Góp ý về quy định tại Điều 51 và 288 (sửa đổi, bổ sung) Bộ luật TTHS năm 2003

Lê Đức Khanh

Một trong những mục đích, yêu cầu đặt ra cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 là, đảm bảo thực hiện tốt về quyền con người trong tố tụng hình sự và giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; hạn chế sảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Tuy nhiên, trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung BLTTHS lần này có nhũng vấn đề đang còn nhiều tranh cãi. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ tham gia góp ý kiến về Điều 51 và 288 (sửa đổi, bổ sung) để bạn đọc tham khảo.

1. Về Điều 51 (Bị can)

Tại điểm i khoản 2 (Bị can có quyền) của Phương án 2 quy định:

" Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật".

Theo chúng tôi, quy định như trên là không thực tế và thiếu tính khả thi. Bởi, "những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa" là toàn bộ hồ sơ vụ án, những quyết định tố tụng, lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu khác...Vậy, bị can thực hiện quyền " đọc, ghi chép và sao chụp" như thế nào đây? Trong vụ án có nhiều bị can, tài liệu nhiều, bị can thì yêu cầu "đọc", bị can khác lại đòi "ghi chép", "sao chụp"... thì Điều tra viên, Kiểm sát viên làm sao đáp ứng được "quyền" trên của họ? Chưa nói đến việc liên quan đến thời hạn điều tra, truy tố; những hồ sơ vụ án còn liên quan đến các vụ án khác; đến an ninh quốc gia và vấn đề bị can có thể thông cung hoặc trả thù những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng...

Đó là mới nói đến việc " đọc, ghi chép và sao chụp", còn sau khi "ghi chép và sao chụp" tài liệu bị can lưu giữ ở đâu? Nhà tạm giữ, trại tạm giam, ở nhà hay mang theo người?...Ai quản lý vấn đề này? Nó còn đảm bảo nguyên tắc bảo quản tài liệu mật hay không?

Do đó, quy định trên là không phù hợp, chúng tôi đề nghị không quy định điểm này như phương án 1.

2. Về sự có mặt của Điều tra viên

Những người tiến hành tố tụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 33 gồm:

" Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên..."

Luật quy định Điều tra viên là người tiến hành tố tụng. Nếu quy định như Phương án 1 của Điều 288 (mới) là:

"Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đã điều tra vụ án đến phiên tòa để làm rõ các tình tiết của vụ án, làm căn cứ cho việc ra bản án, quyết định đúng pháp luật".

Tại Hội nghị tham gia góp ý BLTTHS ở tỉnh T, đại diện Tòa án còn đề nghị quy định cả việc triệu tập Kiểm sát viên như quy định đối với Điều tra viên.

Quy định như vậy là đối với phiên tòa sơ thẩm, còn phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm...có lẽ phải triệu tập cả Thẩm phán đã xét xử vụ án đó. Thật là khó hiểu.

Trở lại việc triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa với tư cách gì? Bị hại, nhân chứng hay người có quyền lợi liên quan đến vụ án?...Nếu họ không đi thì có thể áp giải không?

Tóm lại, trong một vụ án Điều tra viên không thể  vừa là người tiến hành tố tụng lại là người tham gia tố tụng được. Những vấn đề bị can, bị cáo khai như: Điều tra viên ép cung, nhục hình...BLTTHS đã quy định cụ thể quyền khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải quyết những khiếu nại, tố cáo của họ, nên việc quy định "triệu tập Điều tra viên đã điều tra vụ án đến phiên tòa" như trên là trái luật, cần chấp nhận Phương án 2 là không quy định.

Nguồn: http://www.tapchikiemsat.org.vn (Trang tin điện tử Tạp chí Kiếm sát)

 

 



Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi