So sánh quy định về án treo giữa Bộ luật hình sự Đức và Bộ luật hình sự Việt Nam

ĐỖ MẠNH QUANG - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Án treo là một trong những quy định thể hiện tính nhân đạo trong Bộ luật Hình sự (BLHS). Trong bài viết này, tác giả so sánh quy định về án treo giữa BLHS Đức và BLHS Việt Nam.

Giống nhau: Cả hai BLHS Đức và Việt Nam đều có quy định về án treo trong Bộ luật Hình sự. Trong đó, quy định rất rõ về căn cứ, điều kiện cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách… Tuy nhiên, bên cạnh những điểm giống nhau thì quy định về án treo của Việt Nam và Cộng hoà Liên bang Đức vẫn có nhiều điểm khác biệt.

Khác nhau:

Căn cứ cho hưởng án treo: Theo quy định tại Điều 60 BLHS Việt Nam có bốn căn cứ là: Mức phạt tù không quá ba năm; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. Nhưng Điều 56 BLHS Đức quy định nhiều căn cứ: Hình phạt tù không quá một năm; nếu thấy người bị kết án đã bị cảnh cáo và tương lai không phạm tội mới dù không bị tù; khi áp dụng án treo cần chú ý nhân thân người phạm tội, cuộc sống trước đây của họ, hoàn cảnh phạm tội, thái độ sau khi phạm tội, quan hệ xã hội và tác dụng chờ đợi ở người được hưởng án treo. Đối chiếu quy định trong Bộ luật Hình sự của hai quốc gia ta thấy: Căn cứ để được hưởng án treo của BLHS Đức quy định chặt chẽ hơn Việt Nam. Cụ thể:

Về mức phạt tù, BLHS Việt Nam quy định là không quá 3 năm (36 tháng) nhưng BLHS Đức quy định là không quá 1 năm (12 tháng), trường hợp đặc biệt có thể hình phạt tù không quá 2 năm. Theo đó, chỉ người người phạm tội ở Đức có mức phạt tù không quá một năm, cộng với các điều kiện khác mới có thể được xem xét cho hưởng án treo. Quy định này là chặt chẽ, khắt khe, đã thu hẹp đối tượng được hưởng án treo hơn quy định của BLHS Việt Nam.

Về nhân thân người phạm tội, cả hai bộ luật quy định là giống nhau, đều quy định phải xem xét đến nhân thân người phạm khi quyết định cho người phạm tội được hưởng án treo hay không được hưởng án treo.

Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định có căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ nhưng BLHS Đức lại không quy định. Theo ý kiến của tác giả, các tình tiết giảm nhẹ đã được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt thì không nên xem xét tiếp để cho hưởng án treo. Nếu xem xét hai lần một tình tiết giảm nhẹ dễ dẫn đến việc lạm dụng của Thẩm phán.

Về căn cứ nếu thấy người bị kết án đã bị cảnh cáo và (cơ sở để tin) tương lai không phạm tội mới dù không bị tù. Đây là căn cứ không được quy định trong BLHS Việt Nam. Có thể nói, đây là quy định rất chặt chẽ, hạn chế Thẩm phán tuỳ nghi áp dụng án treo mặc dù có đã có đủ điều kiện để bị cáo được hưởng án treo. Quy định này đòi hỏi Thẩm phán phải cân nhắc các tình tiết của vụ án, người phạm tội để đưa ra dự báo trong tương lai người phạm tội không phạm tội mới thì mới có thể cho hưởng án treo. Thẩm phán cân nhắc tình tiết này phải có thái độ công tâm, khách quan, toàn diện để đưa ra quyết định chính xác. Theo ý kiến của tác giả, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nên tiếp thu các quy định của BLHS Đức, để tăng cường trách nhiệm cho Thẩm phán khi áp dụng án treo. Để làm được điều đó cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhưng quan nhất là nhanh chóng đào tạo đội ngũ Thẩm phán có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, vững vàng chuyên môn, nghiệp vụ.

Ngoài ra, theo quy định của BLHS Đức thì Thẩm phán phải cân nhắc rất nhiều tình tiết để cho bị cáo được hưởng án treo như: Cuộc sống trước đây của họ, hoàn cảnh phạm tội, thái độ sau khi phạm tội, quan hệ xã hội và tác dụng chờ đợi ở người được hưởng án treo. Đây là những quy định không được quy định trong BLHS Việt Nam. Cuộc sống trước đây của họ là cuộc sống của bị cáo trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, giúp cho Thẩm phán tìm hiểu thêm về nguyên nhân đưa bị cáo đến việc thực hiện tội phạm và các tình tiết có liên quan khác. Hoàn cảnh phạm tội là trường hợp dẫn, đưa đẩy bị cáo đến việc thực hiện tội phạm. Nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do hoàn cảnh khó khăn khách quan hay do người thứ ba mang đến thì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là không đáng kể và ngược lại. Thái độ sau khi phạm tội có thể bồi thường thiệt hại, có thể là ăn năn, hối lỗi hay thái độ hống hách, chống đối, bất hợp tác gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án đối với cơ quan pháp luật. Quan hệ xã hội và tác dụng chờ đợi ở người được hưởng án treo là các mối quan hệ của bị cáo đối với gia đình, đồng nghiệp, hàng xóm, cơ quan nhà nước… được thể hiện tốt hay xấu. Toàn bộ những căn cứ trên giúp cho Thẩm phán (Hội đồng xét xử) ban hành quyết định áp dụng hay không áp dụng án treo một cách chính xác.

Tại Điều 60 BLHS Việt Nam quy định nếu xét thấy… là quy phạm còn rất tuỳ nghi. Căn cứ vào tiêu chí nào? Đánh giá tính chất mức độ thế nào là cần thiết? Đó là những điều rất cần được quy định lại hoặc cần được huỷ bỏ trong BLHS Việt Nam.

Thời gian thử thách của án treo: Về thời gian thử thách của án treo giữa BLHS Đức và BLHS Việt Nam quy định khác nhau. Nếu như khoản 1, Điều 60 BLHS Việt Nam quy định “… thời gian thử thách từ một đến năm năm” thì Điều 56a. Bộ luật Hình sự Đức quy định “Toà án quyết định thời gian thử thách của án treo là không quá năm năm và không dưới hai năm”. Như vậy, thời gian thử thách của án treo trong BLHS Đức quy định chặt chẽ hơn trong BLHS Việt Nam. Thể hiện ở mức tối thiểu của thời gian thử thách là hai năm so với một năm của Việt Nam. Điểm tiến bộ của BLHS Đức trong quy định thời gian thử thách của án treo là thời gian bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo được quy định ngay trong BLHS “Thời gian thử thách bắt đầu từ khi bản án cho hưởng án treo có hiệu lực”. Trái lại, BLHS Việt Nam không quy định thời gian bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo, thời gian bắt đầu thời gian thử thách của án treo được hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật, nhưng sự hướng dẫn cũng không thống nhất với nhau. Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 quy định về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo “Thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành án và trích lục bản án” và Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18/10/1990 lại hướng dẫn “Thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo”. Hai hướng dẫn này đã gây khó khăn cho việc thi hành án treo trên thực tế. Do đó, Nghị quyết số 01/2007/HĐTP đã hướng dẫn là thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo, trên thực tế hiện nay đều thống nhất thực hiện theo hướng dẫn này. Theo ý kiến của tác giả thì nên quy định ngay trong BLHS như của Cộng hoà Liên bang Đức là về thời gian thử thách của án treo chặt chẽ với quy định của BLHS Việt Nam.

Về nghĩa vụ mà người được hưởng án treo phải thực hiện. Theo quy định của BLHS Đức, việc giao nghĩa vụ cho người được hưởng án treo là rất cần thiết để quản lý, thấy được sự tiến bộ của người được hưởng án treo. Là nghĩa vụ bằng khả năng của mình khắc phục hậu quả đã gây ra; nộp tiền vào công quỹ hoặc cho cơ sở phục vụ hoạt động công cộng; các đóng góp công ích khác... Trong BLHS Việt Nam không quy định nghĩa vụ của người được hưởng án treo, mà những nghĩa vụ này được quy định bằng văn bản dưới luật tại Điều 4 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 hướng dẫn thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.

Các quyết định áp đặt cho người được hưởng án treo: BLHS Việt Nam không quy định các quyết định áp đặt cho người được hưởng án treo. Trong khi đó, Điều 56c BLHS Đức quy định rất nhiều quyết định để Thẩm phán có thể lựa chọn áp dụng áp đặt cho người được hưởng án treo. Mục đích của quy định này là nhằm làm cho người được hưởng án treo thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trong thời gian được hưởng án treo. Đó là, Toà án có thể chỉ thị: Về chỗ ở, học tập, việc làm nghỉ ngơi hoặc kinh doanh; trình diện tại Toà án hoặc nơi khác; không giao thiệp với một số người hoặc một nhóm người nhất định có thể dẫn dắt vào việc phạm tội; không sở hữu, tàng trữ công cụ phương tiện nhất định có thể gây án; thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Chỉ thị sau khi có sự đồng ý của người bị kết án là: Chữa bệnh bắt buộc hoặc vào một cơ sở giáo dục; vào sống trong một ký túc xá.

Vấn đề giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách: Điều 56d BLHS Đức quy định rất rõ ràng: Nếu người được hưởng án treo chưa đủ 27 tuổi và hình phạt tự do của họ là trên 9 tháng thì Toà án có thể cử người trợ giúp trong thời gian thử thách. Trong khi đó, khoản 2 Điều 60 BLHS Việt Nam quy định rất chung chung không quy định trách nhiệm cụ thể: Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đó. Thực hiện quy định này người áp dụng tiếp tục phải nghiên cứu Nghị định số 61/2000/NĐ-CP. Như vậy, quy định của BLHS Đức chặt chẽ, toàn diện và cụ thể hơn BLHS Việt Nam.

Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo: Về vấn đề này, tại khoản 3 Điều 60 BLHS Việt Nam quy định: “Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ quyền hạn, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này”. Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo trong BLHS Việt Nam quy định rất chung chung. Là có thể phải chịu hình phạt bổ sung, nhưng hình phạt bổ sung cũng chỉ là hình phạt tiền; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Đối chiếu với Điều 56b BLHS Đức thấy quy định của BLHS Việt Nam rất hẹp. Bởi theo quy định tại Điều 56b BLHS Đức, Thẩm phán có thể ban hành 4 loại quyết định: 1- Bồi thường thiệt hại; 2- Trả một khoản tiền cho cơ sở dịch vụ công; 3- Lao động công ích và 4- Nộp một khoản tiền cho Nhà nước. Việc quy định mở rộng như vậy đã cho phép Thẩm phán có nhiều lựa chọn khi áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo. Theo ý kiến của tác giả, khi sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam cần tiếp thu để bổ sung quy định này.

Điều kiện thử thách và hậu quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách của án treo: Tại khoản 5 Điều 60 BLHS Việt Nam quy định “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định Điều 51 của Bộ luật này”. Ngày 30/10/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2000/NĐ-CP, về việc hướng dẫn thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo. Nhưng cả BLHS và Nghị định số 61/2000/NĐ-CP chỉ có duy nhất một quy định là bị án được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì bị án sẽ không được hưởng án treo. Tức là rơi vào trường hợp bị tước án treo chỉ có một căn cứ duy nhất là phạm tội mới trong thời gian thử thách. Nhưng Điều 56f BLHS Đức quy định rất rộng các căn cứ khi vi phạm nghĩa vụ thực hiện trong thời gian được hưởng án treo sẽ bị tước bỏ án treo là: 1- Trong thời gian thử thách phạm tội mới; 2- Không nghe lời người giúp đỡ, không tuân thủ các chỉ thị và có nguy cơ phạm tội mới; 3- Không thanh toán các khoản phạt. Như vậy, BLHS Đức quy định rộng hơn BLHS Việt Nam về căn cứ 2, 3. Đặc biệt là căn cứ có nguy cơ phạm tội mới, không nghe lời của người giúp đỡ là những căn cứ rất linh hoạt; các căn cứ này đe doạ người phạm tội bất cứ lúc nào cũng có thể bị tước bỏ án treo. Về hậu quả pháp lý của việc vi phạm thời gian thử thách của án treo trong BLHS Việt Nam quy định nặng hơn BLHS Đức. Bộ luật Hình sự Đức không quy định tổng hợp hình phạt đối với bị án được hưởng án treo lại phạm tội mới trong thời gian thử thách còn BLHS Việt Nam lại quy định vấn đề này.

Huỷ bỏ hình phạt: Vấn đề này BLHS Việt Nam không có quy định, thực tế thực hiện là hết thời gian thử thách mà bị án không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ được miễn chấp hành hình phạt tù mà Toà án đã tuyên trước đây. BLHS Đức quy định về vấn đề trên tại Điều 56g. Theo đó, khi hết thời gian thử thách mà Toà án không phải ra quyết định huỷ bỏ án treo thì Toà án ban hành quyết định huỷ hình phạt tù đã tuyên. Như vậy, BLHS Đức quy định chặt chẽ, hoàn thiện hơn BLHS Việt Nam.

Xét giảm thời gian thử thách. BLHS Đức không quy định xét giảm thời gian thử thách đối với án treo, trong khi đó BLHS Việt Nam quy định xét giảm thời gian thử thách đối với án treo tại khoản 4 Điều 60. Khi người bị kết án đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách, có nhiều tiến bộ thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục làm đề nghị để Toà án ban hành quyết định rút ngắn thời gian thử thách. Như vậy, BLHS Việt Nam thể hiện tính nhân đạo hơn BLHS Đức.

Án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt: Án treo áp dụng cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn và trường hợp đang chấp hành hình phạt tù chung thân. Vấn đề này được quy định rất chặt chẽ trong BLHS Đức. Tuy nhiên, BLHS Việt Nam lại không quy định vấn đề này.

Án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn: Đây là quy định rất khác so với BLHS Việt Nam. Quy định này cho phép Toà án có thể chuyển từ tù có thời hạn sang án treo khi bị án đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian nhất định. Tại Điều 57 BLHS Đức quy định: Toà án cho người đang chấp hành án tù hưởng án treo khi: Bị án đã chấp hành được 2/3 án tù (ít nhất là 2 tháng); bị án sẽ không phạm tội mới dù được tự do thì Toà án có thể cho hưởng án treo phần hình phạt còn lại khi bị án chấp nhận việc thay thế này. Khi quyết định cho hưởng án treo, Toà án phải xem xét nhân thân người phạm tội, quá khứ của họ, các tình tiết của tội phạm, thái độ người phạm tội trong trại giam, hoàn cảnh sống cũng như tác động đến tương lai của họ nếu áp dụng án treo. Thiết nghĩ, đây là quy định mà các nhà lập pháp Việt Nam nên nghiên cứu để có sự vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam; bởi hệ thống nhà trại giam ở Việt Nam đang quá tải “số người bị bắt giữ ngày càng tăng, trong khi cơ sở vật chất của các nhà tạm giam, trại giam vẫn vậy”(4). Bên cạnh đó, hàng năm chúng ta vẫn tiến hành xét đặc xá cho phạm nhân cải tạo tốt. Sau khi phạm nhân được hưởng đặc xá về với cộng đồng xã hội lại không có cơ chế nào quản lý đối với những phạm nhân như quản lý và giáo dục người được hưởng án treo. Nguy cơ tái phạm của những người này rất cao. Nên chăng, chúng ta thay dần đặc xá bằng chuyển đổi hình phạt tù thành án treo, sau khi bị án đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định.

Án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù chung thân: Đây cũng là quy định rất mới của BLHS Đức so với BLHS Việt Nam. Theo quy định tại Điều 57a BLHS Đức thì điều kiện để bị án chịu hình phạt tù chung thân được chuyển đổi sang án treo là: Đã chấp hành hình phạt tù được 15 năm; đã có kết quả cải tạo tốt; thoả mãn điều kiện của khoản 1, khoản 5 của Điều 57 (điều kiện cho hưởng án treo). Thời gian thử thách của trường hợp này là 5 năm. Ý kiến của tác giả về quy định này của BLHS Đức là rất nhân văn, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc. Nhưng trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay, chúng ta chưa có điều kiện để thực hiện quy định này nên không sửa đổi trong quy định của Bộ luật Hình sự về việc áp dụng án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù chung thân.

 (1) Đỗ Văn Chỉnh (2007), án treo và thực tiễn áp dụng án treo, Tạp chí Toà án nhân dân, số 7/2007.

(2) Nguyễn Thanh Tùng (2010) quy định về án treo và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Toà án nhân dân, số 24/2010.

(3) Báo Tiền phong ra ngày 04/12/2010, Nữ hoàng án treo.

(4)http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2004/06/3b9d40fe/

Nguồn: TCKS số 07/2012

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi