Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong pháp luật phong kiến Việt Nam

ThS. Trần Thị Quang Vinh

Tạp chí Luật học số 5/2002 (5/2002)

Pháp luật hình sự Việt Nam có quá trình phát triển lâu đời. Trong thời kì phong kiến, luật hình sự chiếm địa vị ưu thế trong nền pháp luật của nước ta. “Tất cả mọi điều khoản trong cổ luật được chế tài về phương diện hình sự. Chính vì lẽ ấy, các bộ luật cổ đầu tiên của Việt Nam, đều mệnh danh là bộ luật hình”.(1) Pháp luật hình sự của các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hình thành và phát triển và mang đậm dấu ấn của những bước thăng trầm lịch sử. Đỉnh cao của sự phát triển đó là Bộ Quốc triều hình luật. Vì nhiều lí do mà phần lớn các di sản pháp lí không còn lưu truyền cho đến ngày nay.(2) Hiện nay, có thể nói Bộ Quốc triều hình luật thời Lê và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn còn được lưu truyền cho đến ngày nay là những bộ luật đại diện cho pháp luật hình sự thời kì phong kiến Việt Nam. Quốc triều hình luật (1428 - 1788) là bộ luật xưa nhất còn lưu giữ đầy đủ. Đây là bộ luật quan trọng nhất và chính thống nhất của triều Lê. Hoàng Việt luật lệ (1813 -1945) đời nhà Nguyễn cũng là bộ luật được soạn thoạn thảo theo tinh thần như hoàng đế Gia Long chỉ định: “Lấy luật lệ của các triều đại nước ta làm căn bản, tham chiếu luật Hồng Đức và luật Thanh triều.(3)

 

Hai bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ tuy khác nhau về thời gian có hiệu lực nhưng đều có những điểm tương đồng về quy định giảm nhẹ tội. Điều này xuất phát từ tính chất của cả hai bộ luật: Đều là những bộ luật của nhà nước phong kiến Việt Nam và cùng chịu sự ảnh hưởng sâu sắc các bộ luật của phong kiến Trung Quốc. Bên cạnh đó, chúng cũng có những điểm riêng biệt. Cả hai bộ luật nói trên đều có những quy định về vấn đề giảm nhẹ tội và trở thành khuôn mẫu pháp lí cho việc xét xử và quyết định hình phạt. Các bộ luật Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đều có cấu trúc gồm hai phần: Danh lệ (quy định chung) và bản điều (quy định về tội phạm cụ thể). Các tình tiết giảm tội được quy định rất ít trong phần danh lệ và chủ yếu được quy định trực tiếp trong quy định đối với từng tội phạm cụ thể. Điều này xuất phát từ thực tế là các điều khoản trong các văn bản pháp luật thời kì này mang nặng tính thực nghiệm, ít được mô hình hóa ở mức khái quát cao như luật hiện đại. Mặt khác, có thể lí giải từ phương pháp quy định chế tài trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam. Chế tài trong các bộ hình luật phong kiến được quy định ở dạng chế tài xác định tuyệt đối, tương ứng với mỗi trường hợp phạm tội, luật quy định mức hình phạt cụ thể. Với cách thức quy định như vậy, buộc nhà lập pháp phải quy định rất chi tiết các trường hợp tăng nặng, giảm nhẹ ngay trong quy phạm pháp luật quy định về tội phạm. Do vậy, các tình tiết giảm nhẹ thường được quy định trực tiếp trong các tội phạm cụ thể. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định trong pháp luật hình sự thời kì phong kiến Việt Nam khá đa dạng phản ánh chủ yếu đặc điểm về nhân thân người phạm tội, những biểu hiện của tội phạm được thực hiện. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS liên quan đến nhân thân người phạm tội gồm các tình tiết như người phạm tội thuộc đối tượng “bát nghị”; người hưởng lệ ấm của ông bà; người phạm tội là quan chức hoặc người có quan hệ thân thích với quan chức; người phạm tội có quan hệ gia đình với người bị hại; người phạm tội là quan thiên văn, thợ thủ công, nhạc sĩ; người phạm tội là con cháu chịu thay tội cho ông bà, cha mẹ; người phạm tội tự thú; người phạm tội lập công, chuộc tội; người phạm tội là người già, trẻ em, phụ nữ; người phạm tội phải ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ già. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS liên quan đến tội phạm được thực hiện gồm các tình tiết như: Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra; chưa gây thiệt hại lớn; thiệt hại do tội phạm gây ra đã được khắc phục; phạm tội do thực hiện hành vi giùm người khác; phạm tội với vai trò là tòng phạm; phạm tội do vượt quá yêu cầu bắt giữ người phạm pháp; phạm tội do lầm lẫn, vô ý; người phạm tội có mức độ lỗi nhẹ; phạm tội do bị kích động; phạm tội trong trường hợp bị tra tấn, uy hiếp hoặc bị oan sai, khổ thiệt; phạm tội trong các trường hợp khẩn cấp; phạm tội trong khi thi hành công vụ; vì bảo vệ gia đình. Như vậy, khi quy định về tình tiết giảm nhẹ TNHS, pháp luật hình sự phong kiến chú ý đặc biệt đến nhân thân người phạm tội, đến các dấu hiệu chủ quan và khách quan của tội phạm được thực hiện. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định chủ yếu ở phần Bản điều của Bộ hình luật. Do vậy, việc áp dụng tình tiết nào là giảm nhẹ tội tùy thuộc vào từng loại tội phạm. Xét về cơ sở giảm nhẹ TNHS, có thể khái quát theo các nhóm tình tiết sau:

 

Thứ nhất, các tình tiết giảm nhẹ tội liên quan đến địa vị xã hội hoặc vị trí trong gia đình hoặc tính chất đặc biệt về nghề nghiệp của người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ tội được quy định trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam trên cơ sở quan niệm nho giáo về những quan hệ rường cột trong xã hội cần được pháp luật bảo vệ. Các mối quan hệ vua - tôi, phu - phụ, phụ - tử gọi là “tam cương” được thể chế hóa trong pháp luật và được bảo vệ bằng pháp luật. Quy định về những tình tiết giảm tội trong pháp luật hình sự phong kiến cũng bị chi phối bởi quan niệm đó, thể hiện ở quy định giảm tội cho những người thuộc bát nghị, cho những người có vị trí trong xã hội và gia đình. Pháp luật thời phong kiến quy định tám loại người thuộc bát nghị được giảm tội nếu có hành vi phạm tội như nghị thân (người bà con gần vua); nghị cố (người cố cựu của hoàng gia); nghị công (người có công trạng lớn dẹp giặc); nghị hiền (người có đức hạnh lớn, quân tử); nghị năng (người có tài trong quân sự, chính trị); nghị cần (người siêng năng, năng nổ việc quan quân); nghị quý (những quan vào bậc cao quý); nghị tân (đối với khách là người nối sau của triều trước). Giảm tội được đặt ra cho những người hưởng “lệ ấm” của ông bà, cha mẹ. Điều 12 Quốc triều hình luật quy định: “Con cháu những bậc được dự vào nghị công mà có tội thì theo lệ ấm của ông bà cha mẹ mà nghị giảm”. Điều 5 Hoàng Việt luật lệ quy định lệ ấm có phần rộng hơn so với Bộ Quốc triều hình luật thể hiện lệ ấm không chỉ được áp dụng với con cháu của người dự nghị công mà là ông bà nội, cha mẹ, vợ và con, cháu của người thuộc Bát nghị mà phạm tội cũng được nghị như bản thân. Những biệt đãi này không áp dụng cho tội thập ác. Qua chế định “bát nghị” cho thấy việc giảm tội được đặt ra cho những người có vị trí cao của xã hội, có quyền lợi gắn bó với nhà vua, với chế độ đương thời thể hiện rất rõ nét tính giai cấp trong quan niệm về các tình tiết giảm nhẹ tội theo pháp luật hình sự phong kiến trên cơ sở quan niệm vua - tôi của nho giáo. Theo Điều 4 Quốc triều hình luật và Điều 4 Hoàng Việt luật lệ thì những người thuộc bát nghị khi phạm tội từ lưu trở xuống thì được giảm một bậc về hình phạt. Pháp luật hình sự thời phong kiến đã quy định về giảm tội cho những người có vị trí nhất định trong gia đình trên cơ sở quan niệm nho giáo về các mối quan hệ vợ chồng, thê - thiếp, cha - con. Điều 482 Quốc triều hình luật quy định: “Chồng đánh vợ bị thương thì xử nhẹ hơn tội đánh bị thương người thường ba bậc; nếu đánh chết thì xử nhẹ hơn tội đánh giết người ba bậc. Cố ý giết vợ thì được giảm một bậc; nếu có tội mà chồng đánh không may đến chết thì sẽ xử khác. Đánh vợ lẽ bị thương, què trở lên thì xử nhẹ hơn tội đánh vợ hai bậc; nếu vợ cả đánh bị thương, đánh chết vợ lẽ xử tội như chồng đánh vợ... Nếu ngộ sát thì không phải tội”. Bộ luật Hoàng Việt luật lệ cũng quy định khá chi tiết việc giảm tội khi người phạm tội có địa vị xã hội hoặc vị trí trong gia đình cao hơn (các điều luật tại quyển 15 Hoàng Việt luật lệ). Ngoài ra, quan hệ gia đình giữa người phạm tội với người bị hại cũng được pháp luật hình sự phong kiến xem xét và đánh giá có giá trị giảm nhẹ trong một số trường hợp. Ví dụ: Điều 439 Quốc triều hình luật quy định cùng ở chung một nhà mà ăn trộm của nhau thì xử nhẹ hơn tội ăn trộm của người ngoài một bậc. Điều 1 quyển 13 Hoàng Việt luật lệ quy định: “Phàm ở chung một nhà (trong thân vợ cưới về) là bà con mà lấy trộm của nhau (cả kẻ dưới và bậc tôn trưởng) về tiền bạc, của cải thì giảm 5 bậc tội nếu là dân thường, bậc đại công thì giảm 4 bậc, bậc tiểu công thì giảm 3 bậc, bậc ty ma thì giảm 2 bậc. Kẻ nào không phải thân thuộc thì được giảm một bậc và miễn xăm chữ vào mặt”. Như vậy, nhìn chung nhà làm luật phong kiến cũng lấy một số khía cạnh nhân thân người phạm tội làm tình tiết giảm nhẹ TNHS. Đó là những tình tiết nhân thân thuộc bát nghị, quan hệ gia đình trên cơ sở quan niệm nho giáo về trật tự xã hội phong kiến. Theo đó, các tình tiết thuộc nhân thân phản ánh vị trí cao của người phạm tội trong xã hội, gia đình theo trật tự xã hội phong kiến là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Đây là điểm khác biệt với luật hình sự hiện đại. Luật hình sự hiện đại, khi quy định nhân thân người phạm tội với ý nghĩa là căn cứ quyết định hình phạt, có nội dung hoàn toàn khác so với chế định “bát nghị” trong pháp luật thời phong kiến. Nếu luật hiện đại xem xét ở khía cạnh nhân thân người phạm tội là nhấn mạnh khả năng cải hóa họ trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật thì pháp luật hình sự phong kiến nhấn mạnh sự gắn bó của những người có quan hệ mật thiết với quyền lợi của giai cấp thống trị, với tôn ti, trật tự gia đình trong xã hội phong kiến như là cơ sở giảm nhẹ tội. Ngoài ra, pháp luật hình sự phong kiến, xuất phát từ yêu cầu phát triển của xã hội đương thời, còn quy định giảm tội cho người làm một số nghề nghiệp đặc biệt trong xã hội như quan thiên văn, thợ thủ công, nhạc sĩ. Đây là ưu đãi của pháp luật hình sự thời phong kiến đối với người có tay nghề rất cần cho xã hội hoặc lao động có tính chất đặc biệt.

 

Thứ hai, các tình tiết liên quan đến tội phạm được thực hiện cũng được quy định là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam. Bên cạnh tư tưởng nho giáo, pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị, theo đó trừng trị và thưởng phạt luôn đi liền nhau và phải phân minh: “Pháp gia chủ trương quyền thế vạn năng. Họ yêu cầu kẻ thống trị phải nắm lấy quyền giết hại và khen thưởng; chỉ có vậy thuật mới được thực thi, pháp mới được tôn trọng”.(4) Như vậy, theo pháp gia thì thi hành công lí chính là cái gốc để giữ gìn trật tự xã hội. Chính vì vậy, pháp luật hình sự phong kiến ở mức độ nhất định đã thể hiện yếu tố “công bằng” về TNHS trên cơ sở thừa nhận sự tương xứng về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện với mức độ TNHS. Tuy không chỉ rõ thước đo mà nhà làm luật phong kiến sử dụng để quy định hình phạt đối với các tội phạm cụ thể nhưng qua nghiên cứu về các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự phong kiến, nhận thấy việc tăng nặng hoặc giảm nhẹ tội được nhà làm luật suy xét trên cơ sở tính tới sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm cho trật tự xã hội phong kiến của hành vi phạm tội và mức hình phạt cần áp dụng. Đây chính là những biểu hiện công bằng về TNHS trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam. Theo đó những tình tiết thuộc về những biểu hiện khách quan hoặc chủ quan của tội phạm phản ánh mức độ thực hiện tội phạm còn hạn chế, hậu quả tội phạm chưa xảy ra hoặc thiệt hại không lớn, phạm tội do lầm lỡ, do bị kích động, động cơ phạm tội vì thi hành công vụ... được nhà làm luật cân nhắc và quy định là tình tiết giảm nhẹ tội.

 

Thứ ba, pháp luật hình sự thời phong kiến đã quy định một số tình tiết giảm nhẹ tội do đạo lí và khoan hồng dưới ảnh hưởng tư tưởng nho giáo. “Luật dưới thời phong kiến dù được xây dựng bởi hệ tư tưởng nào cũng đều mang tính chất tàn khốc, nhưng với tư tưởng nho giáo tính chất đó phần nào được giảm bớt”.(5) Theo tinh thần đó, pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam cũng có một số quy định về giảm tội vì lí do nhân đạo, khoan hồng. Pháp luật hình sự phong kiến quy định tự thú là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt và là cơ sở để miễn tội cho người phạm tội. Pháp luật hình sự Việt Nam cũng có một thái độ khoan hồng đối với những người phạm tội là trẻ em, người già, người bị bệnh tật nặng như phế tật, ác tật và coi các tình trạng này như một trong những cơ sở giảm nhẹ tội hoặc miễn tội. Xuất phát từ đạo đức của người phương Đông về trách nhiệm hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, pháp luật thời phong kiến cho phép con cháu chịu tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ. Việc chịu tội thay đó được coi là một tình tiết giảm tội (Điều 38 Quốc triều hình luật). Hoàng Việt luật lệ không có quy định về vấn đề này. Nhưng Hoàng Việt luật lệ lại có quy định về ân giảm cho người phạm tội còn phải ở nhà nuôi dưỡng cha mẹ (Điều 17 quyển 2 Hoàng Việt luật lệ).

 

Qua nghiên cứu quá trình hình thành và hoàn thiện chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

 

1. Quy định của pháp luật hình sự phong kiến về các tình tiết giảm nhẹ TNHS là yêu cầu khách quan. Dù là ở các thời đại khác nhau với phương pháp và trình độ lập pháp khác nhau thì tất cả đều gặp nhau cùng một điểm - sử dụng các tình tiết giảm nhẹ như là căn cứ quyết định hình phạt.

 

2. Chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự phong kiến mang dấu ấn của giai đoạn lịch sử này. Bởi lẽ, việc quy định một tình tiết nào đó có phải là tình tiết giảm nhẹ hay không, cách sử dụng nó như thế nào đều phụ thuộc vào quan niệm của giai cấp thống trị về trật tự xã hội cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, phương pháp lập pháp hình sự cũng như trình độ lập pháp của thời kì đó. Do vậy, xem xét về các tình tiết giảm nhẹ TNHS không thể tách rời hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cần thừa nhận sự vận động biện chứng của chế định này trong quá trình vận động của xã hội. Dấu ấn lịch sử của thời kì này thể hiện ở sự ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, quan niệm về tôn ti trật tự xã hội và gia đình của giai cấp phong kiến trong quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ TNHS.

 

3. Quá trình hình thành và phát triển của chế định các tình tiết giảm nhẹ TNHS là quá trình phát triển có tính kế thừa chọn lọc. Thông qua việc nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự thời phong kiến, những giá trị văn hóa pháp lí mà dân tộc ta tích lũy qua nhiều thế hệ đã được sáng tỏ. Những di sản pháp lí của dân tộc mà pháp luật hình sự hiện đại có thể kế thừa chính là việc thừa nhận sự tương xứng giữa tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện với mức độ TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu. Những di sản pháp lí cần kế thừa cũng là truyền thống nhân đạo, khoan hồng của ông cha trong xử lí tội phạm. Biết kế thừa có lựa chọn những kinh nghiệm ông cha cho chúng ta một cách tiếp cận hợp lí trong hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật./.

 

(1).Xem: Vũ Văn Mẫu “Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử”, tr.41, Sài Gòn.

 

(2). Xem: TSKH. Lê Cảm - “Luật hình sự Việt Nam trước thế kỉ XV”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 5, tr.22.

 

(3).Xem: Nguyễn Văn Thành - Vũ Trinh - Trần Hựu (Nguyễn Quyết Thắng và Nguyễn Văn Tài dịch và giới thiệu) “Hoàng Việt luật lệ”, tập 1, Nxb. Văn hóa - thông tin, tr.2.

 

(4).Xem: GS. Lương Duy Thứ (chủ biên) “Đại cương văn hóa phương Đông”, Nxb. Giáo dục, H.1998, tr.48.

 

(5)Xem: Nguyễn Tài Thu “Vai trò đạo Khổng trong sự hình thành và áp dụng pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/1993, tr.8.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi