Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (phần II)

TS. Mai Bộ - Phó Chánh án Tòa án quân sự Trung ương

5. Các tội xâm phạm chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.

Các tội xâm phạm chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ gồm tội đào ngũ và tội trốn tránh nhiệm vụ được quy định tại các Điều 325, 326 BLHS.   

Điều 325 BLHS quy định tội đào ngũ là “hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến”. Theo chúng tôi, rời bỏ hàng ngũ quân đội bao gồm: rời bỏ đơn vị một cách trái phép, không có mặt tại đơn vị theo quy định. Rời bỏ đơn vị một cách trái phép là tự ý đi khỏi đơn vị, nơi công tác hoặc nơi điều trị, điều dưỡng một cách trái phép nhằm trốn tránh việc tiếp tục phục vụ trong quân đội. Không có mặt tại đơn vị một cách trái phép là hành vi không đến đơn vị, không đến nơi công tác, nơi điều trị, điều dưỡng một cách trái phép nhằm trốn tránh việc tiếp tục phục vụ trong quân đội; đây là hành vi rời bỏ đơn vị một cách hợp pháp khi những người này được chuyển đơn vị, chuyển nơi công tác nhưng không đến đơn vị mới hoặc nơi được cử đến công tác hoặc sau khi ra viện, sau điều dưỡng, nghỉ phép, tranh thủ, sau đợt công tác không trở lại đơn vị với mục đích trốn tránh việc tiếp tục phục vụ trong quân đội. Việc dùng thuật ngữ “rời bỏ hàng ngũ quân đội” để mô tả hành vi khách quan của tội đào ngũ là quá khái quát và dễ nhầm với hành vi“rời bỏ đơn vị.”

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 BLHS thì về lý luận có ba trường hợp phạm tội đào ngũ như sau: (1) Phạm tội đào ngũ do đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm. Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện nhiều lần hành vi bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép và có ít nhất một lần đã bị xử lý kỷ luật, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị kỷ luật nay lại thực hiện hành vi đào ngũ. (2) Phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép gây hậu quả nghiêm trọng. (3) Phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép trong thời chiến. Để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội đào ngũ trong trường hợp này chỉ cần có hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt ở đơn vị một cách trái phép nhằm trốn tránh nghĩa vụ mà không cần có một trong hai điều kiện: đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Bản chất của tội đào ngũ là hành vi tự ý rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép với mục đích trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Tội đào ngũ là tội phạm kéo dài nên tội phạm đã hoàn thành, nhưng hoạt động phạm tội đào ngũ vẫn chưa chấm dứt. Do đó, trong ba trường hợp phạm tội đào ngũ theo quy định tại khoản 1 Điều 325 BLHS, chỉ có trường hợp thứ hai “phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách  trái phép nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong Quân đội gây hậu quả nghiêm trọng” và trường hợp thứ ba “phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách  trái phép trong thời chiến nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong Quân đội” là thoả mãn các dấu hiệu thuộc về bản chất của tội đào ngũ. Còn trường hợp thứ nhất “phạm tội đào ngũ do đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm” không thoả mãn các dấu hiệu thuộc về bản chất của tội đào ngũ. Đây chỉ là trường hợp rời bỏ đơn vị một thời gian sau đó lại có mặt và bị xử lý kỷ luật, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị kỷ luật nay lại thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị. Hành vi này không không thể hiện mục đích trốn tránh nghĩa vụ tiếp tục phục vụ trong Quân đội. Bởi lẽ, nếu trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong Quân đội thì người thực hiện hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội sẽ không trở lại đơn vị nữa. Do vậy, có thể kết luận, bản chất hành vi rời bỏ đơn vị quân đội sau đó lại trở về đơn vị là hành vi vắng mặt trái phép. Mặt khác, theo Điều lệnh quản lý bộ đội, thì thủ tục xử lý kỷ luật quân nhân được thực hiện theo các bước như sau:

“- Quân nhân có sai phạm tự kiểm điểm trước tập thể và nhận hình thức xử phạt;

- Tập thể đơn vị phân tích, phê bình, tham gia ý kiến vào việc xử phạt;

- Trước khi kết luận người chỉ huy phải kiểm tra, xác minh và gặp quân nhân có sai phạm để họ trình bày ý kiến;

- Báo cáo cấp uỷ Đảng thông qua;

- Ra quyết định hoặc đề nghị cấp trên quyết định xử phạt theo phân cấp;

- Tổ chức công bố quyết định xử phạt, báo cáo lên cấp trên và lưu trữ hồ sơ ở đơn vị."[1]

Như vậy, theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội, thì chỉ có thể kỷ luật được người thực hiện hành vi vắng mặt trái phép mà không thể kỷ luật được quân nhân đào ngũ vì sau khi đảo ngũ họ không quay trở lại đơn vị. Với quy định như Điều 325 BLHS, nhà làm luật gọi “người vắng mặt trái phép” là “người đào ngũ”. Việc áp dụng Điều 325 BLHS xử phạt “người vắng mặt trái phép” về tội đào ngũ là đúng người nhưng không đúng tội. Để khắc phục những bất cập nêu trên, chúng tôi cho rằng, cần tội phạm hóa hành vi vắng mặt trái phép và thiết kế lại dấu hiệu cấu thành tội đào ngũ, theo hướng:

- Đối với tội đào ngũ cần mô tả “hành vi tự ý rời bỏ đơn vị một cách trái phép hoặc không có mặt tại đơn vị theo quy định nhằm trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong quân đội” là dấu hiệu định tội và chỉ truy cứu trách nhiệm trường hợp đã bị kỷ luật hoặc xử phạt hành chính mà còn vi phạm. Theo đó cần sửa đổi khoản 1 Điều 325 BLHS như sau:

Điều… Tội đào ngũ

1.Người nào tự ý đi khởi đơn vị hoặc không đến đơn vị đúng hạn định nhằm trốn tránh nghĩa vụ, đã bị kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt...”

- Tội vắng mặt trái phép là hành vi tự ý đi khỏi đơn vị, nơi công tác hoặc nơi điều trị, điều dưỡng hoặc không trở lại đơn vị, không đến đơn vị mới, nơi công tác, nơi điều trị, nơi điều dưỡng đúng thời hạn quy định. Theo chúng tôi, chỉ nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi vắng mặt trái phép trong các trường hợp: vi phạm nhiều lần, đã bị xử phạt kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội vắng mặt trái phép có thể như sau:

“Điều ... Tội vắng mặt trái phép

1. Người nào không được phép mà đi khỏi đơn vị hoặc không đến đơn vị đúng thời hạn quy định nhiều lần, đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt…”

6. Các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân  

Các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân bao gồm: tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự; tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự; tội báo cáo sai; tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, tội vi phạm các quy định về bảo vệ; tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện; được quy định tại các Điều 326, 327, 328, 329, 330, 331 và 332 BLHS. Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân, chúng tôi thấy:

- Tại Điều 327 BLHS quy định hai tội là: tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự. Trong đó:

+ Đối tượng tác động của tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự là bí mật công tác quân sự; đối tượng tác động của tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự là tài liệu bí mật công tác quân sự.

+ Mặt khách quan của tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự thể hiện bởi hành vi làm cho người khác biết về những bí mật công tác quân sự. Hành vi cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự có thể được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hành động cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự được thể hiện ở việc nói, giới thiệu, cho hoặc cho xem, cho sao chụp hoặc cho người khác ghi, chép những nội dung thuộc bí mật công tác quân sự. Không hành động phạm tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự là việc không thực hiện những qui định về việc bảo quản, giữ gìn, cất giữ, che đậy như trường hợp đang sử dụng tài liệu bí mật công tác quân sự mà có người khác tới nhưng không cất, che đậy... với mục đích để cho người khác biết được nội dung bí mật đó. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người thứ hai không có trách nhiệm biết được bí mật đó. Còn mặt khách quan của tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự được thể hiện bởi các hành vi chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự. 

+ Chủ thể của tội cố ý làm lộ bí một công tác quân sự là những người có trách nhiệm nên được biết bí mật công tác quân sự (được quy định tại Điều 315 BLHS); còn chủ thể của tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự không phải là người có trách nhiệm và được biết bí mật công tác quân sự (được quy định tại Điều 315 BLHS). Do vậy, theo chúng tôi, chính sách hình sự đối với người thực hiện từng tội phạm cụ thể này cũng cần có sự khác nhau. Theo đó, người phạm tội cố ý làm lộ bí một công tác quân sự cần phải bị xử phạt nặng hơn người phạm tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự.

Như vậy, tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự là hai tội phạm khác nhau về đối tượng tác động, hành vi khách quan, chủ thể của tội phạm. Cho nên, về chính sách hình sự thì việc quy định tại cùng một điều luật hai tội phạm khác nhau về bản chất là chưa phù hợp.

- Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự và làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự cũng là hai tội phạm khác nhau về đối tượng tác động và hành vi khách quan của tội phạm; việc quy định hai tội phạm này tại cùng một điều luật cũng là một bất cập về kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, phải quy định tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự  trong cùng một điều luật và cùng chung một hình phạt với lý do: trường hợp thu lại được tài liệu đã bị mất, thì chỉ có hành vi “làm lộ” mà không có hành vi “làm mất” tài liệu bí mật công tác quân sự.[2] Chúng tôi không đồng tình với quan điểm nêu trên, bởi vì khi định tội danh với hành vi làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự phải căn cứ vào hành vi khách quan và thời điểm hoàn thành của tội phạm. Việc thu lại được tài liệu đã bị mất (sau khi tội phạm đã hoàn thành) không ảnh hưởng tới việc định tội danh.

Để khắc phục các bất cập nêu trên, chúng tôi đề nghị:

- Quy định hai tội phạm độc lập là tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự tại hai điều luật độc lập như sau:

“Điều ...  Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 80 và Điều 263 của Bộ luật này, thì bị phạt…

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt…”

“Điều ... Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự

1. Người nào chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 263 của Bộ luật này, thì bị phạt...

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt...”

- Quy định hai tội phạm độc lập là tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; và tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự tại hai điều luật khác nhau như sau:

 “Điều... Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự

1. Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 264 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều... Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự

1. Người nào làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 264 của Bộ luật này, thì bị phạt…

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt…”

7. Các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự

Các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự bao gồm: tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng; tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; được quy định tại các Điều 333, 334 và 335 BLHS. Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chúng tôi thấy:

- Điều 334 BLHS quy định “Người nào huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 và Điều 231 Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Cho nên, mặt khách quan của tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thể hiện bởi hành vi hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Cụ thể, đó là hành vi đập phá, đốt cháy, dùng hoá chất, ngâm nước... làm mất hoàn toàn (không thể khôi phục lại) giá trị sử dụng của vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Như vậy, BLHS hiện hành không quy trách nhiệm hình sự của hành vi “cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”.  Trong khi BLHS một số nước như Liên bang cộng hoà Xô viết Nga trước đây, Liên bang Nga hiện nay quy định trách nhiệm hình sự của hành vi “cố ý huỷ hoại hoặc làm hư hỏng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự là hoàn toàn chính xác về kỹ thuật lập pháp.[3] Để khắc phục bất cập đó, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo hướng đổi tên tội danh là “Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” và bổ sung hành vi “cố ý làm hư hỏng…” vào khoản 1 Điều 334 BLHS như sau:

“Điều... Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự 

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 và Điều 231 của Bộ luật này, thì bị phạt …”

8. Hoàn thiện các tình tiết định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

- Theo quy định tại các điều từ Điều 316 đến Điều 340 BLHS, thì các tình tiết sau đây được coi là những tình tiết định khung hình phạt của một số tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân: là chỉ huy hoặc sỹ quan; phạm tội trong chiến đấu; phạm tội trong khu vực có chiến sự; phạm tội trong thời chiến; phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác; lôi kéo người khác phạm tội; dùng vũ lực; giao nộp, vứt bỏ hoặc mang theo vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng; đối xử tàn ác với tù binh khác; chiến lợi phẩm có giá lớn hoặc rất lớn; phạm tội trong khu vực đã có lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp; gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Nghiên cứu quy định của BLHS về các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nêu trên chúng tôi thấy:

+ Sỹ quan là cán bộ quân đội được Nhà nước phong quân hàm cấp uý, cấp tá, cấp tướng; chỉ huy là cán bộ quân đội có chức vụ từ trung đội trưởng và tương đương trở lên. Do vậy, việc sỹ quan hoặc người chỉ huy cố ý thực hiện tội phạm sẽ nguy hiểm hơn việc hạ sỹ quan, binh sỹ, quân nhân chuyên nghiệp, công dân được điều động hoặc trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu thực hiện. Nhưng theo quy định tại Chương XXIII BLHS thì “Là chỉ huy hoặc sỹ quan” mới chỉ được coi là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội đầu hàng địch, tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ, tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm và tội quấy nhiễu nhân dân. Chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt của một số tội cố ý xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân sau đây: tội làm nhục đồng đội; tội hành hung đồng đội (là những tội được tách ra và thay thế các tội phạm quy định tại Điều 319, 320 và 321 BLHS); tội vắng mặt trái phép (là tội mới được tội phạm hoá); tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự; tội báo cáo sai, tội vi phạm các quy định về bảo vệ; tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc cứu chữa thương binh; tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu (hai tội phạm này được đề nghị tách ra từ tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu); tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự (là tội phạm mới được đề nghị).

“Phạm tội trong chiến đấu” là phạm tội trong thời gian người phạm tội đang trực tiếp chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; được quy định là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, tội vi phạm các quy định về bảo vệ và tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Theo chúng tôi, thì hành vi làm nhục, hành hung đồng đội và hành vi đào ngũ trong khi đang làm nhiệm vụ chiến đấu cũng rất nguy hiểm. Tuy nhiên, cân nhắc việc quy định “phạm tội trong chiến đấu” hay “phạm tội trong khu vực có chiến sự” là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của tội làm nhục đồng đội, tội hành hung đồng đội (mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây), thì chúng tôi chọn tình tiết “phạm tội trong khu vực có chiến sự”. Do vậy, chúng tôi chỉ đề nghị bổ sung tình tiết “phạm tội trong chiến đấu” là tình tiết định khung hình phạt của tội đào ngũ.

“Phạm tội trong khu vực có chiến sự” là phạm tội trong khu vực đang có các hoạt động tác chiến quân sự giữa ta và địch; được quy định là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và tội quấy nhiễu nhân dân. Theo chúng tôi, hành vi phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân sau đây trong khu vực có chiến sự rất nguy hiểm cần xử phạt nghiêm khắc hơn: tội làm nhục đồng đội; tội hành hung đồng đội; tội đào ngũ; tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự; tội báo cáo sai, tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban; tội vi phạm các quy định về bảo vệ. Để có căn cứ pháp lý xử phạt nghiêm khắc hành vi phạm các tội nêu trên trong khu vực có chiến sự và đồng thời với việc tội phạm hoá hành vi vắng mặt trái phép, chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết “phạm tội trong khu vực có chiến sự” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội phạm này.

“Lôi kéo người khác phạm tội” là hành vi dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc, đe doạ... người khác cùng phạm tội với mình; được quy định là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội đầu hàng địch, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ, tội quấy nhiễu nhân dân. Theo chúng tôi, thì khi thực hiện các hành vi vắng mặt trái phép, vi phạm các quy định về bảo vệ, huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, người thực hành tội phạm vẫn có thể lôi kéo người khác cùng phạm tội. Khi  đó tính chất nguy hiểm của hành vi sẽ tăng lên và có thể sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn. Do vậy, đồng thời với việc quy định “tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự”, chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết “lôi kéo người khác phạm tội” làm tình tiết định khung hình phạt của: tội vắng mặt trái phép; tội vi phạm các quy định về bảo vệ; tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự.

- Đối với các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân quy định tại các Điều Điều 317, 325, 329, 330, 331, 332, 333, 335, 336, 338, 339 BLHS thì: “gây hậu quả nghiêm trọng” được coi là tình tiết định tội và “gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Còn“Gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân quy định tại các Điều 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324, 326, 327, 328, 334, 337 BLHS. Về cơ bản, chúng tôi đồng tình với việc quy định “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định tội hoặc tình tiết định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nêu trên. Tuy nhiên, xuất phát từ việc tội phạm hoá một số hành vi nguy hiểm cho xã hội, hoàn thiện cấu thành tội phạm và tình tiết định khung hình phạt đố với một số tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi đề nghị:

+ Quy định “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết định tội và “gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội vắng mặt trái phép, tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh, tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự và tội ngược đãi tù binh, hàng binh;

+ Quy định “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội làm nhục đồng đội, tội hành hung đồng đội, tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, tội đào ngũ, tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu.

Về kỹ thuật lập pháp, chúng tôi đề nghị gộp hai tình tiết định khung khung hình phạt “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng” và “phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 và 4 Điều 334 BLHS vào cùng một khoản như sau: “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt...”.

 

[1] Bộ Quốc phòng, Điều lệnh quản lý bộ đội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 129.

[2] Lê Đức Tiết, Lê Thanh Trung, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Văn Hợp, Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1987, tr 92.

[3]  Xem: Bộ luật hình sự  Liên bang Nga do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi dịch, Hà Nội, 1999, tr 132-133.

Nguồn:http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao) 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi