Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (phần I)

TS. Mai Bộ - Phó Chánh án Tòa án quân sự Trung ương

Các quy định của BLHS về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân với tư cách là một chế định của pháp luật hình sự bao gồm những quy phạm pháp luật quy định về tội phạm và hình phạt đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là công cụ pháp lý quan trọng của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm kỷ luật trong quân đội. Mặc dù, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần với các mức độ khác nhau, trong đó có lần sửa đổi cơ bản là ban hành BLHS năm 1999, nhưng những bất cập trong các quy định của BLHS về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đưa ra những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLHS về loại tội phạm này.

1. Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Khi quy định trách nhiệm hình sự cũng như nghiên cứu về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Tuy nhiên, BLHS nước ta quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nhưng lại không nêu định nghĩa về loại tội phạm này. Theo chúng tôi, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là một loại tội phạm được quy định trong BLHS. Do vậy, khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng bao gồm các những dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm. Theo đó, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi và phải chịu hình phạt.

Khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội hoặc khi có hoạt động quân sự. Mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII BLHS và những hành vi nguy hiểm này chỉ có thể xảy ra trong các hoạt động quân sự. Đó không chỉ bao gồm các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà còn cả những hành vi: vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của những người không phải là quân nhân như dân quân tự vệ, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội; vi phạm pháp luật quốc tế về chiến tranh như hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh, hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự. Chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bao gồm quân nhân và những người không phải là quân nhân (như dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội) thực hiện. Việc đặt tên Chương XXIII BLHS “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” là không bao quát hết các hành vi khách quan được đề cập tại Chương này cũng như chủ thể của loại tội phạm này. Để khắc phục bất cập này, chúng tôi đề nghị đổi tên Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của BLHS thành “Các tội xâm phạm hoạt động quân sự”. Mặt khác, theo quy định tại Điều 315 BLHS thì những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân không chỉ là quân nhân mà còn là những người không phải là quân nhân. Việc quy định người không phải là quân nhân nhưng phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo tên gọi của Chương này (Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân) là phi lô gích về mặt ngôn ngữ.

Điều 315 BLHS mới trả lời được câu hỏi ai và khi nào thì phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà chưa trả lời được câu hỏi các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân là gì? Để khắc phục những hạn chế, bất cập này chúng tôi đề nghị đổi tên Điều 315 BLHS “Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” thành “Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự”. Nội dung của Điều luật này phải trả lời được các câu hỏi: các tội xâm phạm hoạt động quân sự là gì? được quy định ở đâu? do ai thực hiện? có lỗi hay không?

Ngoài việc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, thì hàng năm dân quân, tự vệ còn được Chỉ huy các đơn vị quân sự địa phương (Ban chỉ huy quân sự huyện, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh) điều động đi học tập chính trị, huấn luyện quân sự tại các trường quân sự. Trong thời hạn đó, dân quân, tự vệ phải thực hiện đầy đủ các chế độ quy định như quân nhân nhưng chưa bị Điều 315 BLHS quy định là chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Hệ quả là những người này không phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian được điều động vào phục vụ trong quân đội mặc dù theo quy định của Luật dân quân tự vệ, thì họ phải thực hiện các nghĩa vụ và được hưởng đầy đủ các chế độ của quân nhân tại ngũ[1]. Từ những lý do nêu trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi nội dung Điều 315 BLHS và xây dựng khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự như sau:

“Điều … Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự

Các tội xâm phạm hoạt động quân sự là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự, do quân nhân tại ngũ; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được điều động hoặc trưng tập vào phục vụ trong quân đội; dân quân, tự vệ trong thời gian huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm chế độ hoạt động trong quân đội. 

2. Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng

Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng bao gồm tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh và tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm được quy định tại các Điều 316, 317 và 318 BLHS.  Với quy định về tên tội danh và mô tả trong điều luật, thì đối tượng tác động của tội chống mệnh lệnh và tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh là “mệnh lệnh” của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền. Theo hướng dẫn thì “mệnh lệnh” là lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng tín hiệu lệnh và bắt buộc cấp dưới phải chấp hành.[2] Vậy chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có phải là đối tượng tác động của các tội phạm này hay không? Hành vi chống lại hoặc chấp hành không nghiêm chỉnh chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này?

Theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội thì nghĩa vụ của quân nhân là phải “tuyệt đối phục tùng lãnh đạo, chỉ huy, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên... [3]. Do đó, “mệnh lệnh” và “chỉ thị” của người chỉ huy hoặc cấp trên là hai khái niệm khác nhau. Xét về nội dung và yêu cầu thì mệnh lệnh và chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền đều có tính bắt buộc cấp dưới phải thi hành. Nhưng về hình thức pháp lý thì chỉ thị của cấp trên chưa chắc đã phải là mệnh lệnh (như chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là văn bản quản lý hành chính), không chỉ bắt buộc đối với các đơn vị quân đội, mọi quân nhân mà cả những người không phải là quân nhân nhưng có liên quan. Ví dụ: Chỉ thị về việc tuyển quân hàng năm là văn bản có giá trị bắt buộc không chỉ đối với những quân nhân làm nhiệm vụ tuyển quân mà còn có giá trị bắt buộc với Hội đồng nghĩa vụ quân sự địa phương và thanh niên trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Có những chỉ thị chỉ có giá trị bắt buộc đối với một nhóm quân nhân (là thủ trưởng các đơn vị quân đội) như “Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc cấm không cho bộ đội đi làm kinh tế...” Chúng tôi cho rằng, chỉ thị của cấp trên có thẩm quyền cũng là đối tượng tác động của tội chống mệnh lệnh và tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Việc quy định đối tượng tác động của các tội phạm quy định tại các Điều 316, 317 BLHS chỉ là “mệnh lệnh” là chưa chính xác mà phải là “mệnh lệnh, quyết định và chỉ thị của người chỉ huy và cấp trên có thẩm quyền” mới đúng.

Tội chống mệnh lệnh là hành vi công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền. Mặt khách quan của tội chống mệnh lệnh thể hiện bởi hành vi: công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh; cố ý không thực hiện mệnh lệnh được giao. Hai hành vi này tuy có điểm chung là hành vi được thực hiện một cách cố ý nhưng có sự khác nhau về hình thức biểu hiện. Hành vi công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh thể hiện ở việc người nhận mệnh lệnh công khai từ chối hoặc có hành vi khác làm cho người giao mệnh lệnh biết ngay là mệnh lệnh của mình sẽ không được thực hiện. Còn hành vi cố ý không thực hiện mệnh lệnh được biểu hiện dưới dạng: không thực hiện những hành động được quy định trong mệnh lệnh; thực hiện những hành vi mà mệnh lệnh cấm; thực hiện mệnh lệnh không chính xác về mặt thời gian, địa điểm hoặc tính chất của hành động được ghi trong mệnh lệnh. Cho nên, mặc dù mệnh lệnh không được thực hiện nhưng người giao mệnh lệnh không biết, thậm chí còn tin là mệnh lệnh của mình sẽ được thực hiện như GS.TS. Axmetsina X.M khẳng định.[4] Việc Điều 316 BLHS chỉ quy định “Người nào chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt...” mà không mô tả hành vi chống mệnh lệnh là gì, theo chúng tôi là chưa chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, chưa khắc phục được bất cập tại Điều 250 BLHS. Chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng như sau:

- Tội chống mệnh lệnh cần được hoàn thiện theo hướng: bổ sung thêm các đối tượng tác động của tội phạm là“quyết định, chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền;”và mô tả hành vi khách quan của tội phạm này là “công khai từ chối chấp hành hoặc cố ý  không thực hiện quyết định, chỉ thị hoặc mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền.” Theo đó, tên tội danh cần được sửa đổi là “Tội chống mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền” và nội dung khoản 1 Điều 316 BLHS cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

“ Điều…. Tội chống mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền

1. Người nào công khai từ chối chấp hành hoặc cố ý  không thực hiện mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt...”

- Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh cũng cần được hoàn thiện theo hướng bổ sung thêm đối tượng tác động của tội phạm là “quyết định, chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền.” Tên tội danh cần được sửa đổi là “Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền”. Nội dung khoản 1 Điều 317 BLHS cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

“ Điều… Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền

1. Người nào chấp hành mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền một cách lơ là, chậm trễ, tuỳ tiện gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...”

3. Các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ quân đội

Các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ quân đội bao gồm: tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên; tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới; tội làm nhục, hành hung đồng đội được quy định tại các Điều 319, 320 và 321 BLHS. Về mặt khách quan, thì các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ được thể hiện bởi các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự; hành hung; dùng nhục hình. Trong đó: xúc phạm nhân phẩm, danh dự là hành vi khách quan của cả ba tội phạm thuộc nhóm này; hành hung là hành vi khách quan của các tội phạm quy định tại các Điều 319 và 321 BLHS; dùng nhục hình chỉ là hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm quy định tại Điều 320 BLHS. Về bản chất và theo giải thích của Từ điển luật học, thì “nhục hình” là ph­ương pháp tra tấn, gây đau đớn về thể xác ng­ười bị điều tra, xét hỏi hoặc bị giam giữ  cải tạo nh­ư đánh đập, bắt nhịn đói, ăn cơm nhạt, không cho uống nư­ớc, bắt nằm lạnh.v.v...”[5] Đây là khái niệm đ­ược dùng để chỉ hành động thuộc lĩnh vực t­ư pháp hình sự trái với quy định của pháp luật về điều tra, xét hỏi, cải tạo, giam giữ. Dùng nhục hình đối với cấp dưới là hàng vi hành hung cấp dưới do người chỉ huy hoặc cấp trên thực hiện bằng cách lợi dụng chức vụ, quyền hạn.[6]Hoạt động quản lý, chỉ huy bộ đội là hoạt động quản lý hành chính quân sự. Như vậy, việc nhà làm luật sử dụng khái niệm “dùng nhục hình” để chỉ hành vi của người chỉ huy hoặc cấp trên hành hung cấp dưới là không chính xác về thuật ngữ.

Việc định tội danh đối với các hành vi nêu trên phụ thuộc vào hoàn cảnh thực hiện hành vi và mối quan hệ quân nhân giữa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với người bị hại. Cụ thể:

“- Nếu giữa người thực hiện hành vi nêu trên với người bị hại có quan hệ công tác, thì hành vi làm nhục, hành hung bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung chỉ huy hoặc cấp trên theo quy định tại Điều 319 BLHS khi người phạm tội là cấp dưới của người bị hại;

- Nếu người phạm tội là cấp trên của người bị hại, thì hành vi làm nhục, dùng nhục hình bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới theo quy định tại Điều 320 BLHS;

- Nếu giữa người thực hiện hành vi nêu trên với người bị hại không có quan hệ công tác, thì hành vi làm nhục, hành hung bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung đồng đội theo quy định tại Điều 321 BLHS.”[7]

Theo chúng tôi, thì việc quy định một loại hành vi nguy hiểm cho xã hội (làm nhục, hành hung) thành ba tội phạm khác nhau là không cần thiết, không bảo đảm sự bình đẳng trách nhiệm hình sự giữa các quân nhân, những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân và không bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật. Về kỹ thuật lập pháp, thì quy định tại các điều luật nêu trên cũng không thống nhất với quy định tại Điều 8, Điều 20 BLHS “Tội phạm là hành vi...”và “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Xin nêu một ví dụ để chứng minh:

Nguyễn Văn A là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 Trung đội 1. Khi Nguyễn Văn A đang thực hiện hành vi làm nhục, hành hung Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2 thì Nguyễn Văn B là quân nhân thuộc Tiểu đội 2 đến bênh đồng hương và cùng với Nguyễn Văn A làm nhục, hành hung Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2. 

Trong trường hợp nêu trên, tuy Nguyễn Văn B chỉ là người đồng thực hành (hành vi làm nhục, hành hung) với Nguyễn Văn A nhưng mỗi người lại bị truy cứu trách nhiệm về một tội khác nhau. Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung đồng đội theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Còn Nguyễn Văn B bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung người chỉ huy theo quy định tại khoản 1 Điều 319BLHS. Nguyễn Văn B có thể bị phạt nặng hơn Nguyễn Văn A vì chế tài quy định tại khoản 1 Điều 319 nặng hơn chế tài quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Hơn nữa, về lý thuyết thì tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên, tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới và tội làm nhục hành hung đồng đội có thể xảy ra trong chiến đấu hoặc khi không chiến đấu. Hành vi phạm các tội nêu trên được thực hiện trong chiến đấu có tính nguy hiểm cao hơn nên cần trừng trị nghiêm khắc hơn nhưng “phạm tội trong chiến đấu” không được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội phạm này là một hạn chế của BLHS.

Do đó, cần thiết phải sửa đổi các tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên, tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới và tội làm nhục, hành hung đồng đội bằng hai tội độc lập là tội làm nhục đồng đội và tội hành hung đồng đội. Trong đó:

- Tội làm nhục đồng đội là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự người chỉ huy, cấp trên, cấp dưới hoặc đồng đội. Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm này là người chỉ huy, cấp trên, cấp dưới hoặc đồng đội. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi thì: hành vi làm nhục đồng đội ít nghiêm trọng hơn hành vi làm nhục người chỉ huy hoặc cấp trên do đối tượng bị tác động là người chỉ huy hoặc cấp trên; hành vi làm nhục đồng đội cũng ít nghiêm trọng hơn hành vi làm nhục cấp dưới do người thực hiện hành vi này là người chỉ huy hoặc cấp trên. Cho nên, có thể quy định “hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự đồng đội” là dấu hiệu định tội; còn phạm tội đối với người chỉ huy, cấp trên hoặc cấp dưới là dấu hiệu định khung hình phạt. Cụ thể như sau:

“Điều...Tội làm nhục đồng đội

1. Người nào trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự đồng đội, thì bị phạt...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt...:

a) Đối với người chỉ huy trực tiếp, cấp trên hoặc cấp dưới...”

- Tội hành hung đồng đội là hành vi xâm phạm sức khoẻ của đồng đội. Trong đó, hành vi xâm phạm sức khoẻ của đồng đội (của người ngang cấp, ngang chức) ít nguy hiểm hơn hành vi xâm phạm sức khoẻ người chỉ huy, cấp trên hoặc cấp dưới. Chính sách hình sự đối với từng trường hợp nêu trên cũng khác nhau và đã từng được thể hiện tại khoản 2 các Điều 319, 320 và 321 BLHS. Mặc dù tại khoản 2 của các điều luật nêu trên đều quy định 3 tình tiết định khung hình phạt là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nhưng chế tài được quy định (loại và mức hình phạt) với từng tội phạm có sự khác. Sự khác nhau này là cần thiết về đường lối xử lý khi cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Để khắc phục những bất cập của việc quy định thành ba tội độc lập nêu trên mà vẫn đảm bảo có sự khác nhau cần thiết về đường lối xử lý khi cá thể hoá trách nhiệm hình sự đối với từng chủ thể, chúng tôi đề nghị: thay cụm từ “dùng nhục hình đối với cấp dưới” bằng cụm từ “hành hung cấp dưới” tại Điều 320 BLHS; gộp các tội hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên, tội dùng nhục hình đối với cấp dưới và tội hành hung đồng đội quy định tại các Điều 319, 320 và 321 BLHS thành một điều luật với một tội danh mới “Tội hành hung đồng đội”; quy định “hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ cho đồng đội chưa đến mức cấu thành tội cố ý gây thương tích” là dấu hiệu định tội; còn phạm tội đối với người chỉ huy, cấp trên hoặc cấp dưới là dấu hiệu định khung hình phạt. Điều luật quy định về tội phạm này có thể là:

“Điều ... Tội  hành hung đồng đội

1. Người nào trong quan hệ công tác mà cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của đồng đội mà tỷ lệ thương tật chưa đến 11%, thì bị phạt...  

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt...:

a) Phạm tội đối với người chỉ huy,  cấp trên hoặc cấp dưới…”.

4. Các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu

Các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: tội đầu hàng địch, tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu, tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm và tội ngược đãi tù binh, hàng binh; được quy định tại các Điều 322, 323, 324, 336, 337 và 340 BLHS. Các tội phạm này được quy định trong pháp luật hình sự của tất cả các nước có tổ chức quân đội không phụ thuộc vào chế độ chính trị của Nhà nước. BLHS Vương quốc Thuỵ Điển quy định các hành vi sau đây thuộc nhóm các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu: khai báo tin tức cho địch; ở lại lãnh thổ của kẻ thù; giao nộp cho kẻ thù vị trí chiến đấu, phương tiện chiến tranh; nộp mạng chính mình hoặc đơn vị mình cho địch; không thực hiện nhiệm vụ trong chiến đấu.[8] Theo quy định của BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, thì các hành vi phạm tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: tự động bỏ vũ khí đầu hàng; tháo chạy khi lâm trận; khi ở trong chiến trường biết chiến sỹ ở đơn vị khác gặp nguy hiểm yêu cầu cứu viện, có khả năng mà không cứu viện; khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu, rời bỏ vị trí phản bội chạy ra nước ngoài hoặc ở nước ngoài làm những việc gây nguy hại đến lợi ích quân sự của Nhà nước; khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu, điều khiển máy bay, chiến thuyền phản bội, bỏ chạy; cố ý bỏ rơi quân nhân bị bệnh trong chiến trường; không cứu chữa quân nhân bị thương trong chiến trường; tàn sát người dân vô tội hoặc cướp bóc tài sản trong khu vực có chiến sự; ngược đã tù binh.[9] BLHS Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga trước đây cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với một loạt hành vi xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu như: bỏ vị trí chiến đấu, giao nộp hoặc để lại cho địch phương tiện chiến đấu; bỏ trận chiến hoặc từ chối thực hiện hành động chiến đấu; tự nguyện làm tù binh; tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh; chiếm đoạt tài sản của người bị thương hoặc bị chết trong trận chiến; tàn sát hoặc cướp bóc tài sản của dân thường trong khu vực có hành động quân sự; đối xử tàn ác với tù binh.[10]

Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm kỷ luật chiến đấu, chúng tôi thấy:

- Tội bỏ vị trí chiến đấu là hành vi bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu. Trong đó: bỏ vị trí chiến đấu là hành vi tự ý bỏ vị trí chiến đấu đã được phân công mà không được phép của người chỉ huy có thẩm quyền; không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là hành vi của người đang làm nhiệm vụ chiến đấu tuy vẫn có mặt ở vị trí chiến đấu nhưng không làm nhiệm vụ được phân công. Như vậy, tên tội danh là “bỏ vị trí chiến đấu” không bao quát hết các hành vi khách quan được mô tả tại khoản 1 Điều này.

- Về tội đầu hàng địch và tội bỏ vị trí chiến đấu, thì tại điểm b khoản 2 của các Điều 322 và 324 BLHS quy định “Giao nộp tài liệu quan trọng cho địch, bỏ tài liệu quan trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2003/ TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP ngày 11/8/2003 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của BLHS năm 1999, thì Tài liệu quan trọng" được hiểu là tài liệu bí mật công tác quân sự hoặc tuy không phải là tài liệu bí mật công tác quân sự nhưng ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Ví dụ: tài liệu về tổ chức, biên chế, trang bị, kế hoạch công tác của đơn vị, các tài liệu đảm bảo cho hoạt động của đơn vị v.v...[11] Cho nên, không thể áp dụng điểm b khoản 2 của các Điều 322 và 324 BLHS đối với trường hợp giao nộp cho địch tài liệu bí mật nhà nước khi đầu hàng địch hoặc bỏ tài liệu bí mật nhà nước khi bỏ vị trí chiến đấu. Nhưng tại Điều 263 BLHS lại chưa quy định là tội phạm trường hợp giao nộp cho địch tài liệu bí mật nhà nước khi đầu hàng địch hoặc bỏ tài liệu bí mật nhà nước khi bỏ vị trí chiến đấu.

- Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu được quy định tại Điều 336 BLHS như sau:

“1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người nào chiếm đoạt di vật của tử sĩ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”

Như vậy, tại Điều 336 BLHS quy định hai nhóm hành vi phạm tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu là: cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh; và chiếm đoạt di vật của tử sĩ. Chủ thể của nhóm hành vi bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là người có trách nhiệm trong việc: chuyển hoặc tổ chức vận chuyển thương binh, tử sỹ ra khỏi trận địa; chăm sóc, cứu chữa hoặc tổ chức chăm sóc, cứu chữa thương binh. Còn chủ thể của hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ là bất cứ người nào được quy định tại Điều 315 BLHS có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi không chăm sóc, cứu chữa thương binh có thể xảy ra cả trong chiến đấu, trên trận chiến và trong quá trình phục vụ chiến đấu ở hậu cứ nhưng tên tội danh quy định tại Điều 336 BLHS chỉ giới hạn không gian hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự là “trong chiến đấu”. Đối tượng tác động của hành vi bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là tính mạng, sức khoẻ thương binh và thi hài tử sỹ. Trong khi đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ là “những vật của tử sỹ để lại tuy không có giá trị về tài sản hoặc giá trị về tài sản không đáng kể, nhưng lại có giá trị về tinh thần đối với thân nhân của tử sỹ như ảnh, huân chương, huy chương, nhật ký...”[12]

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh được quy định tại khoản 1, 2 và 3; còn trách nhiệm hình sự đối với hành vi chiếm đoạt di vật của tử sĩ được quy định tại khoản 4 Điều luật này. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp thì việc quy định hai nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hội có đối tượng tác động và chủ thể khác nhau vào cùng một điều luật với cùng một tên tội danh là không hợp lý. Sự bất hợp lý này còn dẫn tới hệ quả không đồng bộ với quy định tại Điều 47 BLHS về việc quyết định hình phạt nhẹ hơn. Bởi vì, tại Điều 336 BLHS quy định bốn khung hình phạt, trong đó khoản 1 là tình tiết định tội “vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” đối với hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sỹ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng; khoản 2 và 3 là những tình tiết tăng năng định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội nêu trên; khoản 4 là tình tiết định tội “vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” đối với hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ. Hình phạt quy định tại khoản 3 nặng hơn hình phạt quy định tại khoản 4. Vậy, khi xử phạt bị cáo về tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu theo quy định tại khoản 4 Điều 336 và trong trường hợp áp dụng Điều 47 BLHS thì có thể quyết định hình phạt theo mức quy định tại khoản 3 điều luật này hay không? Nếu có, thì đây là trường hợp quyết định hình phạt nặng hơn quy định của BLHS chứ không phải là “quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS” như quy định tại Điều 47 BLHS. 

- Tại Điều 340 BLHS cũng chỉ mới quy định “Người nào ngược đãi tù binh, hàng binh, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” mà không mô tả hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh. Trong khi đó, Công ước Geneve ngày 12/8/1949 về cách đối xử với tù binh quy định: “Trong mọi trường hợp, bản thân và danh dự của tù binh phải được quyền tôn trọng. Mọi hành vi hoặc mọi bất động bất hợp pháp của quốc gia giam giữ làm thiệt mạng hoặc làm phương hại trầm trọng đến sức khoẻ của một tù binh thuộc quyền họ đều bị cấm chỉ và coi như là một sự vi phạm nặng nề đối với Công ước này. Đặc biệt là không được huỷ hoại thân thể một tù binh hoặc dùng họ để  thí nghiệm về y học hay khoa học, dưới bất cứ hình thức nào nếu cuộc thí nghiệm đó không phải là để điều trị cho tù binh đương sự hoặc vì lợi ích của chính bản thân họ. Các tù binh lúc nào cũng phải được bảo vệ, nhất là đối với những hành vi bạo hành hay đe doạ và đối với sự lăng nhục và sự hiếu kỳ của dân chúng. Cấm thi hành những biện pháp trả thù đối với tù binh.[13]. Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước, thấy: BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định “ngược đãi tù binh, có tình tiết xấu thì bị phạt đến 3 năm tù.[14]; BLHS Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga quy định “Nhiều lần ngược đãi hoặc đối xử tàn ác hoặc hành vi chống lại tù binh ốm, bị thương, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh bị ốm, bị thương nếu không có dấu hiệu của tội nặng hơn, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.[15] Theo chúng tôi, BLHS nước ta cũng nên mô tả hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh là gì. Hình phạt đối với người phạm tội ngược đãi tù binh cũng cần được quy định tương đồng với quy định của pháp luật hình sự các nước trên thế giới.

Để khắc phục những bất cập nêu trên, theo chúng tôi, cần hoàn thiện dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội bỏ vị trí chiến đấu, tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu, tội ngược đãi tù binh, hàng binh. Cụ thể như sau:

Tội bỏ vị trí chiến đấu cần hoàn thiện theo hướng: đặt tên tội danh là “Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu”; quy định “hành vi tự ý rời bỏ hoặc không có mặt ở vị trí chiến đấu một cách trái phép hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” là dấu hiệu định tội. Điều luật quy định về tội phạm này có thể là:

“Điều... Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu

1. Người nào tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu một cách trái phép hoặc không có mặt ở vị trí chiến đấu đã được phân công mà không có lý do chính đáng hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, thì bị phạt....”

Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu cần tách thành hai tội là: tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh và tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh. Trong đó:

+ Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh do những người có trách nhiệm trong việc chuyển hoặc tổ chức vận chuyển thương binh, tử sỹ ra khỏi trận địa hoặc chăm sóc, cứu chữa thương binh thực hiện. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

“Điều... Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh  

1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt....”

+ Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh là hành vi chiếm đoạt hoặc huỷ hoại đồ vật của thương binh, tử sỹ không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Chương “Các tội xâm phạm sở hữu”. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

 “Điều... Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu 

1. Người nào chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Chương “Các tội xâm phạm sở hữu” thì bị phạt...”

Tội ngược đãi tù binh là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; hành hung hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh bị ốm, bị thương gây hậu quả nghiêm trọng. Cho nên, tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

“Điều… Tội ngược đãi tù binh, hàng binh

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; hành hung hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh, hàng binh bị ốm, bị thương gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...”

Nước ta đã gia nhập các Công ước Gieneve ngày 12/8/1949 (bao gồm: Công ước về việc cải thiện số phận của những thương nhân và bệnh nhân của các lực lượng vũ trang trên chiến trường; Công ước về cải thiện số phận của những thương nhân, bệnh nhân và các người bị đắm tầu thuộc các lực lượng vũ trang trên mặt biển; Công ước về cách đối xử đối với tù binh; Công ước về việc bảo vệ các thường dân trong thời kỳ chiến tranh; và Nghị định thư (số I) bổ sung các Công ước nêu trên về bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế). Theo quy định tại Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thì: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cơ quan nhà nước hữu quan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”[16]; theo thông lệ quốc tế thì các nước tham gia các Công ước Gieneve ngày 12/8/1949 đều quy định là tội phạm quân sự đối với những hành vi vi phạm những điều cấm của các Công ước nêu trên (như Liên bang Nga và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa…). Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản trong khu vực có chiến sự không những thể hiện trách nhiệm pháp lý của Nhà nước ta trong việc tham gia các Công ước quốc tế nêu trên mà còn có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa tội phạm. Do vậy, chúng tôi đề nghị cần tội phạm hoá hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản trong khu vực có chiến sự. Theo đó, tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản trong khu vực có chiến sự là hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có hoạt động quân sự. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

Điều... Tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự

1. Người nào cố ý gây thương tích, giết hại, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của dân thường trong khu vực có chiến sự gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt…”

(còn nữa)

 

 


 

[1] Xem: Luật Dân quân tự vệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 29-32.

[2] Xem: Tòa án nhân dân tối cao, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 6.

[3] Xem: Bộ Quốc phòng, Điều lệnh quản lý bộ đội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 14.

[4] Xem: GS. TS. Ãmetsina  X.M, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Liên bang Nga (Bảng tiếng Nga), Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1986, tr 14.

[5] Xem: Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr 356.

[6] Xem: ThS. Mai Bộ, Trách nhiệm hình sự đối với hành vi làm nhục, hành vi và dùng nhục hình đối với đồng đội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24/2008, tr 27.

[7] Xem: Tòa án nhân dân tối cai, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 10-11.

[8] Xem: Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) dịch,  Hà Nội, 1999, tr 76-77.

[9] Xem: Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) dịch,  Hà Nội, 1999, tr 68-70.

[10] Xem: Bộ luật hình sự nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga năm (Bản tiếng Nga), Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1987, tr 130-138.

[11] Xem: Tòa án nhân dân tối cai, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 9.

[12] Xem: Tòa án nhân dân tối cai, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 11.

[13] Xem: Bộ Ngoại giao Việt Nam cộng hòa, Công ước Geneve ngày 12/8/1949, Sài Gòn, 1968, tr 71-72.

[14] Xem: Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) dịch,  Hà Nội, 1999, tr 70.

[15] Xem: Bộ luật hình sự nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga năm (Bản tiếng Nga), Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1987, tr 438.

[16] Xem: Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 23.

Nguồn: http://toaan.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi