Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về hệ thống hình phạt và quyết định hình phạt.

TS Phạm Mạnh Hùng - Hiệu trưởng trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Tạp chí Kiểm sát số 4 năm 2001.

Bộ luật hình sự năm 1999, trên cơ sở kế thừa Bộ luật hình sự năm 1985 đã có những sửa đổi cơ bản, toàn diện, thể hiện chính sách hình sự mới của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đồng thời cũng thể hiện bước tiến bộ mới trong kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta.

Bên cạnh những ưu khuyết điểm rất cơ bản trong các quy định về hệ thống hình phạt và quyết định hình phạt của Bộ luật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985, qua nghiên cứu Bộ luật hình sự năm 1999 chúng tôi nhận thấy các quy định về hệ thống hình phạt và quyết định hình phạt của Bộ luật hình sự vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục được xem xét để hoàn thiện. Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày quan điểm của mình về những hạn chế này và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện.

1. Về hình phạt tiền

Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật hình sự (BLHS) có ý kiến cho rằng điều 30 BLHS quy định hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với tất cả các tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính. Còn một số tội khác, có thể không thuộc các nhóm tội phạm trên, hoặc là những tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng thì phải được Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền mới được phép áp dụng hình phạt tiền. Tương tự như vậy đối với hình phạt bổ sung.

Theo chúng tôi, ý kiến trên chưa chính xác, không thể hiện được thực chất giới hạn phạm vi áp dụng hình phạt tiền. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta từ trước đến nay đã xác nhận chỉ trong trường hợp điều luật cụ thể phần các tội phạm của BLHS có quy định hình phạt tiền đối với tội phạm cụ thể nào đó thì Tòa án mới được quyết định hình phạt tiền (kể cả với tính cách là hình phạt chính và với tính cách là hình phạt bổ sung). Bởi vậy, để tránh những cách hiểu và vận dụng khác nhau chúng tôi cho rằng Điều 30 BLHS cần được sửa đổi theo hướng khẳng định rõ là hình phạt chỉ có thể được áp dụng hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với người phạm tội trong những trường hợp điều luật cụ thể trong các phần các tội phạm của BLHS có quy định hình phạt trên.

Quy định như vậy sẽ rõ ràng hơn, tránh được những cách hiểu khác nhau dẫn đến việc quyết định cả hình phạt tiền trong trường hợp điều luật không quy định hình phạt tiền, nhất là quan điểm sai lầm cho rằng vì hình phạt tiền là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù và cải tạo không giam giữ cho nên, khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Tòa án có thể áp dụng Điều 47 BLHS để quyết định chuyển từ hình phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ sang áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội ngay cả khi điều luật không quy định hình phạt tiền.

2. Về hình phạt trục xuất

   Bộ luật hình sự năm 1999 lần đầu tiên đã đưa biện pháp trục xuất vào với tính cánh vừa có thể là hình phạt chính vừa có thể là hình phạt bổ sung để áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội. Việc quy định này đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật vận dụng linh hoạt hơn các biện pháp xử lý hình sự để áp dụng đối với người phạm tội. Tuy nhiên, khi quy định về hình phạt trục xuất, điều 32 BLHS mới chỉ dừng lại ở việc quy định khái niệm thế nào là trục xuất, trong đó xác nhận đối tượng áp dụng là người nước ngoài phạm tội và quy định cho phép Tòa án có quyền tùy nghi trong việc áp dụng trục xuất là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể. Quy định như vậy, theo chúng tôi là không đầy đủ. Để tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật thống nhất kể cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quy định của Bộ luật hình sự cần phải nêu rõ điều kiện áp dụng hình phạt trục xuất, trong trường hợp nào thì có thể áp dụng trục xuất là hình phạt chính và trong trường hợp nào có thể áp dụng trục xuất là hình phạt bổ sung. Khó có thể áp dụng thống nhất khi trong điều luật chỉ quy định chung chung như vậy.

Mặc dù hình phạt trục xuất đã được quy định là một loại hình phạt trong hệ thống của BLHS nước ta, song các quy định khác liên quan đến hình phạt nói chung lại thiếu đi các quy định gắn với hình phạt trục xuất như các quy định về xóa án tích (Điều 64, 65 BLHS) về thời hiệu thi hành bản án (Điều 55 BLHS)… Không có lý người bị phạt trục xuất lại không được xóa án, không áp dụng thời hiệu thi hành bản án…

Từ những phân tích trên chúng tôi đề xuất cần quy định cụ thể các điều kiện áp dụng hình phạt trục xuất trong Bộ luật hình sự, trước khi có sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có hướng dẫn về điều kiện áp dụng loại hình phạt này để tránh việc áp dụng tùy tiện; Cần quy định bổ sung các quy định về thời hạn xóa án tích, thời hiệu thi hành bản án… đối với người bị kết án trục xuất.

3. Về hình phạt tù chung thân và tử hình.

Điều 34 và Điều 35 BLHS đều quy định điều kiện áp dụng các loại hình phạt này là áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 3 điều 8 BLHS tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Như vậy, cơ sở để nhà làm luật xác định tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là căn cứ vào tính chất gây nguy hại đặc biệt cho xã hội của tội phạm. Để cụ thể hóa tính chất nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội của tội phạm, nhà làm luật đã quy định mức cao nhất của khung hình phạt của tội đặc biệt nghiêm trọng là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Khi xác định tội phạm nào là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, người áp dụng pháp luật không phải xem xét tội phạm đó có gây hại đặc biệt lớn cho xã hội hay không mà chỉ cần xem mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng với tội ấy như thế nào? Có phải là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình hay không? (vì tính chất gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội của tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đã được nhà làm luật xác định khi làm luật).

Để áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội, điều tất nhiên là phải xác định được người phạm tội đã phạm một tội thuộc khung hình phạt có mức cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình.

Như chúng ta đã biết quy định hình phạt là một giai đoạn áp dụng pháp luật hình sự và có sau giai đoạn định tội, nghĩa là sau khi đã xác định được một người phạm tội gì? Theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự. Trước khi quyết định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, Tòa án đã phải xác định được khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình và do vậy, đương nhiên tội mà người đó thực hiện phải là tội đặc biệt nghiêm trọng (việc xác định này thuộc giai đoạn phạm tội). Vấn đề còn lại khi quyết định hình phạt là Tòa án phải chọn loại và mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội. Vì hình phạt tù chung thân và tử hình luôn luôn được quy định kèm theo với hình phạt tù có thời hạn. Do vậy, để áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người phạm tội, Tòa án không cần phải xem xét xem người đó có phạm tội đặc biệt nghiêm trọng không (Bởi vì điều này đã được xác định ở giai đoạn định tội) mà là trường hợp phạm tội của người đó có thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng đến mức buộc phải tước bỏ quyền sống của người đó (tử hình) hoặc tước bỏ tự do vĩnh viễn của người đó (tù chug thân) hay không? Nếu mặc dù người phạm tội phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng, có mức cao nhất của khung hiình phạt áp dụng đối với tội ấy là tù chung thân hoặc tử hình nhưng trường hợp phạm tội của người đó, do tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ, làm giảm đi đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, khiến cho trường hợp phạm tội thực tế đó không thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì Tòa án hoàn toàn có thể áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người đó. Như vậy, cơ sở để Tòa án quyết định hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân hay tử hình trong phạm vi một khung hình phạt không phải là người phạm tội có phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay không mà là ở chỗ trường hợp phạm tội của người phạm tội có thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng hay không. Chính vì vậy, theo chúng tôi, điều kiện áp dụng hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình quy định tại Điều 34 và Điều 35 Bộ luật hình sự năm 1999 nên được sửa đổi theo hướng thay cụm từ “áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” bằng cụm từ “áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” cho phù hợp.

4. Về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật.

Điều 47 Bộ luật hình sự quy định: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 46 Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trương hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác nhẹ hơn”. Quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 chính là sự kế thừa quy định tại khoản 3 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 đã từng quy định: “Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển ssang một hình thức khác thuộc loại nhẹ hơn”. Quy định này có ưu điểm là cho phép Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định mà không bị hạn chế về mức hình phạt quyết định so với khung hình phạt áp dụng. Với quy định này Tòa án có thể cân nhắc, đánh giá nhiều tình tiết để có thể lựa chọn được loại và mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quy định này cũng có nhược điểm là dễ bị lạm dụng để quyết định hình phạt quá nhẹ đối với người phạm tội so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

       Quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 có ưu điểm là tạo ra cơ sở pháp lý góp phần làm giảm bớt tình trạng quá lạm, tùy tiện của các cơ quan áp dụng pháp luật trong việc quyết định hình phạt. Song quy định này có nhược điểm là nếu sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong quá trình làm luật không chính xác, chế tài của từng tội phạm cụ thể quy định không khoa học, thiếu chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng “bó tay” các cơ quan áp dụng pháp luật và có thể dẫn đến tình trạng quyết định hình phạt quá nặng, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

       Ví dụ: Trong một vụ đồng phạm tham ô tài sản, những người đồng phạm đã chiếm đoạt tài sản có giá trị 600 triệu đồng. Trong số những người đồng phạm có người tham gia cùng với những người khác thực hiện tội phạm với vai trò là người trợ giúp sức và do bị lôi kéo, mức độ tham gia hạn chế. Sau khi phạm tội người này đã tự thú, thành khẩn khai báo, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp hậu quả của tội phạm… Về nguyên tắc, vì cùng tham gia chiếm đoạt tài sản trị giá 600 triệu đồng nên người này bị áp dụng khoản 4 Điều 278 Bộ luật hình sự có khung hình phạt là bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Vì có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự Tòa án đã áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với người đó để quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của khung hình phạt áp dụng (khoản 4). Thế nhưng nếu căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự thì Tòa án chỉ có thể quyết định hình phạt trong phạm vi khoản 3 điều 278 với khung hình phạt là phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm. Cho dù Tòa án quyết định mức tối thiểu của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 278 Bộ luật hình sự (15 năm tù) thì mức hình phạt đó vẫn quá nặng đối với người phạm tội, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiêm cho xã hội của hành vi phạm tội do người phạm tội thực hiện. Đây là vấn đề rất đáng được quan tâm giải quyết.

Theo quan điểm của chúng tôi, trong điều kiện Bộ luật hình sự chưa có sự phân hóa trách nhiệm hình sự cụ thể, chi tiết các tình huống có thể xảy ra ảnh hưởng đáng kể đến mức nguy hiểm cho xã hội (trong các khung hình phạt hầu như chúng ta chưa có những khung hình phạt giảm nhẹ đối với người chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với người giúp sức trong vụ án đồng phạm v.v…) thì không nên quá thu hẹp giới hạn tùy nghi áp dụng của các cơ quan áp dụng pháp luật như quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng Điều 47 Bộ luật hình sự cần được sửa đổi cho phù hợp hơn. Việc sửa đổi có thể theo các phương án sau: Phương án thứ nhất, bỏ đi cụm từ “nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn điều luật” trong Điều 47 Bộ luật hình sự.

Phương án thứ hai, vẫn giữ như quy định Điều 47 Bộ luật hình sự nhưng bổ sung một đoạn với tinh thần là: trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định mà không bị giới hạn ở khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

Cả hai phương án trên đều nhằm đảm bảo cho Tòa án có thể vận dụng linh hoạt các tình huống xảy ra trên thực tế để có thể quyết định hình phạt được một cách chính xác, công bằng.

5. Cùng với các quy định về điều kiện áp dụng các loại hình phạt, các căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt trong một số trường hợp đặc biệt ở phần chung Bộ luật hình sự, việc phân hóa trách nhiệm chính xác, khoa học ở các điều luật phần các tội phạm của Bộ luật hình sự cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo cơ sở cho việc quyết định hình phạt đúng. Khó có thể quyết định hình phạt đúng nếu như các chế tài của các điều luật phần các tội phạm của Bộ luật hình sự được quy định không công bằng, không phản ánh được sự phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện bước phát triển mới trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự. Song bên cạnh việc khẳng định những ưu điểm trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự cụ thể, rõ ràng hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985, đã đến lúc chúng ta cần xem xét lại các chế tài quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, xác định những điểm bất hợp lý, không phù hợp để sửa đổi. Không thể nói đến sự công bằng khi cùng một tình huống một người buôn bán hàng cấm với số lượng lớn trong nội địa thì bị xét xử về tội buôn bán hàng cấm, bị áp dụng khung hình phạt ở mức hình phạt cao nhất là năm năm tù (tội nghiêm trọng) (khoản 1 Điều 155 BLHS). Trong khi đó buôn bán hàng cấm với số lượng lớn qua biên giới, bị xét xử về tội buôn lậu, nhưng chỉ bị áp dụng khung hình phạt có mức độ hình phạt cao nhất là ba năm tù (tội ít nghiêm trọng) (khoản 1 Điều 153 BLHS); Cũng không thể nói sự công bằng nếu một người đánh bạc có giá trị lớn hoặc đặc biệt lớn lại bị áp dụng khoản 2 Điều 248 BLHS có mức cao nhất của khung hình phạt là bảy năm tù. Trong khi đó người tổ chức cho người khác đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biết lớn lại chỉ có thể bị áp dụng khoản 1 Điều 248 BLHS, có mức hình phạt cao nhất là năm năm tù… Còn rất nhiều quy định không hợp lý, không công bằng như vậy trong các điều luật phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Những bất cập hợp lý này cần sớm được sửa đổi mới có thể tạo ra cơ sở để quyết định hình phạt đúng.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi