn bản tố tụng (quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập bị cáo tại ngoại đến Tòa án…) qua bưu điện mà không rõ họ đã nhận được chưa thì Tòa án cũng không được xét xử vắng mặt. Nghiên cứu các quy định khác tại Chương X của Dự thảo BLTTHS cũng không thấy có quy định nào chặt chẽ về việc cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng qua bưu điện. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc quy định cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng qua bưu điện. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc quy định cấp, giao, gửi hoặc thông báo bằng văn bản tố tụng qua bưu điện là không hợp pháp vì lý do trên và còn vì bưu điện không có nghĩa vụ phải thực hiện việc  này.

Trong thực tiễn, chỉ những trường hợp gửi qua bưu điện bằng gửi đảm bảo và khi bưu điện giao lại biên lai về nhận gửi đảm bảo thì được tạm coi là hợp lệ. Sở dĩ chỉ là tạm coi là hợp lệ bởi cũng chưa chắc chắn là việc cấp, giao, gửi các văn bản tố tụng đó có đúng là đã đến tay người nhận không. Nếu coi gửi qua bưu điện bằng gửi bảo đảm là hợp lệ thì cần quy định thêm trong khoản 1 Điều 133 là “qua bưu điện bằng gửi bảo đảm” thì sẽ chặt chẽ hơn.

II. Phần thứ 2: Khởi tố, điều tra vụ án

1. Chương XI: Khởi tố vụ án hình sự

- Quy định về các thông tin về dấu hiệu tội phạm.

Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định là “Căn cứ khởi tố vụ án hình sự” là chặt chẽ hơn so với sửa đổi thành “thông tin về dấu hiệu tội phạm” vì thông tin về dấu hiệu tội phạm chưa hẳn đã là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Mặt khác khi dùng ngôn ngữ “thông tin” thì không thật pháp lý bằng dùng “căn cứ” vì các quy định trong Điều luật này là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định rất chặt chẽ, khoa học; chúng tôi cho rằng không nên sửa đổi, cần giữ nguyên tinh thần của Điều luật này. Tuy nhiên, trong thực tiễn đã xảy ra một số trường hợp nhận hối lộ của cơ quan tổ chức nước ngoài (vụ đường sắt, Bộ y tế..) mà các thông tin này do nước ngoài cung cấp. Nếu không coi đây là một căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì thông tin này không có giá trị pháp lý. Do đó, chúng tôi đề nghị cần bổ sung vào điều luật “Tin báo của cơ quan, tổ chức trong nước hoặc nước ngoài” để phù hợp với thực tiễn, đồng thời cũng phù hợp với quy định sửa đổi của BLHS về việc mở rộng đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực tư.

Nếu đề nghị trên được chấp nhận thì quy định về “Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị, khởi tố” cũng phải sửa đổi.

- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị, khởi tố.

Liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong việc bắt, giữ, giam, khám xét người, nơi ở, thư tín… Có nhiều ý kiến cho rằng mọi trường hợp này đều  nên giao thẩm quyền cho Tòa án. Tòa án phê chuẩn, không phê chuẩn thì phù hợp hơn và nhiều nước trên thế giới đều giao thẩm quyền này cho Tòa án.

Tuy nhiên, nếu giao thẩm quyền này cho Tòa án thì cũng phải tính đến việc Tòa án phê chuẩn lệnh giam thì khi xét xử sẽ xử giam hoặc ngược lại. Vì vậy, nếu giao thẩm quyền này cho Tòa án thì trách nhiệm của Tòa án nặng nề hơn khi phải bảo đảm gần như tuyệt đối về quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Ở nước ta có cơ quan Viện kiểm sát và trong tình hình hiện nay thì giao thẩm quyền này cho Viện kiểm sát là phù hợp.

- Quy định về quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Khoản 1 Điều luật này cần giữ nguyên quy định “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” để phù hợp với Luật tổ chức TAND.

- Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Nếu quy định bị hại bao gồm cả cơ quan, tổ chức thì quy định này không dành cho đối tượng này vì các tội danh quy định trong điều luật thì chỉ cá nhân mới là người bị hại.

Khoản 1 cần bổ sung thêm trường hợp người bị hại bị mất tích hoặc coi như là đã chết (như đã phân tích ở Điều 56 dự thảo BLTTHS)

Khoản 2 “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều này thì vụ án phải được đình chỉ”.

Khi luật đã quy định quyền khởi tố vụ án hình sự đối với một số tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe (BLHS sửa đổi sẽ quy định mở rộng hơn đối với các tội phạm do lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng và cả các tội phạm ít nghiêm trọng xâm hại về tài sản, nếu có sự thỏa thuận đền bù thiệt hại và người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ miễn trách nhiệm hình sự). Theo hướng  này thì quyền của người bị hại được tôn trọng hơn và cũng giảm bớt các vụ án hình sự. Khi đã đề cập đến quyền khởi tố vụ án hình sự thì cũng phải đề cập đến việc rút yêu cầu khởi tố. Viện kiểm sát khởi tố, truy tố và có quyền rút quyết định này kể cả khi Tòa án đã mở phiên tòa (Điều 290 Dự thảo BLTTHS) thì tại sao lại hạn chế quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại chỉ được thực hiện trước khi mở phiên tòa sơ thẩm? Trong thực hiện, tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi xét xử sơ thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại xin rút yêu cầu khởi tố thì Tòa án vẫn phải xét xử và các Tòa án coi việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại là tình tiết giảm nhẹ của khoản 2 Điều 46 BLHS. Theo chúng tôi, quy định này không hợp lý và cần sửa đổi theo hướng không hạn chế thời điểm rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại để vừa phù hợp với thực tiễn, vừa phù hợp với định hướng sửa đổi BLHS là hướng thiện.

Nếu đề xuất này được chấp nhận thì quy định tại khoản 8 Điều 164 dự thảo BLTTHS cũng phải sửa là: “Đối với những tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 162 Bộ luật này mà bị hại không yêu cầu khởi tố hoặc có yêu cầu khởi tố nhưng đã rút yêu cầu khởi tố trong quá trình tố tụng”.

- Quy định về quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Điều luật này chỉ có thể áp dụng đối với các trường hợp khởi tố của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Riêng trường hợp khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử lại không phù hợp vì:

Một là: Hội đồng xét xử có quyền khởi tố vụ án chứ không có quyền điều tra vụ án nên không thể biết có căn cứ hay không có căn cứ quy định tại Điều 164 (căn cứ không được khởi tố vụ án và nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ).

Hai là: Sau khi kết thúc phiên tòa thì Hội đồng xét xử vụ án đó không còn quyền hạn để giải quyết bất cứ vấn đề nào khác của vụ án và vì vậy, mặc dù có quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng Hội đồng xét xử không có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án.

Để giải quyết vướng mắc này, chúng tôi đề nghị Điều luật này cần sửa đổi theo hướng “trừ trường hợp khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử” hoặc nếu giữ nguyên điều này thì phải sửa Điều 161 dự thảo BLTTHS theo hướng việc giải quyết quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử do Viện kiểm sát quyết định.

- Quy định về thời hạn điều tra.

Trong thực tiễn có nhiều vụ án rất phức tạp, không chỉ liên quan đến trong nước mà còn liên quan đến nước ngoài (tội phạm xuyên quốc gia). Chẳng hạn như các vụ án về tội rửa tiền, ma túy, mua bán người… ở một số nước, các vụ án phức tạp này nhiều khi không có thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Nếu Luật quy định cứng nhắc các thời hạn này thì không thể thực hiện được và luôn luôn trong tình trạng phải “chạy đua” với thời gian hoặc thu hẹp diện điều tra để đảm bảo về thời hạn. Vì vậy chúng tôi đề nghị BLTTHS cần có quy định mở rộng thời hạn đối với các vụ án đặc biệt. Thẩm quyền phê chuẩn thời hạn kéo dài điều tra do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định; thời hạn kéo dài thời hạn xét xử do Chánh án TAND tối cao quyết định.

Tuy nhiên, do kéo dài thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sẽ liên quan đến thời hạn tạm giam và những trường hợp tạm giam kéo dài đặc biệt này cũng phải do Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao quyết định.

2. Chương XIV: Hỏi cung bị can

- Quy định về Biên bản hỏi cung bị can

Dự thảo khoản 1 của Điều luật này bỏ đoạn “ Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại để bị can và Điều tra viên cùng nghe. Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và Điều tra viên cũng ký xác nhận” của khoản 2 Điều 132 BLTTHS năm 2003.

Theo chúng tôi, không nên bỏ toàn bộ quy định này mà chỉ sửa, bỏ đi quy định trùng với quy định tại khoản 2 của Điều luật. Khi khoản 1 của Điều luật này quy định “Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản, xem lại việc ghi âm, ghi hình” thì cần có quy định bị can có quyền được nghe lại, xem lại việc ghi âm, ghi hình như họ được quyền nghe hoặc tự đọc lại biên bản hỏi cung. Tuy  nhiên, trong điều kiện hiện nay, nếu luật quy định mỗi lần hỏi cung bị can đều phải ghi âm hoặc ghi hình thì hết sức tốn kém trong việc trang bị phương tiện ghi hình, không phải cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát khi “ Kiểm sát việc hỏi cung bị can” đều có thể thực hiện được. Do đó, nên quy định mềm mỏng hơn bằng từ “có thể”.  “ Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản và có thể ghi âm, ghi hình”. Quy định như vậy sẽ không bắt buộc vừa lập biên bản hỏi cung vừa “đều phải” ghi âm hoặc ghi hình. Vì việc ghi âm hoặc ghi hình có thể được thực hiện nên cần quy định “Nếu việc hỏi cung được ghi âm hoặc ghi hình thì sau khi hỏi cung phải phát lại để bị can và Điều tra viên cùng nghe hoặc xem. Điều tra viên phải lập biên bản về việc nghe hoặc xem này, bị can và Điều tra viên cùng ký xác nhận”.

3. Chương XV: Lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đối chất và nhận dạng.

- Quy định về đối chất

Đối chất là một quy định nhằm làm rõ những mâu thuẫn trong lời khai của hai hay nhiều người về một vấn đề nào đó của vụ án. Biên bản đối chất là một chứng cứ quan trong đề xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy hoạt động đối chất phải được tiến hành trong mọi trường hợp khi có mâu thuẫn trong lời khai của hai hay nhiều người tham gia tố tụng. Nếu khoản 1 Điều luật này sửa từ trong mọi trường hợp sang cụm từ “nếu xét thấy cần thiết” tức là không phải mọi trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa các bên tham gia tố tụng đều phải đối chất. Quy định được sửa này cũng có nghĩa là Điều tra viên, Kiểm sát viên chỉ thực hiện khi “xét thấy cần thiết” mà không bắt buộc, cũng có nghĩa là quy định tùy nghi. Tùy nghi thường hay đi cùng với tùy tiện vì thực hiện cũng được, không thực hiện cũng được, nhất là đối với một hoạt động tố tụng rất quan trọng là “Đối chất để làm rõ mâu thuẫn, xác định rõ chứng cứ của vụ án” là điều không nên quy định trong tố tụng. Giả sử khi xét xử do không có biên bản đối chất mà mâu thuẫn giữa các lời khai của những người  tại phiên tòa không thể làm rõ được thì Tòa án vẫn phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Do đó, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định của khoản 1 Điều 138 BLTTS năm 2003.

4. Chương XIX a: Những biện pháp điều tra đặc biệt

Những biện pháp điều tra đặc biệt thực chất là các nghiệp vụ điều tra của cơ quan điều tra, được sử dụng trong các vụ án hình sự. Các biện pháp này ở một góc độ nào đó, theo quy định của Hiến pháp là không được thực hiện bởi xâm phạm đến quyền con người. Cho dù đó là “đặc biệt” thì cũng không nên quy định trong BLTTHS bởi khi đã quy định thì dễ bị lạm dụng và người dân luôn ở trong trạng thái có thể bị xâm phạm quyền tự do, dân chủ từ phía Cơ quan điều tra. Chúng tôi đề nghị bỏ chương này trong dự thảo BLTTHS.

III. Phần thứ ba: Truy tố

1. Chương XX: Những quy định chung

- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố.

Khoản 7 của Điều luật này quy định “Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng hoặc bằng quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; quyết định không truy tố bị can”. Trong quy định tại điểm b khoản 1 Điều 235 dự thảo BLTTHS quy định “ b. Miễn truy tố bị can” và trong quy định tại Điều 243 dự thảo BLTTHS về “Miễn truy tố bị can” đều không đề cập đến “không truy tố bị can” và “miễn truy tố bị can” là hai hoạt động tố tụng hay chỉ là một. Theo chúng tôi bản chất của việc “miễn truy tố bị can” cũng là “không truy tố bị can”. Vì vậy, sử dụng thuật ngữ trong các điều luật nên thống nhất và để tránh việc hiểu khác đi của người dân.

IV. Phần thứ tư: xét xử vụ án hình sự

1. Chương XXIII: Những quy định chung về xét xử

- Quy định về Quyết định đưa vụ án ra xét xử

+ Theo quy định tại Điều 291 dự thảo BLTTHS thì Tòa án có thể xét xử bị cáo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố nhưng  phải đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo. Như vậy, Tòa án có thể xử bị cáo ở khung hình phạt nặng hơn so với khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố. Để đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, cần quy định bổ sung vào điểm d khoản 1 của Điều luật này như sau:

“ d, Tội danh và điểm, khoản, điều của BLHS mà Viện kiểm sát truy tố đối với hành vi của bị cáo. Trường hợp bị cáo có thể bị xét xử về khoản nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố thì phải ghi rõ điểm, khoản, điều luật của BLHS”

Sở dĩ chúng tôi bổ sung thêm “điểm” trong quy định này vì “ điểm” của khung hình phạt thường là những tình tiết định khung tăng nặng. Bị cáo có quyền được biết trước họ có phạm vào tình tiết định khung tăng nặng hay không để có thể chuẩn bị bào chữa và có hay không có tình tiết tăng nặng (“ điểm”) là vấn đề liên quan trực tiếp đến hình phạt.

Giả sử BLTTHS không quy định giới hạn của việc xét xử thì trong quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng rất cần và buộc phải cho bị cáo biết họ có thể xét xử về khoản nặng hơn hoặc tội danh nặng hơn để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.

+ Điểm e quy định :

“ e, Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, Kiểm sát xét xử tại phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có)”

Như đã trình bày ở phần trên, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thì không có quyền kiểm sát tại phiên tòa. Công tố là quyền buộc tội, nếu vừa buộc tội lại vừa kiểm sát hoạt động của Hội đồng xét xử, tức là cùng một lúc thực hiện hai chức năng của hai chủ thể khác nhau về quyền là không đúng. Do đó, chúng tôi đề nghị phải bỏ quyền “kiểm sát xét xử” trong quy định này.

+ Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử cần có quy định về việc ghi họ tên người giám định vì theo quy định tại Điều 64 dự thảo BLTTHS họ là người tham gia tố tụng và theo quy định tại Điều luật này thì họ phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 64 dự thảo BLTTHS. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 55 thì bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người giám định. Để đảm bảo cho bị cáo được thực hiện quyền này thì họ phải được biết trước người giám định là ai.

- Quy định về nội quy phiên tòa

Nội quy phiên tòa cần bổ sung thêm quy định cấm mang vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc vào phòng xét xử; Cũng cần có quy định về hoạt động của phóng viên, nhà báo tại phiên tòa để tránh tình trạng lộn xộn hoặc hạn chế quyền tác nghiệp của nhà báo.

- Quy định về vị trí ngồi tại phòng xử án

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”. Tòa án phải bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, có nghĩa là không chỉ đảm bảo về các nội dung tranh tụng của vụ án mà còn phải đảm bảo cả về hình thức tranh tụng. Tranh tụng tại Tòa án được bảo đảm công khai, dân chủ, bình đẳng giữa các bên tham gia, giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội. Sự bình đẳng này trước Tòa án phải được thể hiện ngay ở vị trí ngồi tại phòng xét xử. Ở rất nhiều nước trên thế giới, vị trí ngồi của công tố và luật sư phải ngang hàng với nhau và chỉ nhìn vào đó người ta cảm nhận được tranh tụng dân chủ, bình đẳng.

Khoản 1 Điều luật này quy định:

“1. Phía trên của phòng xử án gồm vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án. Hội đồng xét xử ngồi chính giữa; Kiểm sát viên ngồi bên phải, Thư ký ngồi bên trái Hội đồng xét xử”

Khoản 2 quy định:

“2. Phía dưới của phòng xử án gồm vị trí ngồi của những người tham gia tố tụng và những người tham  dự phiên tòa.

Người bào chữa ngồi bên trái, người giám định và người phiên dịch ngồi bên phải Hội đồng xét xử…”

Vị trí ngồi theo quy định này không thể hiện và không bảo đảm quyền bình đẳng trong tranh tụng tại phiên tòa khi Kiểm sát viên, người thực hành quyền công tố ngồi trên người bào chữa; điều này không thể hiện tính tranh tụng và bình đẳng theo nguyên tắc của tố tụng hình sự. Mặc dù đây là hình thức phiên tòa nhưng nó chứa đựng và ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử mà Hiến pháp đã quy định. Quy định của khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này đã không thể hiện đúng quy định của Hiến pháp. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cần phải sửa điều này theo hướng: phía trên của phòng xử án là vị trí ngồi của Hội đồng xét xử; phía dưới của phòng xét xử án là vị trí ngồi như sau: Kiểm sát viên ngồi phía bên phải Hội đồng xét xử; người bào chữa ngồi phía bên trái Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa ngồi bên trái Hội đồng xét xử; người giám định, người phiên dịch ngồi phía bên phải Hội đồng xét xử; bị cáo ngồi trước vành móng ngựa đối diện với Hội đồng xét xử; người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác ngồi ở những hàng ghế đầu tiên trong phòng xử án, những người tham gia phiên tòa ngồi ở những hàng ghế tiếp theo phía sau những người tham gia tố tụng; trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo an ninh, trật tự hoặc đảm bảo việc cách ly người tham gia tố tụng, chủ tọa phiên tòa có thể bố trí vị trí ngồi của bị cáo, người bị hại, người làm chứng.

Chúng tôi xin minh họa về vị trí ngồi tại phòng xử án như sau:

 

Hội đồng xét xử

 

Người bào chữa

 

Kiểm sát viên

 

Bị cáo

 

Thư ký Tòa án

 

Người phiên dịch

 

 

Người giám định

Người làm chứng, bị đơn dân sự

 

 

Người bị hại, nguyên đơn dân sự

Người tham dự phiên tòa

 

 

Người tham dự phiên tòa

           

                                                                                                            

- Quy định về Biên bản phiên tòa

+ Khoản 1 của điều luật quy định “… Cùng với việc ghi bên bản, phải ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa”. Theo quy định này thì mọi phiên tòa đều phải ghi âm, ghi hình. Đây là một quy định bắt buộc phải thực hiện. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các Tòa án không thể thực hiện được vì các lý do sau:

Một là: Kinh phí để trang bị các phương tiện này, nhất là ghi hình cho khoảng 2000 phòng xử án là rất lớn. Trong điều kiện kinh tế nước nhà như hiện nay thì đây cũng là một khoản chi khá lớn, không dễ gì đáp ứng.

Hai là: Giả sử nhà nước quan tâm cấp đủ kinh phí để trang bị phương tiện, kỹ thuật này thì cũng phải có người sử dụng, tức là có kỹ thuật viên để ghi hình, trong khi mà biên chế cán bộ của Tòa án lại rất hạn chế. Tính sơ bộ, nếu bố trí người thực hiện việc ghi âm, ghi hình của toàn hệ thống Tòa án cũng phải khoảng 1000 người (các Tòa án lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày có hàng chục phiên tòa, một người không thể cùng một lúc thực hiện việc ghi hình ở nhiều phiên tòa, nên biên chế phải gấp nhiều lần các Tòa án khác).

Ba là: Thực tiễn cho thấy, ngay ở TAND tối cao, được tổ chức quốc tế hỗ trợ kinh phí xây dựng, trang bị một phòng xét xử với đầy đủ trang thiết bị ghi âm, ghi hình, nhưng rất nhiều năm qua hệ thống này không hoạt động được vì không có cán bộ kỹ thuật. Không sử dụng, để không hàng chục năm hầu như đã hư hỏng, rất lãng phí.

Với những lý do nêu trên, chúng tôi cho rằng không nên quy định có tính bắt buộc mà nên giữ lại quy định trước đây của điều 200 BLTTHS năm 2003. Tức là chỉ quy định “có thểghi âm, ghi hình ”chứ không nên quy định “ phải ghi âm, ghi hình”

+ Khoản 4: Cần quy định thêm trường hợp người không biết chữ, người có nhược điểm về thể chất (người khiếm thị), người không biết tiếng Việt có quyền được nghe đọc, nghe dịch và có yêu cầu sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa.

- Quy định về Bản án

+ Điểm d khoản 2 quy định về bản án sơ thẩm

“ d, Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Điểm b khoản 3 quy định về bản án phúc thẩm

“ b, Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, điểm, khoản, điều của Văn bản quy phạm pháo luật mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án”.

Như vậy, trong cùng một điều luật thì Bản án sơ thẩm phải nhận định và xác định bị cáo phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS còn Bản án phúc thẩm thì lại nhận định, xác định điểm, khoản, điều của Văn bản quy phạm pháp luật mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án. Quy định đối với việc xét xử, giải quyết vụ án, bản án của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng. Tòa án sơ thẩm hay Tòa án phúc thẩm khi giải quyết, xét xử vụ án hình sự đều phải căn cứ vào BLHS và BLTTHS. Hiện nay BLHS đang được soạn thảo sửa đổi, bổ sung và có những ý kiến nên mở rộng nguồn xử lý vụ án hình sự ở các Luật chuyên ngành khác. Tức là tội phạm và hình phạt không chỉ quy định trong BLHS mà còn có thể được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác. Chúng tôi không đồng tình với ý kiến mở rộng nguồn của Luật hình sự. Tội phạm, hình phạt chỉ nên được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật duy nhất, đó là BLHS.

 Giả sử có việc mở rộng nguồn của Luật hình sự thì giữa những quy định về nhận định của Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm cũng phải thống nhất về căn cứ áp dụng chứ không được mâu thuẫn như đã nêu ở phần trên.

+ Bản án gốc là bản án mà Hội đồng xét xử đã tuyên án (công bố công khai) và đã có chữ ký của tất cả các thành viên Hội đồng xét xử. Bản án chính là bản án do chủ tọa phiên tòa ký thay mặt Hội đồng xét xử. Bản án sao là bản án được sao từ bản chính. Do vậy, cần có quy định về bản án gốc, bản án chính, bản án sao. Có thể bản án chính và bản án sao không hoàn toàn giống hệt nhau vì bản án chính đã được sửa chữa các lỗi chính tả, nhầm lẫn về số liệu… Theo chúng tôi, Luật nên quy định cho phép Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa được sửa những lỗi này trong bản án và có văn bản đính chính kèm theo; điều này sẽ tạo sự nghiêm túc hơn việc chỉ được sửa, bổ sung bằng văn bản.

- Chúng tôi đề nghị cần bổ sung quy định mang tính nguyên tắc đối với bản án sơ thẩm và phúc thẩm như sau:“ …Các quyết dịnh của bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm không được trái với các kết quả biểu quyết của biên bản nghị án”.

- Quy định về phiên dịch tại phiên tòa

Cần quy định thêm trường hợp bị cáo có yêu cầu được nghe dịch về biên bản phiên tòa để họ có thể yêu cầu sửa chữa, bổ sung (như đã nêu ở phần Biên bản phiên tòa). Nếu quy định trong điều luật này thì không cần quy định ở Điều 254 dự thảo BLTTHS hoặc ngược lại. Theo chúng tôi, quy định ở Điều 254 thì hợp lý hơn.

- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử

Chúng tôi không đồng tình với quy định này như đã phân tích ở phần Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Một số quy định trong điều này như kháng nghị bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng của Tòa án nên đưa về điểm e khoản 1 Điều 260 dự thảo BLTTHS “Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hiện quyền công tố”

-Quy định về Kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án là quy định vi phạm, nghiêm trọng nguyên tắc “ độc lập và chỉ tuân thủ theo pháp luật” của Hội đồng xét xử.

Quy định về Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng, trong đó có người bào chữa là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử mà Hiến pháp 2013 đã quy định. Bên buộc tội không thể, không được áp đặt bất cứ điều gì với bên gỡ tội, đó là bản chất, là cốt lõi của tranh tụng.

-Vì những lí do trên, chúng tôi đề nghị bỏ quy định về Điều 261 dự thảo BLTTHS.

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi