Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Phạm Mạnh Hùng

Tạp chí Tòa án nhân dân số 3 năm 2001

Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng với người phạm tội. Nói chung, về nguyên tắc khi quyết định hình phạt, Tòa án chỉ được phép lựa chọn loại và mức hình phạt đã ddwwocj quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Bởi lẽ, khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tinhd chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội phạm khác nhau và các khung hình pahtj khác nhau. Bộ luật hình sự nước ta không quy định các khung hình phạt cứng, nghĩa là chỉ  có một mức hình phạt cố định để áp dụng cho tội phạm, ma bao giờ trong mỗi khung hình phạt cũng có mức tối thiểu và tối da. Điều này cho phép Tòa án có thể có điều kiện lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể.

           Ví dụ, khung hình phạt được quy định đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khoản 1 Điều 139 BLHS, Tòa án có thể áp dụng một trong hai loại hình phạt là cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn trong phạm vi khung hình phạt quy định. Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể áp dụng 6 tháng, 1 năm hoặc 3 năm tù hoặc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với mức 6 tháng ( mức tối thiểu của hình phạt này) 2 năm hoặc 3 năm…

           Trong quá trình làm luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm để quy định hình phạt. Hình phạt được quy định trong mỗi khung hình phạt chính là sự phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được quy định trong phạm vi khung (khoản) đó. Tuy nhiên, việc cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm để quy định khung hình phạt đối với nhà làm luật bao giờ cũng mang tính khái quát. Nhà làm luật không thể có điều kiện để tính hết và quy định hết tất cả các trường hợp phạm tội khác nhau để quy định những hình phạt tương ứng đối với từng trường hợp phạm tội có thể xảy ra trên thực tế.

           Bởi vậy, để tăng khả năng lựa chọn của Tòa án khi quyết định hình phạt đối với những trường hợp phạm tội cụ thể khác nhau, nhất là khả năng lựa chọn hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật áp dụng đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo sự công bằng của hình phạt, Điều 47 BLHS năm 1999 đã quy định : “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản I Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”.

          Với quy định trên, điều kiện để Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới múc thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đã được xác định là ít nhất phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS trở lên. Bởi vậy, mặc dù khoản 2 Điều 46 BLHS có quy định khoản 1 Điều 46 BLHS “Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ” song nếu không có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì dù Tòa án có viện dẫn nhiều tình tiết giảm nhẹ khác, cũng không thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

         Điều đáng lưu ý là, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ là làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tôi trong phạm vi một khung hình phạt so với các trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết này; bởi vậy, nếu hành vi phạm tội thực tế mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tịa khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng tính chất, mức độ vẫn cần thiết phải áp dụng mới phù hợp thì Tòa án cũng không được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

         Chỉ có thể quyết định hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nếu không có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, hành vi phạm tội đã có thể xử ở mức thấp của khung hình phạt mà điều luật quy định, và do có các tình tiết giảm nhẹ nên đã làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tới mức mà nếu quyết định hình phạt trong phạm vi điều luật quy định thì vẫn nặng, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, do vậy cần phải quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn mới phù hợp.

        Theo quy định của Điều 47 BLHS Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Quy định này nhằm tránh một khuynh hướng xấu có thể xảy ra là lạm dụng pháp luật và những động cơ các nhân mà quyết định mức hình phạt quá nhẹ. Ví dụ áp dụng khung hình phạt tăng nặng đối với người phạm tội ở khoản 4 (khung hình phạt nặng nhất) nhưng khi quyết định hình phạt lại dưới mức thấp nhất của khoản 3, thậm chí dưới cả khoản 2…

        Nói chung, việc xây dựng các khung hình phạt đối với từng tội phạm theo một trật tự từ nhẹ đến nặng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp trật tự này lại ngược lại, nghĩa là từ nặng đến nhẹ. Ví dụ phần lơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia (các tội ở các Điều từ 78 đến 87); Điều 89, 90 BLHS), tội giết người (Điều 93 BLHS) là được sắp xếp theo trật tự từ nặng đến nhẹ, Nếu các khung hình phạt đối với tội phạm được sắp xếp theo trật tự từ nhẹ đến nặng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt liền trước khung hình phạt áp dụng. Còn nếu các khung hình phạt đối với tội phạm được sắp xếp theo trật tự từ nhẹ đến nặng thì khung hình phạt liền kề nhẹ hơn là khung hình phạt liền sau khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội.

       Ví dụ: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  (Điều 139 BLHS có 4 khung hình phạt chính quy định ở khoản 4 theo trật tự từ nhẹ đến nặng. Một người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 trở lên và xét thấy có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thì việc quyết định hình phạt có thể được thực hiện như sau:

       Nếu người phạm tội bị áp dụng khoản 4 Điều 139 BLHS thì Tòa án có thể quyết định hình phạt đối với họ dưới 12 năm tù nhưng phải trong khung hình phạt quy định tại khoản 3, nghĩa là chỉ có thể phạt tù trong giới hạn từ 7 năm đến dưới 12 năm.

      Nếu người phạm tội bị áp dụng khoản 3 Điều 139 BLHS thì Tòa án có thể quyết định hình phạt đối với họ dưới 7 năm tù nhưng phải trong khung hình phạt quy định tại khoản 2, nghĩa là chỉ có thể phạt tù trong giới hạn từ 2 năm đến dưới 7 năm.

      Nếu người phạm tội bị áp dụng khoản 2 Điều 139 BLHS thì Tòa án có thể quyết định hình phạt đối với họ dưới 2 năm tù nhưng phải trong khung hình phạt quy định tại khoản 1 nghĩa là chỉ có thể phạt tù trong giới hạn từ 6 tháng đến dưới 2 năm hoạc phải cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

      Cùng với việc quy định Tòa án có thể quyết định hình phạt với khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Điều 47 BLHS còn quy định trường hợp điều luật áp dụng đối với người phạm tội chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt áp dụng là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung phạt áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều đáng lưu ý khi áp dụng quyết định này là Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng nhưng không thể thấp hơn mức tối thiểu mà Bộ luật hình sự đã quy định đối với từng loại hình phạt, nghĩa là không thể thấp hơn 3 tháng nếu là tù có thời hạn, không thể thấp hơn 6 tháng nếu là cải tạo không giam giữ, không thể thấp hơn 1 triệu đồng nếu là phạt tiền. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cũng có thể chuyển sang áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đối với người phạm tội so với loại hình phạt quy định trong khung hình phạt. Song, phải đáp ứng những điều kiện áp dụng đối với loại hình phạt đó như cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng v.v…

        Ví dụ, một người phạm tội tham ô tài sản, bị áp dụng khoản 1 Điều 278 BLHS, Tòa án có thể quyết định hình phạt đối với người đó dưới 2 năm tù nhưng không được thấp hơn 3 tháng tù là mức tối thiểu của hình phat tù có thời hạn hoặc Tòa án có thể chuyển sang áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian từ 6 tháng đến 3 năm. Trong trường hợp này Tòa án không thể quyết định hình phạt cảnh cáo đối với người phạm tội vì khoản 1 Điều 178 BLHS là quy định về tội phạm nghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng là trên 3 năm tù), trong khi đó hình phạt cảnh cáo chỉ có thẻ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng.

       Một vấn đề đặt ra trong lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta là trong trường hợp khung phạt áp dụng đối với người phạm tội là khung hình phạt nhẹ nhất và chỉ quy định hai loại hình phạt lựa chọn là cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn thì khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS trở lên, Tòa án có thể chuyển sang áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội hay không?

      Vấn đề này, chúng tôi cho rằng mặc dù mục đích của hình phạt đều giống nhau song mỗi loại hình phạt chỉ có thể phát huy được tác dụng của nó nếu được đem áp dụng thích hợp đối với từng loại tội phạm cụ thể. Khi xây dựng luật Nhà làm luật đã pải cân nhắc tính toán đến yếu tố này để quy định các loại và mức hình phạt khác nhau áp dụng cho các loại tội phạm khác nhau. Về hình phạt tiền, phạm vi áp dụng đã được quy định tại Điều 30 BLHS. Tuy nhiên, theo chúng tôi quy định này chỉ là quy định mang tính nguyên tắc để từ đó xây dụng các khung hình phạt trong đó có hình phạt tiền ở các Điều luật về các tội phạm cụ thể. Để quyết định việc có áp dụng hình phạt tiền hay không đối với người phạm tội, người áp dụng pháp luật không phải căn cứ vào khoản 1 Điều 30 BLHS mà phải căn cứ áp dụng cụ thể có quy định hình phạt tiền hay không?

      Ví dụ, theo khoản 1 Điều 30 BLHS phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý hành chính, song trong số các tội phạm ít nghiêm trong xâm phạm trật tự quản lý hành chính phạt tiền là hình phạt chính (các tội ở khoản 1 các Điều 266, 267,268,271,272,273,274 BLHS) còn phần lớn các tội ít nghiêm trọng khác không quy định hình phạt tiền là hình phạt chính, kể cả những tội có quy định trong khung hình phạt cảnh cáo là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tiền, ví dụ khoản 1 các Điều 258, 262 BLHS. Điều này chứng tỏ khi quy định hình phạt tiền là hình phạt chính  của tội phạm nào đó, điều quan trong là Nhà làm luạt đã tính đến hiệu quả của hình phạt tiền đối với tội phạm đó, chứ không phải chủ yếu căn cứ vào mức độ nguy hiểm của tội phạm đó. Bởi vậy chúng tôi cho rằng chỉ khi khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính thì Tòa án mới có thể quyết định hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính đối với người phạm tội.

       Trong trường hợp khung hình phạt áp dụng không có hình phạt tiền mà chỉ có hình phạt tù hoặc hình phạt tù và hình phạt cải tạo không giam giữ thì mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 BLHS, làm giảm đi đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tòa án cũng không thể áp dụng Điều 47 BLHS để quyết định hình phạt tiền đối với người phạm tội.

      Ví dụ, một người phạm tội không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, được quy định tại Điều 269 BLHS có khung hình phạt là từ 6 tháng đến 3 năm tù. Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS Tòa án có thể quyết định hình phạt từ từ 3 tháng đến dưới 6 tháng hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ trong giới hạn từ 6 tháng đến 3 năm hoặc hình phạt cảnh cáo đối với người đó chứ không được quyết định áp dụng hình phạt tiền.

     Ví dụ khác, một người phạm tội chống người thi hành công vụ được quy định tại khoản 1 Điều 157 BLHS có khung hình phạt là “cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”. Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Tòa án cũng không thể áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tọi nhưng có thể áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người đó.

     Việc không cho phép Tòa án  chuyển từ một hình phạt khác quy định ở khung hình phạt áp dụng sang hình phạt tiền khi quyết định hình phạt, mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong điều kiện nước ta hiện nay là cần thiết, tránh được những dư luận không đáng có, có thể xảy ra là cứ có tiền thì có thể tránh được các hình phạt khác, kể cả hình phạt tù. Mặc khác, khó có thể xác định được chính xác mức phạt tiền bao nhiêu là phù hợp nếu chuyển từ hình phạt tù hoặc  hình phạt cải tạo không giam giữ sang phạt tiền.

    Vấn đề khác đặt ra là trong trường hợp khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính mà không có hình phạt cảnh cáo là hình phạt nhẹ hơn, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS Tòa án có thể chuyển sang áp dung hình phạt cảnh cáo được không?

    Theo chúng tôi, điều này là hoàn toàn có thể, miễn là đáp ứng được những điều kiện áp dụng cảnh cái được quy định tại Điều 29 BLHS.

    Ví dụ, một người phạm tội gây rối trật tự công cộng, bị áp dụng khoản 1 Điều 245 BLHS có khung hình phạt quy định là “bị phạt tiền từ một triệu đồng đến dưới mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Nếu người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS trở lên, Tòa án có thể áp dụng Điều 47 BLHS để chuyển sang quyết định hình phạt cảnh cáo, là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tiền, đối với người đó.

     Nếu như khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có quy định hình phạt tiền nhưng tội phạm đó là tội phạm nghiêm trọng, thì mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS Tòa án cũng không được chuyển sang áp dụng hình phạt cảnh cáo (vì cảnh cáo chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng). Ví dụ: Một người phạm tội sản xuất hàng cấm, bị áp dụng khoản 1 Điều 155 BLHS có khung hình phạt là “bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm”. Nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 46 BLHS Tòa án có thể áp dụng Điều 47 BLHS quyết định hình phạt tù trong giới hạn từ 3 tháng đến dưới 3 năm hoặc phạt tiền trong giới hạn từ 1 triệu đồng đến dưới 5 triệu đồng hoặc quyết định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm chứ không được quyết định hình phạt cảnh cái đối với người phạm tội bởi vì tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS là tội phạm nghiêm trọng.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi