Hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam - Một số kiến nghị hoàn thiện

TS. Trịnh Quốc Toản - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Nhận thức chung về hình phạt tử hình 

Tử hình là một loại hình phạt truyền thống, có từ lâu đời. Thuật ngữ hình phạt tử hình có tên tiếng Anh là “death penalty” hay là “capital punishment”. Capital có nguồn gốc từ tiếng Latin là capitalis, trong đó có gốc của từ kaput, có nghĩa là đầu. “Capital punishment” có nghĩa là hình phạt mà khi áp dụng, người bị áp dụng sẽ bị mất đầu, tức là tước bỏ quyền sống của một người. Trong tiếng Pháp hình phạt này có tên  “peine de mort” hay còn gọi là “peine capitale”; trong tiếng Đức nó có tên gọi là “todesstrafe”. Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Hình phạt tử hình được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định. 

Hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan. Nó là phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó. Tội phạm đe dọa sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứng một cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội. Là một loại hình phạt, nên hình phạt tử hình cũng như các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, có những đặc điểm chung, như: Là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước; được quy định trong pháp luật hình sự; được Tòa án áp dụng theo một trình tự tố tụng chặt chẽ, công bằng đối với người bị kết án. Tuy nhiên, với tư cách là một hình phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những đặc điểm riêng, đó là: Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, nó tước đi quyền sống của người bị kết án, vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt để từ phía người bị kết án. Hình phạt này không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ; Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong phòng ngừa chung; Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư pháp. 

2. Những quy định về hình phạt tử hình từ khi pháp điển hóa Luật Hình sự Việt Nam lần thứ nhất (năm 1985) đến nay 

2.1. Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1985 

Trong Bộ luật Hình sự này, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng hình phạt tử hình được quy định rõ tại Điều 27. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi. 

Trong Phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985, hình phạt tử hình được quy định trong 29 điều luật, chiếm 14,89% trên tổng số 195 điều luật về tội phạm. Ngày 28/12/1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định thêm 4 hành vi phạm tội về ma túy trong Điều 96a, có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định hình phạt tử hình đối với các tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 157); Tội nhận hối lộ (Điều 226). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 22/12/1992 đã quy định hình phạt tử hình đối với Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/5/1997 đã bổ sung thêm 06 điều luật quy định các tội: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 185e); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m) vào danh mục các tội phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Đồng thời, nhà làm luật cũng tách Điều 96a ra thành 4 điều luật mới (các điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này. Điều 112 quy định tội hiếp dâm cũng được tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a) và cũng vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này. 

Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 1985, sau 4 lần sửa đổi, bổ sung đã quy định hình phạt tử hình trong 44 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ 20,37% trên tổng số 216 điều luật về tội phạm. 

2.2. Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999

Nếu như trong những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985, đường lối xử lý nghiêm khắc hơn đã được thể hiện bằng việc tăng cường hình phạt tử hình trong thực tiễn pháp luật, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có sự mềm hóa (phi hình sự hóa), bằng việc quy định thu hẹp và xác định rõ ràng phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt này. Thể hiện cụ thể như sau: 

a. Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999: 

Theo Điều 35 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định về hình phạt tử hình có những nội dung mới như sau: 

Thứ nhất, hình phạt tử hình được coi là một loại hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, trong khi Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. 

Thứ hai, ngoài hai đối tượng đã được Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định không áp dụng hình phạt tử hình: Người chưa thành niên phạm tội và phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định bổ sung là không áp dụng hình phạt này đối với các đối tượng là phụ nữ đang nuôi con (bao gồm cả con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. 

Thứ ba, trong khi Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi chỉ được hoãn thi hành phạt tử hình, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân. 

Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đối với người phạm tội chưa đạt, chỉ có thể áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, Bộ luật Hình sự năm 1985 không có quy định này. 

Thứ năm, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mới là trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. 

Thứ sáu, Bộ luật Hình sự năm 1999 bỏ quy định “chỉ trong trường hợp đặc biệt có luật quy định riêng hình phạt tử hình được thi hành ngay sau khi tuyên”.

b. Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự năm 1999 

Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt tử hình không còn được áp dụng đối với các tội phạm sau: Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81), Tội chống phá trại giam (Điều 90), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143), Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154), Tội buôn bán hàng giả không phải là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Điều 156 và 158), Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200), Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230), Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 280), Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324). 

2.3. Hình phạt tử hình theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông qua ngày 19/6/2009 

Theo Luật này, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều quy định về hình phạt tử hình, cụ thể như sau: Bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm: Hiếp dâm (Điều 111), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội buôn lậu (Điều 153), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), Tội chiếm đoạt máy bay, tầu thủy (Điều 221), Tội đưa hối lộ (Điều 289), Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334). Đối với các tội phạm này hình phạt nghiêm khắc nhất được áp dụng là hình phạt tù chung thân. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 bổ sung thêm tội khủng bố (Điều 230a) quy định hình phạt nặng nhất áp dụng với tội này là tử hình. 

Như vậy, hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi năm 2009) chỉ còn quy định ở 22 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ hơn 8% điều luật về tội phạm. 

3. Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao trong 15 năm (trừ các năm 2003 và năm 2004 không có số liệu thống kê), tổng số bị cáo bị Tòa án các cấp xét xử sơ thẩm bị tuyên phạt tử hình là 2.600 bị cáo. 

Phân tích tình hình xét xử sơ thẩm áp dụng hình phạt tử hình trong 8 năm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985, từ năm 1993 đến năm 2001 cho thấy, Tòa án các cấp đã áp dụng hình phạt tử hình đối với 1.179 bị cáo. Số bị cáo bị tử hình có xu hướng tăng nhanh trong 8 năm, trong đó tăng mạnh nhất là từ năm 1997, kể từ khi áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1997. Nếu lấy tổng số bị cáo bị tử hình năm 1993 là 100%, thì số bị cáo bị tử hình năm 1997 là 170,5% và đến năm 2000 đã tăng lên đến 218,9%. Nguyên nhân của hiện tượng này: Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1997 đã bổ sung thêm 6 điều luật quy định hình phạt tử hình; Thứ hai, các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà điều luật về tội phạm đó có quy định hình phạt tử hình cũng tăng mạnh, đặc biệt là các tội phạm về ma túy, gây ra những hậu quả tác hại rất lớn cho lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân.

Phân tích tình hình xét xử sơ thẩm áp dụng hình phạt tử hình trong 8 năm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999, từ năm 2001 đến năm 2010 cho thấy, Tòa án các cấp đã áp dụng hình phạt tử hình đối với 1.421 bị cáo. Trong tổng số 29 điều luật về tội phạm có quy định hình phạt tử hình, thì trong thực tiễn xét xử chỉ có 13 loại tội phạm được thực hiện mà bị cáo bị phạt tử hình, đó là các tội: Tội giết người, Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm trẻ em, Tội cướp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, Tội buôn lậu, Tội buôn bán hàng giả, Tội làm, tàng trữ và lưu hành tiền giả, Tội làm, tàng trữ và lưu hành séc giả, Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.  

Trong đó các tội phạm giết người, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy, Tội hiếp dâm trẻ em là những loại tội phạm xảy ra nhiều và cũng là loại tội phạm bị áp dụng hình phạt tử hình nhiều nhất. Thống kê cho thấy, tổng số bị cáo phạm tội giết người bị tử hình là 789 bị cáo, chiếm 55,5% trên tổng số 1.421 bị cáo bị tử hình trong 8 năm (2001-2010); Tổng số bị cáo phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy là 569 bị cáo, chiếm 40,04%; Phạm tội hiếp dâm trẻ em có 25 bị cáo bị tử hình, chiếm 1,76%; Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có 16 bị cáo bị tử hình, chiếm 1,12%. Còn đối với các trường hợp phạm các tội phạm khác, hình phạt tử hình áp dụng rất hạn chế.

Nghiên cứu thực tiễn tình hình áp dụng hình phạt tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho thấy, trong 8 năm từ năm 2001 đến năm 2010, hình phạt từ hình được áp dụng trong các năm tăng giảm thất thường, nhưng nhìn chung vẫn còn cao và nếu so với những năm áp dụng hình phạt tử hình theo Bộ luật Hình sự năm 1985 thì có thể nói là tăng rất mạnh. Nhận định này được lý giải ở hai khía cạnh: Thứ nhất, ở thực tiễn pháp luật, Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định hình phạt tử hình ở 44 điều luật về tội phạm trong khi đó Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định hình phạt này ở 29 điều luật (đã xóa bỏ hình phạt tử hình trong 15 điều luật về tội phạm); Thứ hai, ở thực tiễn áp dụng, mặc dù hình phạt tử hình được xóa bỏ đối với nhiều tội phạm như vậy, nhưng theo thống kê xét xử cho thấy, 8 năm (1993-2000) áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985 có tổng số 1.179 bị cáo bị áp dụng hình phạt tử hình (100%) thì hình phạt này được các Tòa án sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo trong 8 năm (2001-2010) áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 là 1.421 bị cáo chiếm 120,5%. Điều này có thể lý giải ở thực trạng tội phạm trong các năm qua diễn biến phức tạp, các loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm, có tổ chức, xuyên quốc gia có chiều hướng tăng mạnh… Vì vậy, cần phải áp dụng chính sách xử lý cứng rắn, trừng trị nghiêm khắc với các loại tội phạm này, không loại trừ cả việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất là loại bỏ người phạm tội vĩnh viễn khỏi xã hội.

Tóm lại, trên cơ sở phân tích tình hình áp dụng hình phạt tử hình trong 16 năm từ năm 1993 đến năm 2010 có thể rút ra một số nhận định sau:

- Nhìn chung, hình phạt tử hình được áp dụng có xu hướng tăng mạnh, nhất là kể từ khi áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999;

- Hình phạt tử hình áp dụng chủ yếu đối với các tội phạm giết người, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các chất ma túy; hiếp dâm trẻ em, lừa đảo chiếm đoạt tài sản...

- Đối với những tội phạm mặc dù hàng năm bị áp dụng hình phạt tử hình nhiều nhất, nhưng tình hình tội phạm đó trong thực tiễn vẫn có xu hướng tăng nhanh...  

- Phân tích số liệu các tội phạm bị áp dụng hình phạt tử hình từ năm 1993 đến 2010 với danh mục các điều luật về tội phạm có quy định hình phạt tử hình, cho thấy, những trường hợp phạm các tội sau đây trong thực tiễn không bị áp dụng hình phạt tử hình: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Tội phản bội tổ quốc; Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; Tội bạo loạn; Tội hoạt động phỉ; Tội phá hoại cơ sở vật chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Tội chống mệnh lệnh; Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; các tội phạm quốc tế. 

Thực tiễn xét xử hình sự là một phần của cấu trúc chung của pháp luật hình sự, vì nó là sự thể hiện các quy định của pháp luật hình sự trong thực tiễn hay nói cách khác, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự là hình thức sống của quy phạm pháp luật hình sự. Tính hợp lý và hiệu quả của quy phạm pháp luật hình sự (trong đó có cả hình phạt) được kiểm chứng và đánh giá qua thực tiễn xét xử. Các yếu tố thuộc về xây dựng hệ thống hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng chỉ có nghĩa thực tiễn khi hình phạt được quyết định đúng và bảo đảm tốt việc chấp hành hình phạt. Chính vì thế, thực tiễn xét xử áp dụng hình phạt tử hình nêu trên là cơ sở đánh giá một cách toàn diện những ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế của các quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự để từ đó đề xuất những kiến nghị khả thi nhằm hoàn thiện chế định này. 

4. Một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện chế định hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam 

Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của Nhà nước, tước đi quyền quan trọng và thiêng liêng nhất của con người, đó là quyền sống. Xuất phát từ quan điểm hình phạt tử hình (cho dù thể thức thi hành nó trong thực tế như thế nào cũng là một hình phạt dã man, phi luân lý, vô ích, không có tác dụng răn đe người phạm tội). Việc duy trì hình phạt này không có tác dụng làm giảm tội phạm, kể cả các tội đặc biệt nghiêm trọng (bởi vì, tình trạng phạm tội đã không tăng lên trong các nước sau khi đã bị xóa bỏ loại hình phạt này), không sửa chữa được trong trường hợp có sai lầm về tư pháp, nên nhiều quốc gia đã và đang nghiên cứu loại bỏ hình phạt này và thay thế bằng các hình phạt khác. Cho đến nay, có rất nhiều nước (trong đó có toàn bộ các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu) đã loại bỏ hình phạt này đối với không chỉ các tội phạm theo luật chung, mà còn với cả các tội phạm chính trị, quân sự và tội phạm quốc tế. Mặc dù vậy, loại hình phạt này vẫn còn được duy trì trong pháp luật hình sự của nhiều nước, trong đó có nhiều tiểu bang ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng hình phạt này cần phải căn cứ vào đặc điểm và điều kiện cụ thể của mỗi nước. ở Việt Nam, tử hình vẫn được coi là hình phạt cần thiết và cần phải có nhằm trừng trị những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo đảm cho an ninh và trật tự an toàn xã hội, tức là loại hình phạt này vẫn có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa tội phạm và bảo vệ hữu hiệu lợi ích công cộng. Việc áp dụng đúng đắn hình phạt tử hình được dư luận đồng tình ủng hộ. 

Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế, đồng thời với yêu cầu cải các tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, đòi hỏi cấp thiết là phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự với việc bảo đảm các quyền con  người, nhân đạo hóa các biện pháp trừng trị hình sự, phù hợp với điều kiện phát triển và đạo đức của người Việt Nam. Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trung tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã quán triệt: Các bộ, ngành có liên quan cần xem xét hai vấn đề lớn là hình thức thi hành án tử hình và hạn chế số lượng hình phạt tử hình trong cơ cấu hình phạt của Bộ luật Hình sự”. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm trên về hình phạt tử hình. 

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn khách quan và trên cơ sở quán triệt đường lối chính sách hình sự của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các nghị quyết nêu trên, Chính phủ đã trình Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII. Dự thảo này đã đề nghị chỉ giữ lại 12 điều luật quy định về tội phạm và hình phạt trước đây có quy định hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội phạm đó là tử hình, nay chuyển xuống thành chung thân. Tuy vậy, như chúng ta đã biết, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông qua ngày 19/6/2009. Theo Luật này, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều quy định về hình phạt tử hình, nhưng vẫn duy trì hình phạt này đối với các tội phạm được quy định trong 22 điều luật về tội phạm.

Trên cơ sở những luận điểm về mặt lý luận, cũng như căn cứ vào thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt này, chúng tôi cho rằng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội Khóa XII thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, liên quan đến chế định hình phạt tử hình, vẫn còn có những tồn tại nhất định, cần tiếp tục hoàn thiện: 

Thứ nhất, theo chúng tôi vẫn cần thiết duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự nước ta, nhưng nên cân nhắc tiếp tục loại bỏ hình phạt này đối với một số tội phạm khác, trong đó, bao gồm cả những tội phạm mà trong thực tiễn xét xử từ năm 1993 đến năm 2010 đã không bị áp dụng hình phạt tử hình (đã xóa bỏ trong thực tiễn áp dụng), đó là: Tội phá hoại cơ sở vật chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 85); Tội cướp tài sản (Điều 133); Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193); Tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy (Điều 194); Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231).

Thứ hai, chúng ta đều biết, các chế định trong pháp luật hình sự không tách rời nhau, luôn tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Điều này tất yếu dẫn tới việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự phải đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất. Nếu chỉ nhấn mạnh đến việc điều chỉnh một mặt nào đó của chế định này sẽ làm giảm đi hiệu lực và hiệu quả của nó. Đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chế định của pháp luật hình sự, trong đó có chế định hình phạt tử hình cũng phải tiến hành hoàn thiện đồng bộ, thống nhất các pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm của nước ta. Bên cạnh đó, hoàn thiện chế định hình phạt “cần phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời nhưng phải có tính đồng bộ. Khi có đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung một vấn đề cần phải cân nhắc hướng sửa đổi, bổ sung không tạo ra sự bất hợp lí mới”. 

Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự khi loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm nào đó lại chưa tính đến các biện pháp cưỡng chế để thay thế, để đảm bảo phòng ngừa triệt để sau này. Theo chúng tôi có hai phương án: (1) Khi loại bỏ hình phạt tử hình với một loại tội nào đó nhà làm luật nên nghiên cứu thay thế bằng hình phạt khác, thông thường đó là hình phạt tù chung thân không được giảm án, chứ không phải là hình phạt tù chung thân thông thường; (2) Nếu coi quy định như vậy là trái với chính sách nhân đạo hóa luật hình sự, có nghĩa là vẫn cho người bị kết án chung thân về loại tội phạm đó được hưởng các chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc đặc xá thì cần quy định “thời kỳ an toàn”, hoặc phóng thích có điều kiện (như một số nước đang áp dụng), tức là khi áp dụng những biện pháp trên đối với người bị kết án, thì họ buộc phải thực hiện những điều kiện (nghĩa vụ) trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự giám sát và trợ giúp của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, nhằm tạo thuận lợi cho họ cải tạo và tái hòa nhập xã hội.

Thứ ba, một vấn đề nữa khi quy định cũng như khi xóa bỏ một loại hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng đối với một loại tội phạm nào đó thì cũng phải đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất, chứ không được làm có tính chất cục bộ. Đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ này không chỉ liên quan đến hình phạt chính mà bao hàm cả hình phạt bổ sung. Liên quan đến việc quy định hình phạt bổ sung, chúng tôi nhận thấy, Luật sửa đổi, bổ sung vẫn có sự tồn tại bất hợp lý. Ví dụ: Theo quan niệm của nhà làm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197) là ít nghiêm trọng hơn so với tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 194), nên đã quyết định xóa bỏ hình phạt tử hình với tội này. Thế nhưng, khi xóa bỏ hình phạt tử hình, nhà làm luật lại không chỉnh sửa lại chế tài hình phạt bổ sung của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên dẫn đến tình trạng chế tài hình phạt bổ sung xác định tương đối và chế tài hình phạt bổ sung lựa chọn trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy lại có mức độ nghiêm khắc cao hơn rất nhiều so với tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194. 

Thứ tư, hạn chế tiếp theo thể hiện rất rõ sự không đồng nhất, sự không toàn diện, sự không nhất quán trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 là khi điều chỉnh chế định hình phạt tử hình trong các điều luật về tội phạm ở Phần các tội phạm, lại không sửa đổi, bổ sung chế định này trong Phần chung của Bộ luật Hình sự.

Theo chúng tôi, cần phải sửa đổi, hoàn thiện Điều 35 quy định về hình phạt tử hình. Điều luật này còn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý đầy đủ về khái niệm pháp lý của hình phạt tử hình, cũng như chưa quy định hoặc quy định chưa đầy đủ và rõ ràng về nội dung cưỡng chế, giới hạn (phạm vi) và điều kiện áp dụng hình phạt này; Về đối tượng áp dụng hình phạt tử hình, còn có hạn chế chưa thể hiện được tận cùng của nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự; Bộ luật Hình sự cần quy định không áp dụng hình phạt này với cả người già từ 70 tuổi trở lên, người mắc bệnh hiểm nghèo nguy hiểm đến tính mạng. Đồng thời, sửa đổi lại khoản 3 Điều 52 là “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng…”, có nghĩa là, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội chưa đạt. 

Ngoài ra, chúng tôi cho rằng, pháp luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành luật trong hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cho nên, việc hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung và hoàn thiện chế định hình phạt tử hình nói riêng cần phải tiến hành đồng thời với việc cải cách hệ thống tư pháp hình sự và đổi mới một cách đồng bộ, thống nhất các chế định thuộc pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự của nước ta. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng để lại hoặc tạo ra những lỗ hổng, khoảng trống, không được pháp luật điều chỉnh, hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến các yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Vì thế, bất cứ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nào liên quan đến chế định hình phạt tử hình cũng phải đi liền với việc nghiên cứu, rà soát, đối chiếu với các đạo luật có liên quan. Nói cách khác, hệ thống các quy định về hình phạt tử hình phải được hoàn thiện đồng bộ với các pháp luật có liên quan, nhất là với pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự. 

Tài liệu tham khảo:

(1). Theo Báo cáo công tác Ngành Tòa án năm 2002 và phương hướng nhiệm vụ công tác tòa án năm 2003 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật ngày 01/7/2000. Số vụ án hình sự xảy ra trước ngày 1/7/2000 hầu như đã được giải quyết trong năm 2000. Các vụ án hình sự được giải quyết trong năm 2001 chủ yếu là các vụ án xảy ra sau ngày 1/7/2000, có nghĩa là, Toà án các cấp đều áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 để giải quyết.

Nguồn: http://www.moj.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi