Một số ý kiến góp ý về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự - Kỳ

Ths. Nguyễn Quang Lộc, Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đang được Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp cùng với các cơ quan có thẩm quyền soạn thảo trên cơ sở sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003. Với nỗ lực cao, tháng 10/2014, Dự thảo BLTTHS đã cơ bản hoàn thành. Chúng tôi đánh giá rất cao những sửa đổi, bổ sung của Dự thảo phù hợp với tình hình đất nước hiện nay. Tuy nhiên, qua nghiên cứu nội dung của Dự thảo, chúng tôi thấy còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu kỹ cả về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trình bày một số ý kiến đối với Dự thảo để Ban biên tập, Ban soạn thảo và các bạn đồng nghiệp tham khảo. Để tiện theo dõi, chúng tôi xin trình bày các ý kiến theo các Chương của Dự thảo BLTTHS.

I. Về phần thứ nhất: Những quy định chung

1. Về Chương I: Nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự

- Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự

Dự thảo BLTTHS sắp xếp lại thứ tự lợi ích cần bảo vệ tức là đưa việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân lên trước việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước là không phù hợp với Hiến pháp 2013. Chương I của Hiến pháp năm 2013 là “Chế độ Chính trị”, đó là khách thể quan trọng nhất, bằng mọi giá phải bảo vệ.  Có chế độ chính trị, có tổ quốc mới có công lý, có quyền con người. Vì thế, Chương XI (Chương đầu tiên của Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 1999) là chương về các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Do đó, chúng tôi đề nghị không sắp xếp lại thứ tự này mà nên giữ nguyên như thứ tự của Điều 1 BLTTHS năm 2003 và bổ sung nhiệm vụ "bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người" vào sau cụm từ "bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm".

Theo chúng tôi nếu sắp xếp như trên thì có thể bỏ từ "cá nhân" của Dự thảo BLTTHS vì quyền con người, quyền công dân cũng chính là quyền cá nhân và nếu để cá nhân trong câu này là thừa.

- Điều 2: Hiệu lực của BLTTHS

Khoản 2 Điều 2 bổ sung quy định: "Trường hợp giữa Việt Nam và nước mà người phạm tội mang quốc tịch chưa có chung điều ước quốc tế thì hoạt động tố tụng hình sự thực hiện trên nguyên tắc có đi, có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế"

Trong Điều 2 cũng bổ sung khoản 4 "Hoạt động tố tụng phát sinh trên cơ sở yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dẫn độ tội phạm của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trường hợp giữa Việt Nam và nước có yêu cầu chưa có điều ước quốc tế và tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm thì được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam và tập quán quốc tế".

Như vậy, nội dung bổ sung tại khoản 2 và khoản 4 Điều 2 gần giống nhau, thậm chí là trùng nhau về trường hợp giữa Việt Nam và nước khác chưa có điều ước quốc tế. Hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm suy cho cùng cũng là hoạt động tố tụng hình sự, mà thực chất đó là hoạt động tố tụng hình sự. Do vậy, chúng tôi cho rằng không cần bổ sung ở khoản 2 mà gộp vào khoản 4, sắp xếp lại cho hợp lý là đảm bảo quy định về hoạt động tố tụng hình sự đối với những trường hợp có điều ước quốc tế và chưa có điều ước quốc tế.

2. Về Chương II: Những nguyên tắc cơ bản

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án về Chương này. Tuy có một số điểm khác nhau nhưng về cơ bản không có sự đối lập. Chúng tôi xin nêu một số ý kiến sau đây:

- Điều 9: Suy đoán vô tội

Khoản 1 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật".

Suy đoán vô tội là một thuật ngữ pháp lý mà không phải ai cũng hiểu về nó. Nếu dùng thuật ngữ này thành một quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì không đảm bảo tính quần chúng. Điều 9 BLTTHS năm 2003 quy định rõ là: "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Quy định này rõ ràng hơn, phổ thông hơn và dễ hiểu hơn thuật ngữ "Suy đoán vô tội". Mặt khác, do sửa tên điều luật nên khoản 1 viết dài dòng, theo chúng tôi thì không cần thiết phải có cụm từ "Cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Đương nhiên, bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải tuân thủ trình tự, thủ tục của BLTTHS. Vì vậy, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định tại Điều 9 BLTTHS 2003 và đồng tình với việc bổ sung tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật này về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và việc xử lý có lợi cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu nghi ngờ về tội của họ chưa được làm sáng tỏ theo quy định của BLTTHS.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 9 quy định "Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình". Quy định này có nghĩa là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền khai báo hoặc có quyền không khai báo; đây thực chất là "quyền im lặng". BLTTHS năm 2003 không có Điều nào quy định cụ thể về "quyền im lặng" nhưng "quyền im lặng" đã được thể hiện trong nhiều quy định của BLTTHS. Chẳng hạn quy định về trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; không lấy lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội bị cáo; bị cáo có quyền không trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử; bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa từ khi khởi tố vụ án; người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của bị can, bị cáo… Như vậy, cần thiết quy định cụ thể "quyền im lặng" trong BLTTHS để rõ ràng, rành mạch hơn trong việc bảo vệ quyền con người mà Hiến pháp đã quy định. Do đó, chúng tôi đề nghị nên tách quy định của khoản 2 Điều 9 nêu trên thành một điều luật riêng quy định về "Quyền im lặng" với nội dung cụ thể như sau:

"Điều… Quyền im lặng.

Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền không khai báo; có quyền nhờ người bào chữa hỗ trợ khi cơ quan điều tra lấy lời khai, khi bị truy tố hoặc khi bị Tòa án xét xử. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra phải giải thích cho họ biết về quyền im lặng và đảm bảo để họ thực hiện quyền này."

- Điều 13: Trách nhiệm phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án hình sự

Dự thảo bỏ quyền khởi tố của Tòa án vì cho rằng không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án. Với lập luận này thì Tòa án không có quyền khởi tố vụ án hình sự mà chỉ có quyền kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 154 dự thảo BLTTHS. Sửa đổi này không phù hợp vì những lẽ sau đây:

Một là: Trong thực tiễn xét xử, đã có nhiều trường hợp trong quá trình xét xử, Tòa án phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, bỏ lọt tội phạm nên đã quyết định khởi tố vụ án hình sự. Chẳng hạn như vụ án hậu vụ án rừng Tánh Linh; hậu của vụ án Mường Tè… Như vậy, việc phát hiện dấu hiệu tội phạm, bỏ lọt tội phạm và khởi tố vụ án hình sự của Tòa án không những góp phần đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả hơn mà còn thể hiện quyền giám sát của Tòa án (quyền tư pháp) trong hoạt động của Tòa án đối với công tác điều tra, truy tố.

Hai là: Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã được Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014. Theo đó, tại điểm d khoản 3 Điều 2 đã quy định: "Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm".

Với hai lý do cả về mặt thực tiễn và cả về căn cứ pháp luật nêu trên thì việc bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án là không đúng và cần phải, buộc phải giữ lại quy định này trong Điều 13, đồng thời sửa quy định về quyền kiến nghị khởi tố vụ án hình sự của Tòa án tại Điều 154 của Dự thảo BLTTHS.

- Điều 15: Thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm có Hội thẩm tham gia.

Chế độ Hội thẩm tham gia xét xử đã được quy định từ Hiến pháp năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó có Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Chúng tôi đồng tình với việc bổ sung quy định "trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn" cho phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, chúng tôi không đồng tình với việc bỏ quy định: "Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán". Mặc dù trong các văn bản pháp luật không quy định cụ thể về vấn đề này nhưng việc Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán từ lâu đã được coi là đương nhiên khi xét xử. Mặt khác, tuy không quy định cụ thể nhưng điểm 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn"; Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định Tòa án nhân dân xét xử tập thể: "Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do Luật tố tụng quy định".

Như vậy, Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân chỉ tham gia xét xử sơ thẩm và khi Hội đồng xét xử quyết định thì theo đa số ý kiến của các thành viên trong Hội đồng xét xử. Những thành viên trong Hội đồng xét xử đương nhiên phải có quyền ngang nhau thì mới có quyền biểu quyết để lấy ý kiến đa số và đó là quyết định của Hội đồng xét xử. Việc Điều 15 BLTTHS năm 2003 quy định: "Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán" vừa có căn cứ từ các quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân, vừa đề cao vị trí, vai trò của Hội thẩm trong công tác xét xử. Do đó, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định này tại Điều 15 Dự thảo BLTTHS.

- Điều 16: Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Đây là một quy định nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan của Hội đồng xét xử; nhằm loại bỏ sự can thiệp của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác xét xử của Thẩm phán Hội thẩm. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm". Để cụ thể hóa rõ hơn, về quy định này của Hiến pháp, chúng tôi đề nghị cần bổ sung vào Điều 16 quy định: "Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào". Mặt khác, các hành vi can thiệp thô bạo vào công tác xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm phải được coi là tội phạm và cần phải được quy định trong BLHS.

Công tác xét xử là một công tác đặc thù, các phán quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử có thể không tránh khỏi sai sót khi nhận thức về quy định của pháp luật hoặc đánh giá chứng cứ không chính xác, chưa đầy đủ, đặc biệt là trong những trường hợp mà hồ sơ vụ án đã bị "khép kín" từ cơ quan điều tra. Vì vậy, những "rủi ro" trong nghề nghiệp vẫn có thể xảy ra. Rất nhiều nước trên thế giới đều không đặt ra vấn đề xử lý kỹ thuật hoặc trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử oan, sai. Do đó, chúng tôi đề nghị cần quy định rõ trong điều này: "Thẩm phán, Hội thẩm không bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với những quyết định khi thực hiện quyền xét xử, trừ trường hợp cố ý; Việc xử lý đối với Thẩm phán phải có ý kiến của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia".

Để bảo vệ Thẩm phán, Hội thẩm, điều luật cũng cần có quy định xử lý nghiêm những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, đe dọa, khủng bố tinh thần hoặc gây sức ép, cản trở hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Các hành vi lăng mạ, xúc phạm, không tôn trọng Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa cần phải bị xử lý nghiêm khắc.

- Điều 18: Thực hiện công khai trong hoạt động tố tụng hình sự

Chúng tôi cho rằng việc sửa đổi tên của điều luật thì "xét xử công khai" sang "Thực hiện công khai trong hoạt động tố tụng hình sự" là không phù hợp vì không phải mọi hoạt động tố tụng đều phải công khai (ví dụ: các hoạt động điều tra…). Điều 18 BLTTHS năm 2003 chỉ giới hạn quy định này trong hoạt động xét xử. Điều 31 Hiến pháp năm 2013 cũng không quy định việc công khai hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng mà cũng chỉ giới hạn trong hoạt động xét xử của Tòa án. Để thực hiện đúng quy định của Điều 31 và Điều 103 Hiến pháp năm 2013, chúng tôi đề nghị sửa điều này như sau:

"Điều 18: Xét xử, kịp thời, công khai

1. Tòa án phải đảm bảo xét xử trong thời hạn do Bộ luật này quy định.

2. Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự.

Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, bí mật công tác, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xử kín, nhưng phải tuyên án công khai".

Sở dĩ chúng tôi đưa thêm "bí mật quân sự, bí mật công tác" vào trong quy định của điều luật này là do có sự khác nhau giữa bí mật nhà nước, bí mật quân sự và bí mật công tác. Bộ luật hình sự cũng quy định các tội danh khác nhau về các khách thể bị xâm hại này. Mặt khác, người chưa thành niên là đối tượng cần được bảo vệ, kể cả trường hợp họ là bị cáo hay là người bị hại; do đó, việc xét xử kín đối với họ cũng cần đặt ra và cần quy định trong điều luật.

- Điều 19: Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục

Tại phiên tòa, Tòa án trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án thông qua việc hỏi và nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Tòa án cũng có thể hỏi những người khác mà Tòa án triệu tập đến phiên tòa hoặc phiên họp, chẳng hạn như Tòa án triệu tập Điều tra viên và hỏi Điều tra viên về những vấn đề liên quan đến việc điều tra.

Phiên tòa có thể diễn ra liên tục, nhưng cũng có thể phải tạm dừng lại để Hội đồng xét xử thực hiện việc "xem xét tại chỗ" như quy định tại Điều 301 Bộ luật này. Mặt khác, trong thực tiễn cũng đã xảy ra một số trường hợp vì lý do sức khỏe của người tham gia tố tụng hoặc các trường hợp bất khả kháng khác mà phiên tòa phải tạm ngừng (không phải là hoãn phiên tòa). Do đó, nếu quy định việc xét xử phải tiến hành liên tục, chỉ trừ thời gian nghỉ là không phù hợp với quy định tại Điều 301 BLTTHS và không phù hợp thực tiễn. Vì vậy, điều luật này cần quy định rộng mở hơn những trường hợp không thể xét xử liên tục, mặt khác cũng cần quy định rõ thời gian tạm ngưng phiên tòa (việc xét xử) là bao nhiêu ngày, nếu hết thời hạn đó, Tòa án phải tiếp tục xét xử. Trường hợp lý do tạm ngừng xét xử chưa được khắc phục (ốm đau chưa khỏi, việc xem xét tại chỗ, việc điều tra, xác minh của Hội đồng x�t xử chưa thực hiện được…) thì cũng cần có quy định phải hoãn phiên tòa hoặc có thể gia hạn tạm ngưng việc xét xử.

- Điều 20: Đảm bảo tranh tụng, công bằng trong xét xử

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm". Đây là một quy định của giai đoạn xét xử, mang tính nguyên tắc, buộc Tòa án phải thực hiện.

Tranh tụng có nghĩa là sự kiện cáo lẫn nhau giữa các bên có quan điểm đối lập. Đây là một thuật ngữ được ghép bởi hai thuật ngữ "tranh luận" và "tố tụng". Tranh tụng tại phiên tòa là việc đối đáp, đưa ra những chứng cứ để phản đối, không đồng tình hay bác bỏ quan điểm buộc tội hoặc gỡ tội của bên kia, đồng thời bảo vệ quan điểm của mình là có căn cứ, đúng pháp luật. Tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ khai mạc phiên tòa vì ngay trong phần thủ tục phiên tòa đã có sự đối đáp, đặt ra các yêu cầu của các bên. Ví dụ như yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng, đưa vật chứng ra phiên tòa, hoãn phiên tòa hoặc có thể xuất trình cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ có thể làm cho phiên tòa phải hoãn hoặc Tòa án phải quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Chẳng hạn, tại phiên tòa, Luật sư xuất trình một giấy khai sinh mà theo đó bị cáo chưa đến tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Giấy khai sinh này và giấy khai sinh có trong hồ sơ vụ án tuy cùng một nơi cung cấp nhưng có sự khác nhau về độ tuổi. Không có căn cứ để Tòa án làm rõ tại phiên tòa nên trường hợp này, Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa không đồng nghĩa với tranh luận tại phiên tòa. Tranh luận chỉ là một phần của tranh tụng tại phiên tòa và có nghĩa hẹp hơn.

Trong Hiến pháp chỉ quy định bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa (nguyên tắc tranh tụng trong xét xử), nhưng không có nghĩa là nguyên tắc này không thực hiện trong các giai đoạn khác của quá trình tố tụng. Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình tố tụng "pha trộn" giữa xét hỏi và tranh tụng. Khi đã xác định nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự thì phải được hiểu là không chỉ Tòa án mà các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc này. Hiểu theo nghĩa rộng này thì tranh tụng được bắt đầu từ khi bắt, tạm giữ người vì từ thời điểm này đã có sự tham gia "tranh cãi" của người bào chữa. Tranh tụng được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng, tức là từ khi bắt giữ đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.

Với những lập luận nêu trên, chúng tôi đề nghị cần bổ sung trong phần chung một điều luật quy định về "Nguyên tắc tranh tụng"

"Điều… Nguyên tắc tranh tụng

Các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải bảo đảm tranh tụng trong hoạt động tố tụng của mình."

Điều 20 cũng cần quy định rõ hơn về quyền tranh tụng tại Tòa án là gì và bao gồm những nội dung nào hay Tòa án phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa như thế nào. Tranh tụng tại phiên tòa là trọng tâm của công tác xét xử. Căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ, khách quan các chứng cứ, tài liệu, các ý kiến của bên buộc tội, bên gỡ tội, những người tham gia tố tụng và những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa (Điều tra viên, đại diện nhà trường, tổ chức xã hội…) Tòa án ra quyết định hoặc bản án. Quyết định hoặc bản án của Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa chứ không phải dựa trên hồ sơ vụ án, vì vậy điều luật này cần có quy định vấn đề này như một nguyên tắc để xóa đi, đoạn tuyệt với tư tưởng "án tại hồ sơ".

Với những lập luận nêu trên, chúng tôi đề nghị sửa khoản 4 Điều 20 Dự thảo BLTTHS thành: "4. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa"; không cần phải thêm quy định "Chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa" hoặc "trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa…", vì tất cả những vấn đề này đều đã được gói trong "tranh tụng tại phiên tòa" rồi.

- Điều 21: Thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Có quan điểm cho rằng nên sửa điều này thành "Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm" để thể hiện rõ hai cấp Tòa án. Chúng tôi cho rằng nếu sửa theo quan điểm này thì lại vướng ở khoản 2, khi quy định việc xem xét lại các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới, thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Do đó, chúng tôi đồng tình với quan điểm giữ nguyên quy định này tại Điều 21 BLTTHS năm 2003 và Điều 21 của Dự thảo BLTTHS.

- Điều 22: Giám đốc việc xét xử

Theo quy định tại Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về “Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương" thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh không còn quyền giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện mà chỉ còn quyền kiểm tra công tác xét xử của các Tòa án cấp dưới (kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật), nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì chỉ có quyền kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị. Tương tự như trên, các Tòa án quân sự cấp quân khu cũng không còn quyền giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 56 Luật tổ chức Tòa án nhân dân "Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự Quân khu và tương đương). Theo Điều 44 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định về "Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương” thì không có Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Vì vậy, điều luật này phải sửa cơ bản để phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Theo đó, dựa trên thẩm quyền của các cấp Tòa án để xác định thẩm quyền giám đốc việc xét xử.

Ví dụ: Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân; Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự Trung ương giám đốc việc xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương…

Chúng tôi cho rằng quy định nêu trên của Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng cần được quy định trong Điều 22 BLTTHS để không chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng mà cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng biết để thực hiện đúng pháp luật, tránh việc gửi đơn yêu cầu giám đốc thẩm không đúng nơi có thẩm quyền giải quyết.

- Điều 23: Bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án

Có ý kiến cho rằng cần sắp xếp lại trật tự của cụm từ "cơ quan, tổ chức, cá nhân" thành "cá nhân, cơ quan, tổ chức" tức là đưa cá nhân lên trước cơ quan, tổ chức. Chúng tôi không đồng tình với ý kiến này vì hơn ai hết, cơ quan, tổ chức phải gương mẫu tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, chúng tôi đồng tình với quy định tại Điều 22 BLTTHS năm 2003 và quy định tại Điều 23 dự thảo BLTTHS vì phù hợp với khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Tuy nhiên, việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án không chỉ thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung và các cơ quan, tổ chức hữu quan có liên quan hoặc được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà đó cũng là trách nhiệm của chính Tòa án. Tòa án xét xử, ra quyết định đã có hiệu lực pháp luật (bản án, quyết định) nhưng lại không gửi bản án, quyết định, không ra quyết định thi hành bản án thì việc xét xử cũng trở nên vô nghĩa. Vì thế, điều luật này cần phải quy định cả trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mới đầy đủ.

- Điều 24: Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Chúng tôi đồng tình với việc bổ sung quyền miễn truy tố của Viện kiểm sát khi có đầy đủ các điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLTTHS vì: Viện kiểm sát có quyền truy tố thì cũng có quyền miễn truy tố. Quy định này cũng tương tự như quy định người có thẩm quyền kháng nghị thì có quyền rút kháng nghị hoặc quy định về rút truy tố một phần hoặc toàn bộ của Viện kiểm sát.

Chúng tôi cũng đồng tình việc quy định "Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng" trong khoản 2 của điều luật này để có thể bao trùm các chủ thể khác như người có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, người được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra.

Tuy nhiên, chức năng kiểm sát và chức năng công tố là hai chức năng riêng biệt, được thực hiện bởi hai hoạt động riêng biệt chứ không phải là một. Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa (quyền buộc tội) chứ không phải đồng thời có cả quyền kiểm sát hoạt động của Hội đồng xét xử. Ngược lại, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án (Hội đồng xét xử) còn có quyền: "a. Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử…"

Như vậy, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa không có quyền kiểm sát tại phiên tòa, đặc biệt là kiểm sát hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử. Nếu quy định kiểm sát viên có quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử là trái với nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cần quy định rõ "Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thì không thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa".

Cũng vì các lý do nêu trên, chúng tôi cho rằng cần có quy định tách biệt cụ thể, rõ ràng về quyền thực hành công tố và quyền kiểm sát trong tố tụng hình sự mà không nên gộp chung trong một điều luật. Có nghĩa là cần tách riêng Điều 23 BLTTHS năm 2003 và Điều 24 dự thảo BLTTHS thành hai điều luật quy định về hai chức năng công tố và kiểm sát của Viện kiểm sát.

- Điều 27: Trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có cả các cơ quan tổ chức và mọi người. Do vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung trách nhiệm của các cơ quan trong điều luật. Mặt khác, nếu dùng từ công dân thì lại thu hẹp trách nhiệm của những người nước ngoài, người không có quốc tịch đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam. Do đó, nên thay từ công dân bằng từ cá nhân hoặc mọi người thì bao trùm rộng hơn, đầy đủ hơn.

Trong khoản 2 của điều luật này nên bổ sung thêm trách nhiệm của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các khoản 1, 2 và 3 của điều luật đã sửa "công dân" thành "cá nhân" thì tên của điều luật này cần sửa công dân thành cá nhân.

- Điều 28: Phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội

Cần bổ sung thêm nhiệm vụ của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa và trách nhiệm trả lời của các cơ quan này đối với yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

- Điều 29: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Dự thảo BLTTHS giữ nguyên quy định của Điều 28 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thường chỉ chú trọng đến việc chứng minh tội phạm mà ít, thậm chí không quan tâm đến việc điều tra, xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự trong một số trường hợp có thể có ý nghĩa quyết định trách nhiệm hình sự, xác định có tội hay không có tội, quyết định khung hình phạt. Vì một người chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng (trộm cắp, lừa đảo…) chưa hẳn đã là tội phạm nếu họ không gây hậu quả nghiêm trọng, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Nếu Tòa án xác định được giá trị tài sản dưới hai triệu đồng thì tuyên bố người đó không phạm tội, nhưng họ vẫn phải có trách nhiệm dân sự. Hoặc một người tham ô 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng khác với người tham ô trên 50 triệu đồng, trên 500 triệu đồng. Sự khác biệt này xét riêng về góc độ trách nhiệm dân sự (trách nhiệm bồi hoàn tiền bị chiếm đoạt) vừa là yếu tố định khung hình phạt, vừa là trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự.

Để chứng minh tội phạm, xác định tình tiết định khung tội phạm chính xác, đầy đủ thì đó là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu các cơ quan điều tra, truy tố chưa xác định đầy đủ, chính xác các chứng cứ này thì theo quy định tại điểm I khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Điểm i "Chứng cứ để chứng minh": tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra "là chứng cứ để đánh giá tính chất, hậu quả (vật chất, phi vật chất) của hành vi phạm tội trong việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt". Khi thiếu hoặc không đầy đủ, không chính xác về chứng cứ này, Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà không được tách phần dân sự thành vụ kiện khác. Để tránh việc hồ sơ phải trả để điều tra bổ sung vì thiếu chứng cứ xác định thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hay đó chính là trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Chúng tôi đề nghị sửa Điều 29 dự thảo BLTTHS như sau:

"Điều 29: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải xác định rõ tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu của đương sự".

- Điều 30 và Điều 31

Hai điều luật này đều quy định về việc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại. Điều 30 có quy định về việc phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật.

Theo chúng tôi hai điều luật này có nội dung gần giống nhau, nên ghép vào thành một điều luật để không bị lặp lại quy định; cụ thể như sau:

"Điều 30: Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật do cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra.

1. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi.

2. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cố ý vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan mình theo quy định của pháp luật".

Theo chúng tôi, trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chỉ nên đặt ra khi có lỗi cố ý. Những trường hợp do nhận thức pháp luật hoặc do trình độ đánh giá tài liệu, chứng cứ không đúng đắn đến vi phạm pháp luật thì không đặt ra việc bồi hoàn.

(Còn nữa)

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi