Một số ý kiến góp ý về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự - Kỳ 2

Ths. Nguyễn Quang Lộc, Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

3. Chương III. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

- Điều 41: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án

Chúng tôi đồng tình với việc bỏ một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó Chánh án trong hoạt động tố tụng của Tòa án và giao những quyền hạn, nhiệm vụ đó cho Thẩm phán. Tuy nhiên, điều luật vẫn còn giữ lại quyền quyết định chuyển vụ án, quyết định xử lý vật chứng của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự, Tòa án phải ra nhiều quyết định khác nhau, tùy từng vụ án. Những quyết định tố tụng có thể phải ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là do Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ và xem xét có cần thiết phải ra quyết định này hoặc quyết định khác hay không. Nếu Luật quy định một số quyết định phải do Chánh án hoặc Phó Chánh án ký trên cơ sở đề xuất của Thẩm phán thì vừa không đảm bảo thời hạn xét xử, vừa hạn chế quyền của Thẩm phán. Ở góc độ nào đó còn được hiểu là quản lý hành chính đã lấn sân của tố tụng hình sự và đó là một quy định mang tính rất hình thức, không rõ ràng về trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Tòa án. Thẩm phán là người được Chánh án phân công xét xử vụ án, được giao giải quyết vụ án, chịu trách nhiệm chính trong giải quyết xét xử vụ án. Thẩm phán cùng các thành viên Hội đồng xét xử được quyền phán quyết mà các phán quyết này liên quan đến tài sản, danh dự, nhân phẩm…, thậm chí là quyền được sống của con người. Theo chúng tôi, tất cả các quyết định về giải quyết vụ án như: thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (kể cả biện pháp bắt giam), quyết định trưng cầu giám định, quyết định kê biên tài sản, quyết định bắt buộc chữa bệnh, xử lý vật chứng, quyết định chuyển vụ án v.v… nên giao quyền cho Thẩm phán quyết định.

- Điều 42: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

Ngoài việc nên giao cho Thẩm phán có toàn quyền ban hành các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như đã nêu ở Điều 41, chúng tôi cho rằng:

Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì "c.Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự".

Theo quy định này thì Tòa án có quyền điều tra khi đã thụ lý vụ án. Vấn đề là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền điều tra không? Theo chúng tôi, quy định này mặc dù đã được Quốc hội thông qua, nhưng rõ ràng đã lấn sân của điều tra và không khả thi nhiều. Thẩm phán không được đào tạo nghiệp vụ điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ. Sự chồng lấn này vô hình chung đã không tách bạch các chức năng điều tra, truy tố, xét xử. Mặt khác về nguyên tắc, Thẩm phán đã điều tra thì không được xét xử. Như vậy, trong tổ chức của Tòa án sẽ phải có một bộ phận, một đơn vị hay một tổ chức nào đó có biên chế các Thẩm phán chuyên điều tra. Đó là các Thẩm phán "đứng" chứ không phải Thẩm phán "ngồi". Mặc dù BLTTHS cũng đã có quy định về việc Thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, nhưng quy định mới này của Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng đặt ra vấn đề phải quy định thêm quyền điều tra của Thẩm phán tại Điều 42 dự thảo BLTTHS, đồng thời cũng đặt ra các thủ tục để Thẩm phán tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ. Trong trường hợp kết quả điều tra của Thẩm phán vẫn không làm sáng tỏ được vụ án thì giải quyết thế nào? Có thể có hai trường hợp xảy ra, đó là:

- Một là: Tòa án đưa vụ án ra xét xử nếu không còn quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Tòa án chỉ trả được hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần).

- Hai là: Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu còn quyền điều tra. Như đã nêu ở trên, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án không có quyền điều tra, nếu qua nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc tại phiên tòa mà thấy cần điều tra bổ sung (xác minh, thu thập chứng cứ) thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa sẽ yêu cầu Thẩm phán "đứng" điều tra. Đây là một quy định mới nhưng theo chúng tôi sẽ tạo ra sự cồng kềnh, kéo dài vụ án và kém hiệu quả và trách nhiệm của Tòa án là hết sức nặng nề, đặc biệt là trong trường hợp xét xử có oan sai.

- Điều 45: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra viên

Trong thực tiễn, nhiều trường hợp các Tòa án sử dụng Thẩm tra viên làm thư ký tại các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm điểm c khoản 1 điều này: "Có thể làm thư ký phiên tòa".

- Điều 46: Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng

Từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, những người thân thích với nhau không nên cùng giải quyết một vụ án. Ví dụ như em ruột là Điều tra vụ án, anh ruột là Thẩm phán xét xử vụ án đó hoặc làm Kiểm sát viên trong vụ án đó. Tức là những người thân thích với nhau không được là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án. Do đó, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm quy định này trong Điều 46.

- Điều 48 và Điều 49: Thay đổi điều tra viên và Thay đổi kiểm sát viên

Theo quy định tại Điều 50 "Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm" thì Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu trước đó đã là người tiến hành tố tụng (tham gia xét xử) tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Đó là những trường hợp mà vụ án bị hủy để điều tra hoặc xét xử lại "với thành phần Hội đồng xét xử khác" nhằm đảm bảo việc xét xử được vô tư, khách quan. Thế nhưng, Điều 48 và Điều 49 lại không có quy định tương tự đối với Điều tra viên và Kiểm sát viên. Trường hợp vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại nếu Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên vẫn tiếp tục được điều tra hoặc kiểm sát điều tra, thực hành quyền công tố thì có đảm bảo vô tư, khách quan trong giải quyết vụ án không? Trong thực tiễn đã xảy ra những trường hợp vì bảo vệ quan điểm của cá nhân hoặc vì một lý do không trong sáng nào đó mà Điều tra viên, Kiểm sát viên không vô tư, khách quan, dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng trong truy tố và trong xét xử. Ví dụ như vụ án ông Nguyễn Văn Chấn hay vụ án "Vườn điều". Do vậy, khi vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại thì Điều tra viên, Kiểm sát viên của vụ án đó cũng phải bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng. Mặt khác, đối với những trường hợp mà Tòa án trả hồ sơ vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; ví dụ như vi phạm nghiêm trọng được hướng dẫn tại điểm n khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của VKSNDTC-BCA-TANDTC hướng dẫn về thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung có nội dung "Có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật”, nếu không quy định thay đổi Điều tra viên thì việc xét xử sai cũng là chuyện khó tránh khỏi. Mặt khác, không chỉ trường hợp lời khai của bị can mà có thể cả lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ hoặc người tham gia tố tụng khác như người làm chứng cũng có thể bị mớm cung, bị đe dọa hoặc cưỡng bức phải khai không đúng sự thật; do đó, phải quy định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong cả những trường hợp này. Ngoài ra, không có trường hợp nào vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà lại không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Nếu theo khoản 2 của Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2010 "những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự" thì từ điểm a đến điểm p là những vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự và đều trực tiếp xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Khoản 3 Điều 4 của Thông tư liên tịch 01/2010 hướng dẫn "Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung" mặc dù có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng "theo hướng dẫn tại khoản 1 và được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều này" là không thỏa đáng. Tòa án không thể sử dụng những tài liệu, chứng cứ được thu thập do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trái quy định về pháp luật tố tụng hình sự làm căn cứ, chứng cứ để xét xử vụ án. Nếu không được trả hồ sơ thì chỉ có thể hoặc là xét xử sai hoặc là bỏ lọt tội phạm.

4. Chương IV: Người tham gia tố tụng

- Điều 52 và Điều 53: Người bị bắt và người bị tạm giữ

Cần có quy định về "quyền im lặng" tại cả hai điều luật này để phù hợp và cụ thể hơn quy định tại khoản 2 Điều 9 Dự thảo BLTTHS. Lập luận về vấn đề này, chúng tôi đã nêu tại nội dung " Điều 9" của bài viết.

- Điều 54: Bị can

Để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nhất là đối với những trường hợp mà họ không nhờ người bào chữa, tự bào chữa thì việc quy định quyền được đọc, ghi chép, sao chụp các tài liệu trong hồ sơ của vụ án sau khi đã kết thúc điều tra là cần thiết. Quy định này không chỉ đảm bảo quyền bào chữa mà còn đảm bảo quyền được khiếu nại về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng.

- Điều 55: Bị cáo

Điểm b khoản 2 của điều luật được sửa từ "tham gia phiên tòa" sang "có mặt tại phiên tòa". Chúng tôi không đồng tình với việc sửa đổi này vì có mặt tại phiên tòa là nghĩa vụ quy định tại khoản 3 của điều này. Khoản 2 của điều này quy định về quyền chứ không phải là nghĩa vụ. Bị cáo có quyền tham gia phiên tòa, Tòa án phải triệu tập họ đến phiên tòa, nếu Tòa án không thực hiện đúng việc triệu tập bị cáo đến phiên tòa thì Tòa án không được xét xử vắng mặt họ. Tức là phiên tòa phải hoãn xử vì chưa triệu tập hợp lệ đối với bị cáo. Do đó, chúng tôi đề nghị giữ nguyên Điều này của BLTTHS năm 2003.

- Điều 56: Bị hại

Khoản 1 quy định: "Bị hại gồm cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra”.

Sửa đổi lớn của điều luật này là khái niệm về người bị hại. Nếu theo khái niệm tại Điều 51 BLTTHS năm 2003 thì người bị hại là cá nhân, còn theo Điều 56 của Dự thảo BLTTHS thì người bị hại sẽ còn bao gồm cả cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra. Suy cho cùng thì uy tín cũng là tinh thần, thiệt hại về tinh thần của cá nhân cũng có thể là thiệt hại về uy tín (chẳng hạn việc bị vu khống, tố cáo sai sự thật để triệt hạ uy tín, người bị hại vừa bị thiệt hại về uy tín, vừa bị thiệt hại về tinh thần). Như vậy, việc quy định trong điều luật có sự trùng lặp.

Theo quy định tại khoản 5 của điều này thì: "Bị hại nếu từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo, giám định, cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của BLHS". Cơ quan, tổ chức là pháp nhân, pháp nhân thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp đó là pháp nhân kinh tế, thương mại vi phạm pháp luật trong một số tội phạm cụ thể quy định trong Bộ luật hình sự (sửa đổi). Cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng với tư cách là bị hại thì không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 5 điều luật này và cũng không thể bị dẫn giải theo quy định tại khoản 4 của điều luật này.

Điều 57 Dự thảo BLTTHS quy định "Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại". Vậy khi cơ quan, tổ chức là nguyên đơn dân sự có thiệt hại thì thiệt hại này có khác gì với thiệt hại nếu cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại trong vụ án không? Thiệt hại của cơ quan, tổ chức do tội phạm gây ra trong vụ án là một, như vậy trường hợp nào thì cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại và trường hợp nào được xác định là nguyên đơn dân sự? Chắc chắn là trong một vụ án, cơ quan, tổ chức không thể được xác định cả hai tư cách tham gia tố tụng, vừa là bị hại, vừa là nguyên đơn dân sự khi mà có cùng một thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần.

Ngoài ra, trong dự thảo BLTTHS có rất nhiều điều luật vẫn giữ nguyên thuật ngữ "người bị hại" và cũng rất nhiều điều luật sửa thành “bị hại” (ví dụ vẫn giữ "người bị hại" tại các Điều 7, Điều 5a, Điều 36, Điều 46, Điều 67a, Điều 188, Điều 204, Điều 401, Điều 402…)

Trong thực tiễn xét xử có rất nhiều trường hợp người bị hại bị mất tích hoặc được coi như đã chết, chẳng hạn trong các vụ án mua bán người; mua bán, chiếm đoạt, đánh tráo trẻ em. Khoản 6 của Điều luật này chỉ quy định "trường hợp bị hại là cá nhân bị chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền quy định tại Điều này" là chưa phù hợp thực tiễn. Chúng tôi đề nghị cần sửa khoản 6 Điều này theo hướng: "Trường hợp người bị hại là cá nhân bị chết, bị mất tích hoặc là trẻ em thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền quy định tại Điều này".

Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng cần giữ nguyên khái niệm về người bị hại, không nên quy định người bị hại bao gồm cả cơ quan, tổ chức. Khoản 4 của Điều luật này còn bổ sung quy định "trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải". Quy định này vừa có phần "khắt khe" với người bị hại là cá nhân, vừa không khả thi đối với trường hợp là cơ quan, tổ chức.

Thực tiễn trong rất nhiều năm qua, mặc dù BLTTHS quy định người bị hại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của BLHS nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng, nhưng chưa có trường hợp nào bị xử lý theo quy định này. Chúng tôi cho rằng đây là một quy định không hợp lý đối với người bị hại vì họ là người bị hại. Bị can, bị cáo có quyền im lặng, có quyền không khai báo, không cung cấp tài liệu… và không bị xử lý trách nhiệm hình sự; ngược lại, người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo gây ra thì lại bị xử lý trách nhiệm hình sự. Điều luật này không có tính khả thi, do đó, chúng tôi đề nghị bỏ quy định này.

5. Chương V: Chứng cứ và chứng minh

- Quy định về nguồn chứng cứ

Chúng tôi đề nghị bổ sung nguồn chứng cứ bao gồm "người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người đã chết hoặc mất tích" bởi họ cũng là người tham gia tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo cho họ thực hiện các quyền của mình như đối với quyền của người bị hại. Đối với nguồn chứng cứ, đề nghị bổ sung thêm nguồn chứng cứ là các dữ liệu của máy tính.

- Quy định về cung cấp chứng cứ

Việc bổ sung về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa là hoàn toàn cần thiết. Đây là một quy định mới, rất tiến bộ nhằm đảm bảo việc tranh tụng trong quá trình tố tụng hình sự. Tuy nhiên, người bào chữa lại không có quyền gặp bị can, bị cáo là không phù hợp. Thực tiễn thì người bào chữa vẫn gặp, được gặp, có quyền được gặp thân chủ của mình để thu thập chứng cứ từ thân chủ nhằm bào chữa cho họ. Do đó, chúng tôi đề nghị bổ sung vào điều này như sau:

"b. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng và những người biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật và các tình tiết liên quan đến vụ án".

(Liên quan đến vụ án chứ không phải là liên quan đến việc bào chữa vì người bào chữa thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án và sử dụng những gì thu thập được để bào chữa. Không thể đưa ra Tòa án những chứng cứ, tài liệu, đồ vật không liên quan đến vụ án).

- Quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ

Khi xác định một chứng cứ nào đó có hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án hay không, các chứng cứ đã đầy đủ chưa thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đều phải kiểm tra chứng cứ đó. Tác nghiệp “kiểm tra” đã nằm trong “đánh giá” và đó là một tác nghiệp đương nhiên. Do đó, Điều luật này không cần phải bổ sung tác nghiệp "Kiểm tra" và nên giữ nguyên tên của Điều luật này là "Đánh giá chứng cứ"

Điều luật này đã bổ sung khoản 3 về quyền đánh giá chứng cứ của người bào chữa đối với các chứng cứ do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã thu thập. Đây là một quy định mới, tiến bộ. Tuy nhiên, người bào chữa còn có thể có quyền đánh giá chứng cứ của người bào chữa là "đối phương" hoặc của những người tham gia tố tụng khác chứ không chỉ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bào chữa có quyền đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, của người bào chữa là "đối phương" của những người tham gia tố tụng thì ngược lại các chứng cứ mà người bào chữa thu thập cũng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng, người bào chữa "đối phương" và những người tham gia tố tụng đánh giá. Nếu quy định rõ điều này trong tố tụng thì sẽ thể hiện rõ nét hơn quyền tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam.

- Quy định về tạm giam

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án sửa đổi, bổ sung Điều 88 của BLTTHS năm 2003 về tạm giam. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên việc áp dụng biện pháp này cần hết sức thận trọng và chỉ áp dụng trong những trường hợp thật sự cần thiết nhằm tránh việc bắt, tạm giam để thuận tiện cho điều tra. BLHS đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt các quy định và hạn chế áp dụng hình phạt tù. BLTTHS là luật hình thức cũng cần phải thể hiện để phù hợp với Luật nội dung. Do vậy, chúng tôi cho rằng không nên bỏ quy định chỉ có thể áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm như dự thảo về điều luật này của phương án 1. Vì thế, chúng tôi đồng tình với phương án 2 của Dự thảo.

- Quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú

Khoản 2 quy định "Những người quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này, Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú".

Quy định này không rõ ràng vì sẽ được hiểu là tất cả Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp đều có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho dù họ có được phân công hay không được phân công giải quyết vụ án. Theo chúng tôi nếu hiểu theo nghĩa này và quy định đúng theo cách hiểu này thì quá rộng và dễ dẫn tới tùy tiện khi áp dụng. Vì vậy, cần phải quy định những người này chỉ có quyền khi được phân công giải quyết vụ án.

Mặt khác, quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa được chuyển về điểm c khoản 2 Điều 89 (Dự thảo) là điều quy định về "Bắt bị can, bị cáo để tạm giam" chứ không phải là quyết định về “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Dự thảo BLTTHS không có điều luật nào quy định về   quyền ra lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú” của Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa. Kiểm tra toàn bộ dự thảo BLTTHS đều không có? Chắc chắn đây là quyền không thể bỏ đi của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và phải được quy định tại BLTTHS.

Mặt khác, khi điều luật quy định quyền ra lệnh "Cấm đi khỏi nơi cư trú" của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp thì vì lý do gì không quy định những quyền này cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án cấp cao? Rõ ràng đây là một thiếu sót của điều luật và cần được sửa đổi. Với những lập luận trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi về quy định này như sau:

"Những người quy định tại khoản 2 Điều 89 của Bộ luật này, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú".

- Quy định về bảo lĩnh

Việc bỏ quyền ra quyết định bảo lĩnh của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và không quy định quyền này của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao là không hợp lý. Các lý do không hợp lý và đề nghị sửa đổi tương tự như đã phân tích ở quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Quy định về đặt tiền để bảo đảm

Dự thảo BLTTHS đề ra hai phương án. Sự khác nhau của hai phương án này chỉ ở chỗ có quy định được đặt tài sản không. Phương án 1 là không cho đặt tài sản, phương án 2 là có cho đặt tài sản. Chúng tôi xin có một số ý kiến về các nội dung sửa đổi về Điều 93 BLTTHS năm 2003 như sau:

Một là: Nếu luật chỉ quy định được đặt tiền mà không được đặt tài sản sẽ dẫn tới nhiều trường hợp người dân (cha mẹ, người thân thích của bị can, bị cáo) hoặc bị can, bị cáo phải bằng mọi cách bán tài sản để có tiền đặt. Việc phải “ bán chạy” tài sản gây thêm thiệt hại cho họ nhất là đó lại là tài sản có giá trị. Do đó cần quy định được đặt tài sản có giá trị để bảo đảm. Việc giải quyết tài sản có giá trị đem đặt như thế nào thì trong Điều luật này (khoản 7) đã quy định do “Chính phủ chủ trì, phối hợp với TAND tối cao, VKSND tối cao quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc tài sản phải đặt để bảo đảm…”

Hai là: Khoản 2 Điều này bỏ thẩm quyền của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa vì lý do đã bổ sung vào khoản 1 Điều 89 là không đúng vì trong khoản 1 Điều 89 không có quy định này và đó là điều luật quy định về “ Bắt bị can, bị cáo”. Kiểm tra lại quy định tại Điều 42 “nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán” cũng không thấy có quy định quyền ra quyết định này cũng như quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú và bảo lĩnh. Do đó, cũng giống như phân tích ở quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú, chúng tôi đề  nghị giữ nguyên quy định này của Điều 93 BLTTHS năm 2003 hoặc đưa các quyền của Thẩm phán tương ứng với các quy định về vấn đề này tại BLTTHS thì phù hợp hơn.

Ba là: Nếu bổ sung thẩm quyền ra quyết định của Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cấp cao, Điều tra viên cao cấp thì cũng cần bổ sung thẩm quyền của Thẩm phán TAND tối cao, Thẩm phán TAND cấp cao.

- Quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn

Về cơ bản, chúng tôi đồng tình với việc bổ sung tại khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này vì rất chặt chẽ và thể hiện trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân khi họ bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, dự thảo BLTTHS cũng đã bổ sung  quyền miễn truy tố của Viện kiểm sát tại Điều 24. Do đó, khi bị can được miễn truy tố thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng với họ đều phải được hủy bỏ. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung trường hợp “ bị can được miễn truy tố” vào khoản 1 Điều luật này. Cụ thể là:

Khi vụ án bị đình chỉ, bị can, bị cáo được đình chỉ; bị can được miễn truy tố; bị cáo được Tòa án tuyên bố không phạm tội thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều phải được hủy bỏ” (Theo chúng tôi phải sử dụng cụm từ “tuyên bố không phạm tội”, không nên dùng cụm từ “Tòa án tuyên vô tội” vì cụm từ này không chính xác và không được sử dụng trong các điều luật khác của Bộ luật này).

- Quy định về kê biên tài sản

Khoản 1 của Điều luật bổ sung nội dung: “ Kê biên tài sản cũng được áp dụng đối với tài sản đang do người khác quản lý nếu có căn cứ cho rằng tài sản này có được do hành vi phạm tội của bị cáo”; có nghĩa là tài sản đang do người khác quản lý nhưng có căn cứ để xác định đó là do phạm tội mà có thì mới được kê biên. Theo chúng tôi, không chỉ “tài sản do phạm tội mà có”, tài sản đó là tài sản của bị can, bị cáo phạm tội, mà BLHS quy định có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ, hoặc có thể bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung thì vẫn có thể kê biên để đảm bảo thi hành án. Do đó chỉ cần chứng minh tài sản do người khác đang quản lý là tài sản của bị can, bị cáo là các cơ quan tiến hành tố tụng đã có quyền kê biên. Nếu quy định như dự thảo thì rất khó khăn cho việc điều tra để chứng minh tài sản đó là do phạm tội mà có.

Khoản 4 của Điều luật này bổ sung nội dung: “có thể để cho người bào chữa tham dự việc kê biên tài sản”. Quy định này không phù hợp với quy định về “Quyền và nghĩa vụ của người bảo chữa” có nội dung người bào chữa có quyền: “Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên, hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức khám nghiệm hiện trường, kê biên tài sản, khám người, chỗ ở, chỗ làm việc trong những hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, khi các cơ quan tiến hành tố tụng kê biên tài sản thì người bào chữa có quyền tham dự chứ không phải là “có thể để cho người bào chữa tham dự” như quy định tại khoản 4 Điều luật này. Khi người bào chữa có quyền tham dự việc kê biên tài sản thì cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức việc kê biên tài sản phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền này cho họ chứ không phải là muốn thông báo hoặc không thông báo cũng được. Do đó, khoản 4 của Điều luật này phải sửa là “người bào chữa có quyền tham dự việc kê biên tài sản”.

- Quy định về tạm hoãn xuất cảnh

Đây là một quy định mới và cần thiết được áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 của Điều luật này thì “khi xét thấy việc tạm hoãn xuất cảnh không còn cần thiết thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 89 của Bộ luật này phải kịp thời ra quyết định giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh”.

Chúng tôi xin có ý kiến như sau:

Một là: Luật không quy định thời hạn tạm hoãn xuất cảnh, có nghĩa là chỉ khi nào xét thấy việc tạm hoãn xuất cảnh không còn cần thiết, người có thẩm quyền không áp dụng quyết định này nữa thì những người quy định tại khoản 1 của Điều này mới được xuất cảnh. Quy định này không rõ ràng bởi lệ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ quan của người có thẩm quyền ra quyết định và có thể xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân. Luật không nên có quy định mang tính áp đặt chủ quan và không có giới hạn về thời gian. Giả sử vụ án bị kéo dài không phải do lỗi chủ quan của những người quy định tại khoản 1 của Điều luật này mà do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc của người có thẩm quyền ra quyết định thì họ sẽ  phải chịu việc hạn chế tự do.

Trong biện pháp cưỡng chế bắt tạm giam cũng phải có thời hạn, hết thời hạn tạm giam luật quy định thì phải trả tự do. Biện pháp này cũng cần và rất cần thời hạn, không thể không có thời hạn như dự thảo được.

Hai là: Khoản 3 dùng thuật ngữ “giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh” – một thuật ngữ hết sức mới, lần đầu tiên được sử dụng trong BLTTHS. Theo chúng tôi hiểu đây là việc người có thẩm quyền ban hành biện pháp cưỡng chế này ra quyết định hủy bỏ quyết định hoặc thay đổi biện pháp này bằng một biện pháp khác. Nếu đúng như chúng tôi hiểu thì đề nghị nên sử dụng thuật ngữ hủy bỏ quyết định tạm hoãn xuất cảnh thì đúng hơn và đảm bảo sự thống nhất về việc sử dụng thuật ngữ trong cùng một văn bản pháp luật.

Ba là: Theo chúng tôi không thật cần thiết phải quy định biện pháp tạm hoãn xuất cảnh vì đây là trường hợp bị can, bị cáo được tại ngoại và họ đã bị cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, điều này cũng có nghĩa là họ không được xuất cảnh nếu không được sự cho phép của các cơ quan tiến hành tố tụng (đã ra quyết định này). Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh chỉ đúng với trường hợp là người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Nếu quy định đây là nghĩa vụ của người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan trong quy định về quyền và nghĩa vụ của họ thì không cần thiết phải quy định thành một điều luật riêng về vấn đề này.

(Còn nữa)

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi