Một số ý kiến về hướng dẫn tình tiết “Người phạm tội tự thú” trong Luật hình sự Việt Nam

TS. Phạm Mạnh Hùng - Viện kiểm sát nhân dân tối cao 

Tạp chí Kiểm sát số 19 năm 2005

 

Tình tiết “Người phạm tội tự thú” là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta cho thấy còn có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất về tình tiết này.

Ngày 10/6/2002 Toà án nhân dân tối cao đã có Công văn số 81/2002 về việc giải đáp, hướng dẫn các vấn đề nghiệp vụ. Trong mục “Phân biệt việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trong trường hợp “tự thú” và trong trường hợp “đầu thú” như thế nào?” có hướng dẫn:

 “ “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai báo hành vi phạm tội của mình trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đẫ tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. “Đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật…

- Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụng tình tiết giảm nhẹ “tự thú” quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với người phạm tội theo điểm 0, khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 đối với người phạm tội.

- Nếu có người biết hành vi phạm tội của người phạm tội nhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền trình diện thì áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội”.

Theo chúng tôi, hướng dẫn trên cần được xem xét lại bởi các lý do:

Thứ nhất, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, nhiều trường hợp người phạm tội không thể nhận biết được việc mình phạm tội đã bị ai phát hiện chưa. Đối với trường hợp người phạm tội cho rằng chưa ai biết mình phạm tội và đã ra thú nhận trước các cơ quan, tổ chức nhưng thực tế đã có người biết việc phạm tội của người phạm tội hoặc trường hợp người phạm tội ra thú nhận hành vi phạm tội trong khi mới chỉ có những người thân thích trong gia đình của người phạm tội (vơ, chồng, bố mẹ, con cái…) biết về việc phạm tội của người phạm tội còn chưa cơ quan, tổ chức nào biết, nếu theo hướng dẫn trên, thì trường hợp đó không phải là trường hợp người phạm tội tự thú và không được phép áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS? Đây là điều bất hợp lý.

Thứ hai, trường hợp người phạm tội nhận thức rõ có người biết việc mình phạm tội, người phạm tội có điều kiện trốn tránh nhưng không trốn tránh mà đến thú nhận hành vi phạm tội của mình trước các cơ quan, tổ chức, nếu theo hướng dẫn trên, thì không thuộc trường hợp người phạm tội tự thú và cũng không thuộc trường hợp người phạm tội đầu thú vì không thoả mãn yếu tố nhận thức của người phạm tội “chưa ai phát hiện được mình phạm tộii” và cũng không thoả mãn yếu tố người phạm tội “biết không thể trốn tránh được”. Đây là điểm bất cập của hướng dẫn trên.

Thứ ba, BLHS năm 1985 và BLHS năm 2003 chỉ quy định về tình tiết “người phạm tội tự thú” mà không quy định về trường hợp người phạm tội đầu thú, trong đó, nếu xét ở phương diện tổng thể các quy định của BLHS, thuật ngữ người phạm tội “tự thú” không chỉ bao gồm việc người phạm tội ra thú nhận về hành vi phạm tội của mình trước các cơ quan, tổ chức trước khi hành vi phạm tội của người đó bị phát giác mà còn bao gồm cả trường hợp người phạm tội ra thú nhận về hành vi phạm tội của mình sau khi hành vi của người đó bị phát giác.

 Điều 23 BLHS năm 1999 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Sau khi quy định cụ thể về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và khoản 2 Điều luật, đoạn cuối khoản 3 Điều 23 BLHS quy định:

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ”.

Khi nói “người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã” thì cũng có nghĩa là người phạm tội và hành vi phạm tội của người phạm tội đã bị phát hiện. Lệnh truy nã bao giờ cũng áp dụng đối với một người cụ thể và về một tội phạm cụ thể. Việc người phạm tội có lệnh truy nã nhưng đã tự nguyện ra thú nhận hành vi phạm tội của mình vẫn được coi là tự thú theo Điều 23 BLHS.

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta cũng đã thừa nhận trường hợp “người phạm tội tự thú” bao gồm cả việc người phạm tội tự thú nhạn hành vi phạm tội của mình trước khi hành vi phạm tội của người đó bị phát giác và người phạm tội tự thú nhận hành vi phạm tội của mình sau khi hành vi phạm tội của người đó bị phát giác. Tại Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp “hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú” có hướng dẫn:

“1. Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự...

2. Người phạm tội đã bị phát hiện mà bỏ trốn, đang bị truy nã nhưng đã tự thú thì tuỳ theo mức độ phạm tội, thái độ khai báo v.v... cũng được hưởng chính sách khoan hồng, có thể được Toà án tuyên miễn hình phạt hoặc giảm nhẹ hình phạt...

3. Người phạm tội đang bị dẫn giải, tạm giữ, tạm giam để tạm giam hoặc chờ xét xử mà bỏ trốn, nhưng đã ra tự thú thì tuỳ trường hợp cụ thể, có thể áp dụng biện pháp cho cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú; nếu trong thời gian trốn tránh mà không phạm tội mới thì có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam...”.

Như vậy, BLHS nước ta chỉ quy định tình tiết người phạm tội tự thú chứ không quy định tình tiết người phạm tội đầu thú. Điều này được lý giải bởi lẽ, trường hợp người phạm tội tự ra thú nhận hành vi phạm tội của mình trước các cơ quan, tổ chức cả trước và sau khi hành vi phạm tội của mình bị phát hiện đều được coi là trường hợp người phạm tội tự thú và người phạm tội đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 (điểm h khoản 1 Điều 38 BLHS năm 1985). Do vậy, theo chúng tôi, Công văn số 81/2002 ngày 10/6/2002 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai báo hành vi phạm tội của mình trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội” để phân biệt với trường hợp “đầu thú” không phản ánh đúng tinh thần của BLHS và không phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta đã được liên ngành thừa nhận (thể hiện tại Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp “hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú”.

 Điều đáng lưu ý, BLTTHS năm 2003 lần đầu tiên đề cập đến việc “người phạm tội đầu thú” (BLTTHS năm 1988 không đề cập đến vấn đề này). Khoản 1 Điều 86 BLTTHS năm 2003 quy định “Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã”?. Trong khi đó, trong quy định về thủ tục tiếp nhận người phạm tội tự thú (Điều 102 BLTTHS năm 2003) lại chỉ quy định về việc tiếp nhận người phạm tội tự thú của cơ quan, tổ chức mà không quy định về thủ tục tiếp nhận người phạm tội đầu thú.

Chúng ta đều biết, quan hệ giữa BLHS và BLTTHS là quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức, những quy định của luật hình thức phải căn cứ vào luật nội dung và để thể hiện về mặt tố tụng các quy định của luật nội dung. BLHS năm 1999 chỉ quy định về việc “người phạm tội tự thú” chứ không quy định việc “người phạm tội đầu thú”. Việc phân biệt “tự thú” và “đầu thú” trong BLTTHS năm 2003 để quy định thủ tục tố tụng là không phù hợp với quy định của BLHS năm 1999, mặt khác, các quy định này lại không nhất quán. Điều 86 BLTTHS năm 2003 đề cập đến cả “tự thú” và “đầu thú”, trong khi đó Điều 102 BLTTHS năm 2003 lại chỉ đề cập đến thủ tục tiếp nhận người phạm tội tự thú mà không đề cập đến thủ tục tiếp nhận người phạm tội đầu thú. BLTTHS năm 2003 cũng không có quy định nào khác đề cập đến vấn đề này). Theo chúng tôi, đây là một trong những hạn chế của BLTTHS năm 2003 cần sớm được sửa đổi để hoàn thiện.

Tóm lại, để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất pháp luật, cùng với việc bảo đảm tính đồng bộ trong xây dựng luật, rất cần có sự giải thích, hướng dẫn pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, một trong những đòi hỏi của nguyên tắc pháp chế trong công tác giải thích pháp luật là các văn bản giải thích luật phải trên cơ sở quy định của luật và để thi hành luật. Văn bản giải thích đơn ngành không thể trái với Thông tư liên ngành về cùng một vấn đề và cùng một nội dung mà luật quy định. Thiết nghĩ, việc rà soát các nội dung giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền, xác định những bất cập để sửa đổi hoặc thay thế là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi