Về lời khai của người làm chứng trong vụ án hình sự

Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất. Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đều quy định về nguồn chứng cứ này, bởi lẽ người làm chứng nắm được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại... Đây là nguồn chứng cứ rất quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự.



                                  

TRẦN QUANG TIÊP *

 

                                TS. Tổng cục An ninh, Bộ Công an

 

          

Lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất. Luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đều quy định về nguồn chứng cứ này, bởi lẽ người làm chứng nắm được diễn biến của vụ án hình sự, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, người bị hại... Đây là nguồn chứng cứ rất quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự. 


Trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam, Điều 714 Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) lần đầu tiên đã quy định về người làm chứng: "Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng. Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, thì khép vào tội không nói đung sự thực. Hình quan, ngục quan biết mà dung túng việc đó đều bị tội" [1].

Trong Bộ luật hình sự tố tụng áp dụng tại Bắc kỳ dưới thời Pháp thuộc, người làm chứng được quy định tại các điều 20 - 30. Điều 20 Bộ luật quy định: "Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn" [2]. Nghĩa vụ của người làm chứng được quy định tại Điều 22: "Phàm người chứng đã bị chiếu lệ đòi gọi, không có cớ gì hợp lẽ mà tự ý không đến hầu trước Tòa sơ cấp nghĩ xử việc vi cảnh, hoặc trước Tòa án tỉnh, hoặc trước Tòa đệ tam cấp hoăc trước quan thẩm cứu, thì có thể bị ép bắt phải đến hầu, và vì cớ không đến hầu phải bị xử phạt bạc từ 1 đồng đến 5 đồng, và phạt giam từ 1 ngày đến 5 ngày, hoặc hai thứ chỉ phải chịu một" [3].

Trước khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã có những văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao như công văn số 98-NCPL ngày 02/03/1974 của Tòa án nhân dân tối cao gửi cho các Tòa án địa phương đề cập việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng. Công văn đã phân loại những người làm chứng thành hai loại: Loại nhân chứng trực tiếp là người nghe và thấy khi việc phạm pháp xảy ra và loại nhân chứng gián tiếp là người không nghe thấy trực tiếp mà nghe nói lại [4].

Công văn cũng đã nêu lên sự cần thiết phải xác minh, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng: Lời khai của nhân chứng trực tiếp hay gián tiếp đều phải được xác minh có đúng sự thật không, vì những lý do:

a) Người làm chứng tuy khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc mắt có thể không tốt, nên thuật lại có thể không hoàn toàn đúng diễn biến của sự việc.

b) Việc xảy ra đã lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót.

c) Ngại phiền phức hoặc thù oán mà không khai hết sự việc mà mình đã biết.

d) Vì cảm tình hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà khai thêm hoặc bớt, thiếu chính xác.

đ) Có nhân chứng, vì nhớ không kỹ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình.

e) Vì bị đe dọa hoặc bị mua chuộc mà khai sai sự thật.

g) Đã khai không đúng, nhưng sau vẫn khai như trước, vì sợ khai khác thì bị đánh giá là người không trung thực.

Thông thường thì lời khai của những người đúng đắn, ngay thẳng, không có thân thuộc, bạn bè, không có mâu thuẫn gì với bị cáo, với người bị hại hoặc không có quyền lợi gì liên quan đến vụ án thì có nhiều khả năng chính xác. Tuy nhiên, không thể khẳng định trước là lời khai của nhân chứng nào là đáng tin hơn nhân chứng nao, dù là nhân chứng trực tiếp, nếu lời khai ấy chưa được xác minh [5].

Trong Công văn này, Tòa án nhân dân tối cao còn rút ra một vấn đề cần chú ý khi kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng:

1. Xem nhân chứng thuộc loại trực tiếp hay gián tiếp.

2. Sự việc họ khai có rõ ràng hay chỉ là phỏng đoán, suy diễn.

3. Trạng thái về tinh thần, tuổi của người làm chứng.

4. Cương vị, điều kiện công tác, nơi ở của họ có thể cho phép họ biết rõ sự việc như họ đã khai không?

5. Họ có quan hệ thân thuộc, bạn bè hoặc có mâu thuẫn gì với bị cáo, với người bị hại không? Quyền lợi của họ có liên quan đến vụ án không? [6]

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đã quy định về việc lấy lời khai của người làm chứng. Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

"1. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra hoặc nơi cư trú, nơi làm việc của người đó.

2. Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc với nhau trong thời gian lấy lời khai.

3. Trước khi lấy lời khai, điều tra viên phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ. Việc này phải được ghi vào biên bản.

4. Trước khi hỏi về nội dung vụ án, điều tra viên cần xác minh mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, người bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng. Điều tra viên cần yêu cầu người làm chứng kể hoặc viết lại những gì mà họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi. Không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý...".

Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Vương quốc Thái Lan... cho thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự của các nước này, đều quy định về trình tự, thủ tục lấy lời khai của người làm chứng.

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga, địa điểm và thời gian hỏi cung người làm chứng được quy định tại Điều 187, thủ tục triệu tập người làm chứng để hỏi cung được quy định tại Điều 188, những quy định chung khi tiến hành hỏi cung được quy định tại Điều 189. Điều 189 quy định: "Trước khi hỏi cung, dự thẩm viên thực hiện những yêu cầu được quy định tại khoản 4 Điều 164 Bộ luật này. Nếu dự thẩm viên nghi ngờ về việc người bị hỏi cung không sử dụng thành thạo ngôn ngữ được dùng trong tố tụng, thì dự thẩm viên giải thích cho người được hỏi cung trình bày nguyện vọng được khai báo bằng ngôn ngữ nào. Nghiêm cấm đưa ra các câu hỏi có tính chất mớm cung. dự thẩm viên được tự do lựa chọn chiến thuật hỏi cung”.

Bộ luật Tố tụng hình sự Vương quốc Thái Lan quy định về trình tự, thủ tục hỏi cung người làm chứng, người bị hại và những người khác tại Điều 133: “Trong quá trình thẩm tra, điều tra viên có thể yêu cầu người đó tuyên thệ hoặc khẳng định sự trung thực của lời khai trước khi khai báo, đồng thời điều tra viên phải tuân theo mọi quy định về chứng cứ, lời khai của Bộ luật này... Không điều tra viên nào được phép gợi ý, khuyến khích hay dùng nhục hình để ngăn cản người bị lấy lời khai khai báo theo nguyện vọng của họ" [7].

Bộ luật TTố tụng hình sự Hàn Quốc quy định về lời thề của người làm chứng tại Điều 156 và Điều 157. Điều 156 quy định: "Một nhân chứng sẽ bắt buộc phải thề trước khi bị thẩm vấn, trừ khi Luật quy định khác" [8]. Điều 157 Bộ luật quy định mẫu lời thề tuyên thệ: "Văn bản tuyên thệ sẽ ghi "Tôi thề rằng tôi sẽ nói sự thật, toàn bộ sự thật và không phải là cái gì khác ngoài sự thật mà tôi được biết, nếu có điều gì sai trái trong lời nói của tội, tôi sẽ bị xử phạt" [9].

Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, ngoài việc quy định người làm chứng phải tuyên thệ và khai tại Điều 437, Điều 438 còn quy định cụ thể về trách nhiệm của người làm chứng: "Nếu người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không chịu tuyên thê, không chịu khai, thì Viện Công tố có thể yêu cầu Tòa tiểu hình xử phạt người này theo quy định tại Điều 109" [10].

Đáng lưu ý, pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Malaysia phân loại người làm chứng thành hai loại: người làm chứng buộc tội và người làm chứng gỡ tội. Để đảm bảo sự có mặt của người làm chứng tại phiên tòa, Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Malaysia quy định về cam kết của người làm chứng: "1. Người làm chứng buộc tội va người làm chứng gỡ tội cần phải có mặt tại phiên tòa xét xử trước Tòa án cấp cao, phải thực hiện cam kết trước cán bộ xét xử sẽ có mặt tại phiên tòa xét xử khi được triệu tập để cung cấp chứng cứ và cán bộ xét xử có thể cân nhắc yêu cầu họ đảm bảo chấp hành cam kết đó" [11].

Khác với pháp luật tố tụng hình sự các nước nói trên, pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định người làm chứng được từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào buộc tội những người thân thích của họ. Điều 147 Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định: "Một người làm chứng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà có thể nghiêng về hướng buộc tội những người sau đây:

1. Vợ chồng, người thân ruột thịt trong phạm vi ba đời hoặc người bà con gần gũi trong phạm vi hai đời của người làm chứng hoặc người đã có mối quan hệ với người làm chứng.

2. Người giám hộ, người giám sát của người giám hộ hoặc người phụ trách của người làm chứng.

3. Người mà được người làm chứng giám hộ, phụ trách hoặc giám sát người giám hộ của người đó" [12]. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử ở nước ta đã dựa trên những căn cứ (tiêu chí) nhất định để phân loại người làm chứng. Việc phân loại người làm chứng thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở một căn cứ xác định nhằm phục vụ cho việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng có hiệu quả hơn. Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng trên thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể sử dụng các cách phân loại dựa trên tiêu chí độ tuổi, quốc tịch, ngôn ngữ, nguồn gốc sự hiểu biết các tình tiết có liên quan đến vụ án, sự liên quan đến vụ án hình sự, quan hệ với bị can, bị cáo, đặc điểm thể chất, tinh thần, trình độ học vấn...

Sự phân loại người làm chứng theo các tiêu chí khác nhau ở trên có tác dụng giúp cho việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng được khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác. Trên cơ sở quan điểm này, chúng ta không đồng tình với quan điểm tư sản đánh giá chứng cứ dựa vào giới, địa vị xã hội của người làm chứng: "Khi những người làm chứng hợp pháp đáng tin cậy ngang nhau, trong trường hợp lời khai của họ mâu thuẫn với nhau thì người được hưởng ưu tiên là: 1) đàn ông được ưu tiên hơn đàn bà; 2) người cao quý được ưu tiên hơn thường dân; 3) người học giả được ưu tiên hơn người không phải là học giả; 4) thầy tu được ưu tiên hơn người thế tục" [13].

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, khi thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng, phải chú ý cả những yếu tố khách quan lẫn những yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới mức độ chính xác trong lời khai của người làm chứng: thời gian người làm chứng tri giác sự kiện, hiện tượng ngắn; khoảng thời gian từ khi tri giác sự kiện, hiện tượng cho đến khi cung cấp lời khai cho các cơ quan tiến hành tố tụng quá lâu; khoảng cách từ người làm chứng đến đối tượng được tri giác quá xa; điều kiện thời tiết không thuận lợi cho việc tri giác như sương mù, mưa, gió...); những kẻ phạm tội đã cố ý ngụy trang vấn đề mà người làm chứng đã nhận biết, tri giác; người làm chứng có mối quan hệ gia đình, công tác... với bị can, bị cáo hoặc người bị hại; một số giác quan của người làm chứng có khuyết tật; người làm chứng không chú ý đến sự kiện, hiện tượng đã tri giác... Trong trường hợp lời khai của những người làm chứng về cùng một sự kiện, hiện tượng có mâu thuẫn với nhau, thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ mâu thuẫn đó, chứ không được áp đặt, suy diễn theo ý chí chủ quan. Ví dụ: trong vụ án chị Trần Thị Thanh Dung bị giết, cướp, hiếp dâm xảy ra ngay 24/01/1998 tại ấp Bến Cam, xã Phước Thiều, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, một số người làm chứng khai rằng khi uống rượu ở Trung tâm xúc tiến việc làm, anh Bùi Minh Hải vẫn tỉnh táo, trong khi đó ba người làm chứng khác là anh Dũng, chị Nhung, anh Tư Ve khai rằng anh Hải có biểu hiện say xỉn, nằm gác chân lên xe máy ở vệ đường ngủ, phải lay dậy mới biết, nhưng Cơ quan điều tra không xác minh, mà đã vội kết luận anh Hải giả vờ say; hoặc anh Hải rơi đồng hồ, sáng hôm sau đã đến nhờ chị Nhung tìm ở nhiều nơi nhưng không thấy và điều này được người làm chứng xác nhận, nhưng Cơ quan điều tra cũng không xác minh, đã vội vàng kết luận đó là hành vi, thủ đoạn tạo hiên trường giả... Những sai sót trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ lời khai của người làm chứng nói trên cùng nhiều sai sót khác của các cơ quan tiến hành tố tụng, đã dẫn đến việc điều tra, truy tố, xét xử oan anh Bùi Minh Hải và các cơ quan tiến hành tố tụng đã phải bồi thường cho anh Hải sáu mươi triệu đồng [14].

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

[1] Xem: Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 242.

[2] Xem: Các bộ luật An Nam , Nxb Đông Dương, Hà Nội, 1922, tr. 461.

[3] Xem: Sđd, tr. 469

[4] Xem: Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao xuất bản, Hà Nội, 1976, tr. 74.

[5] Xem : Sđd, tr. 74 – 75.

[6] Xem : Sđd, tr. 75.

[7] Xem: Bộ luật tố tụng hình sự   Thái Lan, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1995, tr. 37.

[8] Xem: Luật tố tụng hình sự   Hàn Quốc, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1998, tr. 33.

[9] Xem: Sđd, tr. 33

[10] Xem: Bộ lụât tố tụng hình sự   Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 197.

[11] Xem: Bộ luật tố tụng hình sự   Malaysia, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1999, tr. 67

[12] Xem: Bộ luật tố tụng hình sự   Nhật Bản, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1993, tr. 26

[13] Xem: A.I. Vưsinxki: Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật xô viết, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 1967, tr. 141.

[14] Nguồn: Vụ Kiểm sát án trị an - xã hội, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
 

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL 4/2005

 

 


Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi