Về chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định được quy định tại Điều 16 BLHS (BLHS năm 1985, Điều 19 BLHS năm 1999 – BBT) với nội dung : “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gi ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.

Với quy định trên, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội một mặt thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự, nó cho một người đã có ý định phạm tội, đã có hành vi chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng đã tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặt khác, chế định tự ý nửa chừng châm dứt việc phạm tội cũng là một trong những biện pháp góp phần ngăn chặn những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Nó cho phép một người có ý định phạm tội, đã chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, vẫn có khả năng lựa chọn cách xử sự của mình: Một là tiếp tục thực hiện tội phạm đến cùng thì có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự; hai là tự mình chấm dứt việc phạm tội thì sẽ được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong nhiều trường hợp một người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã lựa chọn cách xử sự thứ hai và điều đó rõ ràng đã góp phận hạn chế bớt những thiệt hại nguy hiểm có thể xảy ra cho xã hội.

Một hành vi được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải thỏa mãn những điều kiện nhất định. Điều kiện thứ nhất là hành vi chấm dứt việc phạm tội phải là tự nguyện và dứt khoát, nghĩa là phải do chính người thực hiện hành vi tự quyết định chấm dứt việc phạm tội mặc dù không có gì ngăn cản việc người đó tiếp tục phạm tội và sự châm dứt đó phải là việc từ bỏ hẳn ý định thực hiện tội phạm. Điều kiện thứ hai là sự chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra trong quá trình một người đã có hành vi bắt tay vào việc thực hiện ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện được tội phạm đến cùng, nghĩa là hành vi mà người đó thực hiện chưa thỏa mãn được hết các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể mà người đó định phạm.

Trong bài viết này chúng tôi muốn đi sâu vào việc phân tích, làm rõ điều kiện thứ hai của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Có quan điểm cho rằng điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là sự tự ý đó phải xảy ra khi tội phạm đang ở trong giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành ( [1] ).

Chúng tôi cho rằng lập luận trên không phù hợp vì thuật ngữ giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay giao đoạn phạm tội chưa đạt (dù là chưa đạt đã hoàn thành hay chưa đạt chưa hoàn thành) là một thuật ngữ của khoa học luật hình sự dùng để chỉ các giai đoạn phạm tội với nội dung là hành vi phạm tội đã bị chấm dứt do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người thực hiện hành vi khi người đó mới có hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm hoặc đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng (Điều 15 BLHS). Còn khi nói đến hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là muốn nói đến nội dung hành vi của một người không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản, nghĩa là sự chấm dứt việc phạm tội không phải do những nguyên nhân khách quan mà là do bản thân người thực hiện hành vi tự quyết định. Do vậy về mặt logic không thể lấy một phạm trù với nội dung là sự chấm dứt tội phạm do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người thực hiện hành vi (giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt) để làm điều kiện xác định một phạm trù với nội dung là sự chấm dứt việc theo ý chí của người thực hiện hành vi (tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội). Bởi vậy chúng tôi cho rằng nên lập luận là điều kiện của sự tự ý chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra trong quá trình một người có hành vi chuẩn bị phạm tội (hành vi chuẩn bị chứ không phải là giai đoạn) hoặc đã bắt tay vào việc thực hiện ý định phạm tội nhưng trước khi hành vi của người đó thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể, chứ không nên đưa phạm trù giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành làm điều kiện để xác định tự ý nửa chừng châm dứt việc phạm tội, để cho rằng sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, để cho rằng sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

Khi một người đã có hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm hoặc khi một người đã bắt tay vào việc thực hiện ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm và tội phạm chưa hoàn thành mà người đó tự nguyên chấm dứt việc phạm tội thì các ý kiến đều thống nhất là sự chấm dứt đó được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Song một vấn đề đặt ra là khi một người đã thực hiện được tất cả những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm thì còn có thể có sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Về vấn đề này có quan điểm cho rằng “Nếu sau khi thực hiện tất cả những hành vi cần thiết để gây ra hậu quả, kẻ phạm tội lại hối hận, lo sợ bị trừng phạt nên đã có hành vi tích cực ngăn chặn không cho hậu quả xảy ra và hậu quả đã không xảy ra. Trong trường hợp này không thể coi là trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo điều 16 mà chỉ có thể áp dụng khoản 1 điều 48 BLHS cho người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự( [2] ).

Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này. Theo chúng tôi cần phân biệt hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, khi một người đã thực hiện được tất cả những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm, để gây ra hậu quả tội phạm, nhưng hậu quả tội phạm chưa xảy ra, tội phạm chưa hoàn thành do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó thì sau đó mặc dù người ấy lại nhận thức được là vẫn có thể tiếp tục thực hiện tội phạm, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng đã tự ý không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa thì cũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Vì trước khi người đó chấm dứt việc phạm tội hành vi mà người đó thực hiện đã ở giai đoạn phạm tội chưa đạt hoàn thành. Trong trường hợp này hậu quả tội phạm chưa xảy ra, tội phạm chưa hoàn thành được là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người thực hiện hành vi. Ví dụ: A định giết B đã chĩa súng vào B bóp cò súng những đạn không nổ. Sau đó mặc dù súng còn đạn nhưng A đã tự mình từ bỏ ý định, không tiếp tục thực hiện hành vi giết B nữa.

Trường hợp thứ hai, khi một người đã thực hiện được hết những hành vị mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm, để gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng giữa hành vi mà người đó thực hiện với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra còn có một khoảng thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian này người đó lại có hành động tích cực để ngăn chặn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra và hậu quả đó đã được ngăn ngừa, tội phạm đã không hoàn thành được, thì cần phải coi người đó là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, vì hành vi mà người đó thực hiện thỏa mãn điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Điều kiện đó là: Trước khi chấm dứt việc phạm tội hành vi mà người đó thực hiện chưa thỏa mãn được tất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể và sự chấm dứt việc phạm tội khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng là do người đó tự nguyện quyết định tuy không có gì ngăn cản.

Một vấn đề khác đặt ra có ý nghĩa thực tiễn là trong vụ án có đồng phạm, điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của những người đồng phạm có khác gì so với điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong trường hợp tội phạm do một người thực hiện?

Có quan điểm cho rằng “đối với người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải được thực hiện trước khi người thực hành bắt tay vào việc thực tội phạm và phải có những hành động tích cực làm mất tác dụng của những hành vi trước đó của mình, để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm” ( [3] ).

Chúng tôi đồng ý là để coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức sau khi đã thực hiện hành vi tổ chức, hành vi xúi giục hay hành vi giúp sức phải có những hành động tích cực ngăn chặn việc thực hiện tội phạm của người thực hành khiến cho tội phạm không hoàn thành được, song không đồng ý về việc xác định thời điểm thực hiện hành vi tự ý nủa chừng chấm dứt việc phạm tội của những người này.

Theo quan điểm của chúng tôi thì không những trước khi người thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm mà cả sau khi người đó bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nếu người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức lại có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, tội phạm do được ngăn chặn, đã không hoàn thành được thì đều được coi là tự ý nửa chừng chầm dứt việc phạm tội vì những trường hợp trên đều thỏa mãn điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được quy định tại điều 16 BLHS. Phản ánh tinh thần này tại Nghị quyết 1 -89/HĐTP ngày 19-4-1989 cũng đã hướng dẫn về điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội của người giúp sức là “Nếu sự giúp sức cũng phải có những hành động tích cực… để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm mới được coi là tự nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” ( [4] ).

Tóm lại, khi đề cập đến điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, chúng tội cho rằng cần phải chú ý một số điểm sau:

Sự chấm dứt tội phạm được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải là do người thực hiện hành vi tự nguyện và dứt khoát chấm dứt không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa.

Sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải xảy ra trước khi một người có hành vi thỏa mãn hết các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể, nghĩa là chỉ có thể xảy ra khi một người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc khi đã có hành vi bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện được tội phạm đến cùng.

Nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng tội phạm chưa hoàn thành do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó thì dù sau đó người ấy không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa cũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì hành vi của người đó đã ở giai đoạn phạm tội chưa đạt (khoản 2 Điều 15 BLHS) (Điều 17 BLHS năm 1999- BBT).

Nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng giữa hành vi mà người đó thực hiện với hậu quả nguy hiểm cho xã hội còn có một khoảng thời gian. Trong khoảng thời gian này người ấy lại có những hành động tích cực ngăn chặn tội phạm khiến cho tội phạm không hoàn thành được cũng được coi là tự ý nủa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Đối với người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức để đượcc coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cần xác định được là sau những việc mà họ đã làm (tổ chức, xúi giục hay giúp sức) họ lại có những hành động tích cực để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm của người thực hành khiến cho tội phạm không hoàn thành được, không kể hành động ngăn chặn của họ xảy ra trước hay sau khi người thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm.

                                                                           Phạm Mạnh Hùng

                                               Nguồn:  Tạp chí Toà án nhân dân, số 8 năm 1995.


 

[1]   Xem giáo trình Luật Hình sự - phần chung. Trường Đại học Pháp lý 1992, trang 133 và khoa Luật Trường Đại học Tổng  hợp Hà Nội 1993, trang 153.

[2] Giáo trình Luật Hình sự - phần chung, khoa Luật Trường Đại học Tổng  hợp Hà Nội 1993, trang 154.

[3] Giáo trình Luật Hình sự - phần chung. Trường Đại học Pháp lý 1992, trang 153

[4]   Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng, Tòa án nhân dân tối cao 1990, trang 91.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi