Một số vấn đề về pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và hệ thống tư pháp của CHLB Đức

TS. Phạm Mạnh Hùng

Tạp chí Kiểm sát số 01 năm 2010. 

Chúng ta đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình đó, cùng với việc tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật và đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp những năm qua để rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, thì việc nghiên cứu hệ thống pháp luật các nước, tham khảo kinh nghệm lập pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến một số vấn đề về pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của hệ thống các cơ quan Công tố và Tòa án Đức để nghiên cứu, tham khảo trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp ở Việt Nam.

1. Về pháp luật hình sự

Ở Đức, Bộ luật hình sự (BLHS) là nguồn chủ yếu quy định về tội phạm và hình phạt. Tuy nhiên, ngoài BLHS, một số văn bản khác cũng quy định về tội phạm và hình phạt như luật về vũ khí, luật về giám sát chiến tranh, luật về chất gây nghiện, luật về quản lý thuế...

Theo pháp luật hình sự Đức, tội phạm được chia ra thành hai loại là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có thể bị phạt tiền bằng 5 ngày lương tối thiểu trở lên hoặc bị phạt tù đến 1 năm. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có thể bị phạt tù từ trên 1 năm tù đến 15 năm tù hoặc tù chung thân.

Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người từ đủ 14 tuổi trở lên có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên phạm tội và họ chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm nghiêm trọng và trách nhiệm hình sự đối với họ nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội tương tự. Người phạm tội từ đủ 18 tuổi đến dưới 21 tuổi mặc dù là người đã thành niên nhưng họ là người mới trưởng thành, nhận thức của họ còn hạn chế nên khi phạm tội họ cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội từ đủ 21 tuổi trở lên.

Về hệ thống hình phạt, ở Đức từ năm 1949 đã bãi bỏ hình phạt tử hình. Hiện nay, hình phạt nặng nhất được quy định trong BLHS Đức là tù chung thân. Mức cao nhất của hình phạt tù có thời hạn có thể áp dụng đối với mỗi tội phạm là không quá 15 năm tù.

Về tổng hợp hình phạt, trong trường hợp một người phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc thu hút hình phạt. Theo đó, nếu các hình phạt mà Tòa án đã tuyên đều là tù có thời hạn thì khi tổng hợp hình phạt Tòa án không cộng toàn bộ các hình phạt mà chỉ thu hút một phần hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất và không quá 15 năm tù. Ví dụ, một người bị phạt tù về 2 tội, tội thứ nhất bị phạt 8 năm tù, tội thứ hai bị phạt 6 năm tù thì khi tổng hợp hình phạt Tòa án sẽ không cộng toàn bộ (8 + 6 = 14 năm tù) mà chỉ thu hút một phần hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng nhất đã tuyên, có thể Tòa án quyết định hình phạt sau khi tổng hợp là 11 hoặc 12 năm tù. 

Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, trong những năm gần đây, pháp luật hình sự của Đức cũng đã được sửa đổi, bổ sung. Đáng chú ý là đã bổ sung một số tội phạm mới trong lĩnh vực internet, máy tính như tội phá mã khóa, xâm nhập trái phép vào dữ liệu của người khác...; sửa đổi mức phạt tiền của hình phạt tiền; bổ sung các biện pháp có tính chất phòng ngừa đối với những đối tượng có nguy cơ tái phạm. Ví dụ, đối với những tội phạm có tính chất bạo lực, hiếp dâm trẻ em thì sau khi chấp hành xong hình phạt, người phạm tội có thể bị cách ly khỏi môi trường mà họ có thể tiếp tục phạm tội hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt, họ còn có thể bị áp dụng biện pháp giám sát đặc biệt một thời gian nhất định ...

2.Về hệ thống Toà án của Cộng hoà Liên bang Đức

 Hệ thống Toà án Cộng hòa Liên bang Đức được tổ chức chuyên môn hoá theo lĩnh vực xét xử và được chia ra 5 nhánh Toà án sau:

- Nhánh Toà án có thẩm quyền xét xử các vụ việc về dân sự và hình sự (gọi chung là nhánh Tòa án thông thường) với cơ quan xét xử cao nhất là Toà án Tư pháp Liên bang có trụ sở tại Karlsruhe và Leipzig. Toà án Tư pháp Liên bang có 127 Thẩm phán, được tổ chức thành 5 Hội đồng xét xử hình sự (4 Hội đồng xét xử đặt tại Karlsruhe, 1 Hội đồng xét xử (số 5) đặt tại Leipzig và 12 Hội đồng xét xử dân sự đặt tại Karlsruhe. Hội đồng xét xử hình sự số 3 chuyên xét xử giám đốc thẩm các vụ án của Toà án Cấp cao của bang.

- Nhánh Toà án Hành chính có thẩm quyền xét xử về các vụ việc liên quan đến các quyết định hành chính mà bị đơn là cơ quan nhà nước. Cơ quan xét xử cao nhất là Toà án Hành chính Liên bang có trụ sở tại Leipzig.

- Nhánh Toà án Tài chính có thẩm quyền xét xử các vụ việc khiếu kiện các quyết định của cơ quan Nhà nước về Thuế và Hải quan... với cơ quan xét xử cấp cao nhất là Toà án Tài chính Liên bang, có trụ sở tại Munich.

- Nhánh Toà án Lao động có thẩm quyền xét xử các vụ tranh chấp hợp đồng lao động giữa chủ với thợ hoặc với Công đoàn. Cơ quan xét xử cao nhất là Toà án Lao động Liên bang có trụ sở tại Erfurt.

- Nhánh Toà án Xã hội có thẩm quyền xét xử đối với các vụ kiện liên quan đến bảo hiểm xã hội. Cơ quan xét xử cao nhất là Toà án Xã hội Liên bang có trụ sở tại Kassel.

Tách biệt với 5 nhánh Toà án trên là Toà án Hiến pháp Liên bang – Toà án tối cao của Đức, được đặt tại Karlsruhe. Toà án Hiến pháp Liên bang là cơ quan xét xử duy nhất có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, các điều khoản của đạo luật đã được ban hành.

 Nhánh Toà án xét xử các vụ án hình sự và dân sự có số lượng Thẩm phán chiếm khoảng 75% tổng số Thẩm phán toàn nước Đức và được chia ra 4 cấp với thẩm quyền xét xử như sau:

- Toà án Cơ sở (có 660 Toà): Về hình sự, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt không quá 4 năm tù .

- Toà án Khu vực (có 116 Toà): Về hình sự, có thẩm quyền xét xử phúc thẩm hình sự các vụ án bị kháng cáo, kháng nghị của Toà án cơ sở và xét xử sơ thẩm hình sự các vụ án về những tội phạm rất nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 4 năm tù trở lên, trừ các tội thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp cao của Bang.

- Toà án Cấp cao của Bang (có 24 Toà): Về hình sự, có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, đồng thời là chung thẩm hình sự các tội phạm nghiêm trọng chống Nhà nước (tội gián điệp, xâm phạm an ninh,...) và giám đốc thẩm hình sự các vụ án đã được Toà Khu vực xét xử phúc thẩm.

- Toà án Tư pháp Liên bang: Về hình sự, có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm hình sự các vụ án đã được xét xử sơ, chung thẩm tại Toà án Cấp cao của Bang và các vụ án đã được xét xử sơ thẩm tại Toà án Khu vực.

Nhánh Toà án Tài chính được tổ chức thành 2 cấp:

- Toà án Tài chính của bang: Gồm Phân Toà và Phân tòa cấp cao. Phân tòa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc liên quan đến tính hợp pháp của các quyết định về thuế, hải quan. Phân Toà Cấp cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm một số vụ việc và xét xử phúc thẩm các vụ việc đã được Phân Toà xét xử sơ thẩm giải quyết. Thông thường mỗi bang có 1 Toà án Tài chính của bang, riêng những bang lớn có từ 2-3 Toà án.

 Toà án Tài chính Liên bang là cơ quan xét xử giám đốc thẩm các vụ việc đã được Toà án Tài chính của bang xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.

3. Về hệ thống Cơ quan Công tố Cộng hòa Liên bang Đức

Hệ thống Cơ quan Công tố của Đức cũng giống như hệ thống Tòa án Đức thuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp Đức nhưng thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách độc lập. Cơ quan Công tố có chức năng điều tra và truy tố và hoạt động theo các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc hợp pháp: Cơ quan công tố có thẩm quyền thực hiện quyền công tố. Ngoài những trường hợp pháp luật có quy định khác, cơ quan công tố có nghĩa vụ phải truy tố mọi hành vi phạm tội nếu có đủ căn cứ (Khoản 2, Điều 152 BLTTHS).

- Nguyên tắc cơ hội (nguyên tắc tuỳ nghi): Đối với các tội ít nghiêm trọng, cơ quan công tố có thể miễn truy tố nếu thấy tính chất của hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng và lợi ích của xã hội không đòi hỏi phải truy tố (khoản 1 Điều 153 BLTTHS). 

Cơ quan Công tố được tổ chức ở 3 cấp gồm Cơ quan Công tố liên bang, Cơ quan Công tố bang và Cơ quan Công tố Khu vực:

- Cơ quan Công tố Liên bang thực hành quyền công tố tại Toà án Tư pháp Liên bang và tại Toà án Cấp cao của Bang đối với các vụ án chống Nhà nước như tội gián điệp, khủng bố... Ngoài ra, Cơ quan Công tố Liên bang còn có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị Toà án Tư pháp liên bang xét xử giám đốc thẩm; xem xét đề nhị Tòa án tư pháp liên bang chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị của Cơ quan Công tố bang tại Toà án Tư pháp Liên bang.

 - Cơ quan Công tố bang (tổng cộng có 24 Cơ quan Tổng Công tố) thực hành quyền công tố tại Toà án Cấp cao của bang.

 - Cơ quan Công tố Khu vực (gồm 116 Cơ quan) thực hành quyền công tố tại Toà án Khu vực và Toà án Cơ sở.

Trong hệ thống Cơ quan Công tố Đức có một số cơ quan công tố được tổ chức theo lĩnh vực hoạt động chuyên sâu, như có các cơ quan công tố chuyên điều tra, truy tố các tội phạm liên quan đến phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tội phạm có tổ chức, tội phạm kinh tế, tội phạm tham nhũng, tội phạm ma túy, tội phạm do thanh, thiếu niên thực hiện, tội phạm giao thông, tội phạm môi trường, tội phạm liên quan đến xuất, nhập cảnh, tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ, tin học....

Ví dụ, tại Bang Thuringen có cơ quan Tổng Công tố bang, dưới cơ quan Tổng Công tố bang có 4 cơ quan  Công tố khu vực tương ứng với 4 Tòa án khu vực. Mỗi cơ quan công tố khu vực chuyên điều tra, truy tố các vụ án về những loại tội phạm nhất định trên toàn bang. Bên cạnh đó còn điều tra, truy tố các tội phạm thông thường khác. Cơ quan công tố Khu vực Erfurt chuyên điều tra, truy tố các tội phạm về tham nhũng. Cơ quan công tố Khu vực Gera  chuyên điều tra, truy tố các tội phạm có tổ chức. Cơ quan công tố Khu vực Muhlhausen chuyên điều tra, truy tố các tội phạm kinh tế. Cơ quan công tố Khu vực Meiningen chuyên điều tra, truy tố các tội phạm liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm y tế.

Thẩm quyền truy tố đối với Cơ quan công tố khu vực chuyên sâu thực hiện theo nguyên tắc là tội phạm xảy ra ở đâu thì truy tố tại Toà án khu vực đó. Ví dụ, theo sự phân công, Công tố viên ở khu vực Gera điều tra các tội phạm về tham nhũng ngay cả khi tội phạm được thực hiện ở Erfurt và sau đó sẽ truy tố và thực hành quyền công tố tại Tòa án Erfurt. Tuy nhiên, riêng đối với các tội phạm về kinh tế thì dù tội phạm xảy ra ở đâu của Bang thì Cơ quan công tố cũng phải truy tố và thực hành quyền công tố tại Toà án Khu vực Muhlhausen.

4. Về pháp luật tố tụng hình sự.

Cộng hòa Liên bang Đức là nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa. Mô hình tố tụng là mô hình tố tụng thẩm vấn. BLTTHS hiện hành của Đức được xây dựng từ năm 1987 và đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Lần sửa đổi, bổ sung gần đây nhất là vào tháng 10/2008. Ngoài BLTTHS, các văn bản pháp luật khác cũng quy định về thẩm quyền, thủ tục tố tụng hình sự như Luật tổ chức Tòa án, Luật về tổ chức quản lý các trại giam....

Có thể nêu một số điểm đáng chú ý trong tố tụng hình sự của Đức như sau:

- Cơ quan công tố có chức năng điều tra và truy tố người phạm tội ra trước Tòa án. Cơ quan công tố chỉ huy hoạt động điều tra tội phạm. Khi tham gia tố tụng hình sự, Cơ quan công tố có thẩm quyền quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Cơ quan công tố có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin về tội phạm, có thể tự mình hoặc thông qua cơ quan cảnh sát và nhân viên trong lực lượng cảnh sát tiến hành điều tra. Cơ quan cảnh sát và nhân viên trong lực lượng cảnh sát có nghĩa vụ phải tuân thủ những yêu cầu hoặc mệnh lệnh của Cơ quan Công tố (Điều 160 và 161 BLTTHS).

Trog trường hợp cấp bách, để ngăn chặn viêc che giấu dấu vết phạm tội, cơ quan và nhân viên cảnh sát có nghĩa vụ thực hiện ngay các biện pháp điều tra tội phạm. Sau đó phải chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan Công tố (Điều 163 BLTTHS).

- BLTTHS Đức cho phép áp dụng biện pháp điều tra bằng cách nghe lén điện thoại và ghi âm điện thoại nếu có căn cứ nghi ngờ một người đã thực hiện hoặc có liên quan đến một số loại tội phạm nhất định như tội phản bội tổ quốc, giết người, cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, rửa tiền hoặc che giấu tài san do phạm tội mà có...(Điều 100a BLTTHS).

  Việc nghe lén điện hoại chỉ được thực hiện khi được Thẩm phán cho phép. Trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan công tố có thể ra lệnh, lệnh đó sẽ không còn hiệu lực nếu trong thời hạn 3 ngày Thẩm phán không phê chuẩn. Việc nghe lén và ghi âm điện thoại được thực hiện 1 lần không quá 3 tháng và có thể được gia hạn 1 lần không quá 3 tháng (Điều 100b BLTTHS).

- Một trong những biện pháp điều tra đặc biệt mới được pháp luật tố tụng Đức quy định là sử dụng điều tra trinh sát. Trinh sát hoạt động bí mật là nhân viên cảnh sát tiến hành điều tra đã được thay đổi căn cước.

Điều tra trinh sát được sử dụng để đấu tranh chống tội phạm khi có căn cứ cho rằng có hành vi phạm tội nghiêm trọng xảy ra liên quan đến buôn bán ma túy, vũ khí, tiền giả hay dấu giả; liên quan đến an ninh quốc gia, tội phạm có tính thương mại diễn ra liên tục hoặc do thành viên của băng nhóm tội phạm hoặc dưới các hình thức có tổ chức khác thực hiện. Điều tra trinh sát cũng có thể được sử dụng để điều tra các tội phạm nghiêm trọng khác khi có căn cứ cho rằng chúng đang hoặc sẽ tiếp tục thực hiện trong trường hợp áp dụng các biện pháp khác để điều tra, chứng minh tội phạm sẽ gặp khó khăn (Điều 110a BLTTHS).

Việc cơ quan cảnh sát sử dụng điều tra trinh sát chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của Cơ quan Công tố. Trong trường hợp cấp bách không thể xin ý kiến ngay thì có thể tự ý sử dụng biện pháp này nhưng ngay sau khi sử dụng điều tra trinh sát phải báo cáo xin ý kiến của Cơ quan công tố. Trong thời hạn 3 ngày kể từ khi áp dụng biện pháp này, Cơ quan công tố phải có văn bản trả lời đồng ý hay không đồng ý áp dụng biện pháp này. Nếu không đồng ý thì biện pháp này phải bị chấm dứt (khoản 1 Điều 110b).

Các quyết định về việc sử dụng điều tra trinh sát và giấy tờ khác liên quan đến việc sử dụng trinh sát sẽ do Cơ quan Công tố giữ. Chúng chỉ có thể được đưa vào hồ sơ vụ án nếu không ảnh hưởng tới mục đích của hoạt động điều tra, an ninh chung và tính mạng, sức khỏe của người khác (khoản 2 Điều 110d BLTTHS).

- Về việc miễn truy tố có điều kiện: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nếu được sự đồng ý của Tòa án có thẩm quyền xét xử và của bị can, Cơ quan công tố có thể quyết định miễn truy tố đối với bị can gắn với một trong các điều kiện: Bị can có đóng góp nhất định cho việc khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra; bị can nộp một khoản tiến cho một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cho Bộ Tài chính; bị can thực hiện các hoạt động phi lợi nhuận khác... (Khoản 1 Điều 153a BLTTHS)

- Về sự tham gia của Luật sư bào chữa: Bị can, bị cáo có thể mời tối đa là 3 luật sư tham gia bào chữa cho mình ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng (Điều 137 BLTTHS). Trong các trường hợp sau thì bắt buộc phải có Luật sư bào chữa tham gia: Phiên tòa xét xử theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án khu vực hoặc tại Tòa án cấp cao; bị can bị truy tố về một tội phạm nghiêm trọng; việc xét xử có thể dẫn đến quyết định cấm bị cáo làm một công việc nhất định; bị can, bị cáo đang bị tạm giam...(Điều 140 BLTTHS). Nếu bị can, bị cáo không mời được luật sư bào chữa thì Thẩm phán phụ trách Tòa án sẽ phải chỉ định luật sư bào chữa tham gia bào chữa (Điều 141 BLTTHS).

Ở tất cả các giai đoạn tố tụng, theo quyết định của Cơ quan công tố  hoặc Thẩm phán Tòa án thụ lý vụ án, Luật sư bào chữa có thể xem các biên bản lấy lời khai bị can hoặc các hoạt động tố tụng điều tra mà Luật sư đã có mặt hoặc đáng ra phải có mặt, cũng như có thể kiểm tra kết quả việc giám định của chuyên gia (khoản 3 Điều 147 BLTTHS). Tuy nhiên, trước khi kết thúc điều tra, Luật sư bào chữa có thể bị từ chối việc xem hồ sơ vụ án, những tài liệu trong hồ sơ hoặc các chứng cứ nếu việc đó có thể gây cản trở cho việc điều tra (khoản 2, 3 Điều 147 BLTTHS).

-  Về trình tự, thủ tục xét xử vụ án hình sự: Thông thường, thời gian nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử tại Tòa án kéo dài (từ 1 đến 5 tháng). Phiên tòa xét xử vụ án hình sự được thực hiện theo mô hình tố tụng thẩm vấn. Tại phiên toà, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa và các hội thẩm tiến hành thẩm vấn. điều tra bị cáo là chính chứ không phải Công tố viên. Công tố viên chỉ tiến hành thẩm vấn sau khi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thẩm vấn bị cáo. Hội đồng xét xử có trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội hay không có tội.

Các quyết định của Tòa án về vấn đề bị cáo có tội hay không, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý áp dụng đối với bị cáo phải được Hội đồng xét xử biểu quyết thông qua với tỷ lệ nhất trí 2/3 mới có hiệu lực.

Pháp luật tố tụng hình sự của Đức không quy định cụ thể thời hạn xét xử một vụ án hình sự, có vụ án phức tạp việc xét xử có thể kéo dài tới 3 năm.

5. Về việc bồi thường thiệt hại đối với người bị oan.

Ở Đức, đối với người bị truy tố, xét xử oan thì chỉ trong trường hợp người đó bị tạm giữ, tạm giam mới có thể được xem xét giải quyết việc bồi thường. Thông thường thủ tục xem xét, giải quyết việc bồi thường được tiến hành sau khi xét xử phúc thẩm. Pháp luật không quy định việc công khai xin lỗi người bị oan. Tiền bồi thường được lấy từ ngân sách Bang và mức bồi thường cũng chỉ giới hạn ở một mức độ nhất định, tính theo số ngày người đó bị tạm giữ, tạm giam. Tòa án sẽ quyết định việc bồi thường trên cơ sở đề nghị của người bị oan và ý kiến của Công tố viên (không phải mở phiên tòa giải quyết việc bồi thường).

Ở Đức quan niệm đấu tranh chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt nên Công tố viên, Thẩm phán được miễn trừ trách nhiệm pháp lý cả trong trường hợp trong khi thi hành công vụ để xảy ra việc truy tố, xét xử làm oan người vô tội không phải do lỗi cố ý của họ.

6. Về việc đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Công tố viên và Thẩm phán

 Để có thể được tuyển chọn vào Cơ quan Công tố hoặc Tòa án, ứng viên phải trải qua 4 năm học tập tại trường đại học Luật (học qua 8 kỳ học). Sau đó  phải trải qua kỳ thi quốc gia (lần thứ nhất) do Bộ Tư pháp Bang tổ chức. Sau khi đỗ kỳ thi này, họ phải trải qua 2 năm thực tập tại Cơ quan công tố, Tòa án, Văn phòng luật sư, cơ quan hành chính... Sau đó, họ phải đăng ký dự kỳ thi quốc gia (lần thứ hai). Sau khi đỗ kỳ thi này, người đó có quyền hành nghề luật.

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 25% số người đỗ cả hai kỳ thi quốc gia mới có thể được xét tuyển vào làm việc tại Cơ quan công tố và Tòa án.

Để được tuyển chọn vào làm việc ở Cơ quan Công tố hoặc Tòa án, ứng viên sau khi đỗ hai kỳ thi quốc gia phải được xem xét, tuyển chọn bởi một Hội đồng tuyển chọn của Bang (2/3 số Bang của Đức có Hội đồng tuyển chọn). Thành phần Hội đồng tuyển chọn bao gồm các đại biểu Quốc hội, Thẩm phán, Công tố viên... (Các Bang không thành lập Hội đồng tuyển chọn thì do do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Bang trực tiếp xem xét, quyết định bổ nhiệm). Hội đồng tuyển chọn sẽ xem xét về nhân cách, khả năng làm việc theo nhóm, khả năng giao tiếp, ứng xử của ứng viên xem có phù hợp với công việc sẽ đảm nhận hay không. Nếu được tuyển chọn, người đó sẽ phải trải qua 3 năm tập sự. Trong thời gian tập sự, họ được Công tố viên, Thẩm phán có kinh nghiệm kèm cặp, hướng dẫn. Họ có thể cùng tham dự phiên tòa với Công tố viên, Thẩm phán nhưng không được phép thực hiện các hành vi tố tụng. Nếu trong thời gian tập sự họ được đánh giá tốt thì sẽ được xem xét, bổ nhiệm làm Công tố viên hoặc Thẩm phán. Việc  bổ nhiệm là không kỳ hạn. Tuổi công tác của Công tố viên và Thẩm phán là đến 65 tuổi. Công tố viên và Thẩm phán không thể bị sa thải trừ khi họ phạm tội.

Đối với Công tố viên cơ quan công tố liên bang và Thẩm phán Tòa án Liên bang, Hội đồng tuyển chọn Liên bang sẽ xem xét, tuyển chọn (thường ứng viên đã trải qua thời gian làm Công tố viên, Thẩm phán Tòa án Bang). Hội đồng tuyển chọn Công tố viên, Thẩm phán Liên bang gồm 16 Bộ trưởng Bộ Tư pháp của bang, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Liên bang và một số đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn Công tố viên, Thẩm phán Liên bang là Bộ trưởng Bộ Tư pháp Liên bang. Trên cơ sở kết quả tuyển chọn và đề nghị của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Liên bang, Tổng thống Liên bang ra quyết định bổ nhiệm Công tố viên và Thẩm phán Liên bang.

7. Một số nhận xét.

 Cộng hòa Liên bang Đức là nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Mô hình tố tụng và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và tố tụng hình sự Đức và Việt Nam có có nhiều nét tương đồng. Chúng ta có thể nghiên cứu, học tập để vận dụng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng các yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế.

 Một là, chính sách hình sự của Đức xuất phát từ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm nhưng mang tính mềm dẻo, linh hoạt với các biện pháp tác động có tính chất hình sự đa dạng theo nguyên tắc giảm thiểu tối đa những hình phạt nặng và cho phép Tòa án có nhiều khả năng lựa chọn các hình thức chế tài áp dụng đối với người phạm tội để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa vệ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội với việc tôn trọng và bảo về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hai là, Hệ thống Toà án Tư pháp ở Đức được tổ chức theo 4 cấp, trong đó Tòa án cơ sở (cấp thấp nhất) chỉ có thẩm quyền xét xử các vụ án về các tội có mức cao nhất của khung hình phạt không quá 4 năm tù (ở Việt Nam Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử các vụ án về các tội có mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù). Việc phân định thẩm quyền xét xử như vậy bảo đảm sự phù hợp về trình độ, năng lực và cả chính sách, chế độ lương của đội ngũ Thẩm phán các Tòa án cơ sở (Thẩm phán các Tòa án cơ sở thường là những người mới được bổ nhiệm, hưởng mức lương thấp hơn so với lương của các Thẩm phán của Tòa án khu vực và Tòa án cấp cao...) và cũng là một trong những bảo đảm để nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (những vụ án về các tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ 4 năm tù trở lên phải do những Thẩm phán Tòa án Khu vực và Thẩm phán Tòa án cấp cao của Bang, thường là những người có kinh nghiệm cao hơn Thẩm phán Tòa án cấp cơ sở, đảm nhiệm)

Ba là, hệ thống Tòa án ở Đức được chuyên môn hóa cao. Ngoài Tòa án tư pháp có nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự và dân sự còn có các Tòa án chuyên trách xét xử các vụ việc khiếu kiện liên quan đến các quyết định hành chính; quyết định về Thuế và Hải quan; các vụ việc tranh chấp hợp đồng lao động giữa chủ với thợ hoặc với Công đoàn; các vụ việc liên quan đến bảo hiểm xã hội... Như vậy, có thể nói, hầu hết việc giải quyết các khiếu nại đối với các quyết định của các cơ quan nhà nước ở Đức đều thông qua hệ thống xét xử của Tòa án. Đối với nhánh Tòa án tư pháp xét xử các vụ án hình sự cũng được chuyên môn hóa sâu hơn, như việc tổ chức các Tòa án chuyên xét xử các vụ án về các tội phạm kinh tế; các vụ án về các tội gián điệp, khủng bố; các vụ án về các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện... Sự chuyên môn hóa cao trong việc tổ chức hệ thống Tòa án ở Đức bảo đảm hiệu quả cao trong chất lượng hoạt động của đội ngũ Thẩm phán cũng như nâng cao chất lượng xét xử các vụ án.

Bốn là, hệ thống các cơ quan công tố được tổ chức ở 3 cấp và không tương thích với hệ thống Tòa án tư pháp, gồm Cơ quan Công tố Liên bang, Cơ quan Công tố Bang và Cơ quan Công tố Khu vực. Đáng lưu ý là ngoài Cơ quan công tố Bang thực hành quyền công tố tại Tòa án cấp cao của Bang, còn lại cơ quan công tố Liên bang và cơ quan công tố Khu vực đều thực hành quyền công tố ở 2 cấp Tòa án. Cụ thể là, Cơ quan Công tố Liên bang thực hành quyền công tố tại Toà án Tư pháp Liên bang và tại Toà án Cấp cao của Bang đối với các vụ án chống Nhà nước như tội gián điệp, khủng bố, Cơ quan Công tố Khu vực thực hành quyền công tố tại Toà án Khu vực và Toà án Cơ sở.

Trong hệ thống Cơ quan Công tố Đức có các cơ quan công tố tổ chức theo lĩnh vực hoạt động chuyên sâu theo hướng chuyên điều tra, truy tố các vụ án về những loại tội phạm có tính nguy hiểm cao, có quy mô lớn và phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, như chuyên điều tra, truy tố các tội phạm gián điệp, khủng bố; các tội phạm về tham nhũng; các tội phạm có tổ chức; các tội phạm kinh tế... Sự chuyên môn hóa cao trong hoạt động điều tra, truy tố các loại tội phạm nhất định của cơ quan công tố đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm và góp phần nâng cao chất lượng điều tra, truy tố các vụ án hình sự.

Năm là, ở giai đoạn điều tra, Cơ quan công tố Đức có vai trò chỉ đạo hoạt động điều tra tội phạm, Cơ quan cảnh sát và nhân viên trong lực lượng cảnh sát có nghĩa vụ phải thực hiện những yêu cầu của Cơ quan Công tố. Mối quan hệ giữa cơ quan công tố với cơ quan cảnh sát thể hiện rõ vai trò, vị thế quan trọng của Cơ quan công tố trong hoạt động điều tra, truy tố.

Sáu là, trong các biện pháp điều tra tội phạm, các biện pháp điều tra đặc biệt như nghe lén điện thoại, ghi âm điện thoại, sử dụng điều tra trinh sát hoạt động bí mật để điều tra đối với một số tội phạm nhất định với những điều kiện và thủ tục chặt chẽ quy định trong BLTTHS có tác dụng tích cực trong cuộc đấu tranh chống tội phạm, nhất là đối với những tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội, giúp cho việc khám phá, điều tra tội phạm được nhanh chóng, hiệu quả hơn.

Bảy là, Sự tham gia của luật sư bào chữa trong các giai đoạn tố tụng được bảo đảm bằng các quy định của BLTTHS để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Tuy nhiên, trước khi kết thúc điều tra, luật sư không được xem toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án mà chỉ có thể xem các biên bản lấy lời khai bị can hoặc các hoạt động tố tụng điều tra mà Luật sư đã có mặt, các kết quả giám định... Quy định trên vừa bảo đảm được quyền bào chữa của bị can, bị cáo, vừa không gây khó khăn, cản trở cho hoạt động điều tra...

Tám là, hệ thống pháp luật của Đức theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa. Mô hình tố tụng tại phiên tòa theo mô hình tố tụng thẩm vấn. Theo đó, Tòa án cũng có trách nhiệm điều tra, chứng minh tội phạm. Tại phiên tòa, Thẩm phán xét hỏi, thu thập, đánh giá chứng cứ là chính. Mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung BLTTHS nhưng những quy định về thủ tục phiên tòa, trình tự xét hỏi, trách nhiệm chứng minh của Hội đồng xét xử ở Đức vẫn được duy trì.   

Chín là, ở Đức, chỉ trong trường hợp một người đã bị tạm giữ, tạm giam và bị truy tố, xét xử oan mới có thể được xem xét giải quyết việc bồi thường. Tiền bồi thường lấy từ ngân sách của Bang. Mức bồi thường được tính theo số ngày người đó bị tạm giữ, tạm giam và do Tòa án quyết định trên cơ sở đề nghị của người bị oan và ý kiến của Công tố viên (chỉ giới hạn ở mức nhất định) mà không phải mở phiên tòa giải quyết việc bồi thường. Công tố viên, Thẩm phán được miễn trừ trách nhiệm pháp lý về việc để xảy ra việc truy tố, xét xử sau phải tuyên một người là vô tội mà không phải do lỗi cố ý của họ. Đây là bảo đảm pháp lý quan trọng để khuyến khích Công tố viên, Thẩm phán tích cực đấu tranh chống tội phạm, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm.

 Mười là, quá trình đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm Công tố viên và Thẩm phán ở Đức theo một quy trình rất chặt chẽ. Qua đó, có thể tuyển chọn được những người thực sự có năng lực và tâm huyết với nghề để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Việc bổ nhiệm Thẩm phán và Công tố viên không kỳ hạn và họ không thể bị sa thải nếu họ không phạm tội. Thời gian công tác của Công tố viên và Thẩm phán kéo dài đến khi họ 65. Những quy định trên có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho đội ngũ Thẩm phán và Công tố viên yên tâm công tác, tận tâm, tận lực với nghề, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ công lý.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi