Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trong sách báo cũng như thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "Trách nhiệm" thường được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước. Ví dụ, trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống; trách nhiệm của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái v.v... Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó.

 





KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

 

TS. Phạm Mạnh Hùng

 

Trường ĐT, BDNV Kiểm sát

 

 

 

Trong sách báo cũng như thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "Trách nhiệm" thường được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước. Ví dụ, trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống; trách nhiệm của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái v.v... Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó.

 

Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, được dùng theo nghĩa thứ hai. Tuy nhiên, cho đến nay, xung quanh khái niệm trách nhiệm hình sự vẫn còn những quan điểm khác nhau.

 

Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và người phạm tội. Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước của người phạm tội do việc người đó thực hiện tội phạm. Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự (1)

 

Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người (2)

 

Quan điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. (3)

 

Quan điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và được thể hiện trước hết ở việc kết án của Tòa án, nhân danh Nhà nước, đối với người phạm tội (4)

 

Về vấn đề án tích có thuộc nội dung của trách nhiệm hình sự không, trong khoa học luật hình sự cũng có hai quan điểm khác nhau.

 

Quan điểm thứ nhất: án tích không phải là sự thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự kết thúc từ thời điểm một người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt (5)

 

Quan điểm thứ hai: án tích là một trong những hình thức thể hiện trách nhiệm hình sự. Thời điểm một người được xóa án tích là thời điểm kết thúc của trách nhiệm hình sự (6)

 

Trước hết, về quan điểm coi trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước của người phạm tội do việc người đó thực hiện tội phạm và bắt đầu từ thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm.

 

Về bản chất, nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý là khác nhau. Khi đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của một người là đề cập đến khả năng người đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn khi nói đến trách nhiệm pháp lý của một người chính là nói đến việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của người đó trái với ý chí của họ. Trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một người có thể phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó thực hiện tội phạm mà chính là việc phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước trong tình trạng bị cưỡng chế do việc người đó đã thực hiện tội phạm. Đúng như Bratux X. N. đã viết: “Trách nhiệm - đó không phải là nghĩa vụ phải chịu những hậu quả phát sinh từ sự vi phạm pháp luật mà chính là hậu quả của nó trong tình trạng bị cưỡng chế... Trách nhiệm - đó là nghĩa vụ đã được thực hiện bằng cưỡng chế. Nghĩa vụ thì có thể được thực hiện hoặc không được thực hiện, nhưng khi đã bắt đầu trách nhiệm, nghĩa là khi bộ máy cưỡng chế đã đi vào hoạt động thì người có trách nhiệm không được lựa chọn. Người đó không thể không thực hiện hành vi tạo thành nội dung của nghĩa vụ phải thực hiện” (7)

 

Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu phát sinh mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội. Từ khi đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế, chịu trách nhiệm hình sự do Nhà nước áp dụng. Nhưng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội sẽ không được thực hiện trên thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự.

 

Người phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Giống với người phải chịu trách nhiệm hình sự, người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã thực hiện tội phạm, nghĩa là đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định. Từ thời điểm thực hiện tội phạm, người phạm tội có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm hình sự, nhưng vì có những căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự, người đó lại được miễn trách nhiệm hình sự. Đối với người được miễn trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi đã không trở thành hậu quả bất lợi thực tế mà người đó phải chịu.

 

Như vậy, trách nhiệm hình sự chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội nhưng không có nghĩa người phạm tội nào cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong nhiều trường hợp, theo quy định của pháp luật hình sự, người phạm tội không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, không thể đồng nhất nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hình sự mà một người phải chịu trên thực tế do việc thực hiện tội phạm.

 

Về quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự bao gồm các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự, bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Theo chúng tôi, quan điểm này cũng cần được xem xét lại vì chứa đựng những mâu thuẫn khó giải quyết. Đúng là từ thời điểm khởi tố bị can, nghĩa là thời điểm bắt đầu của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người phạm tội (thậm chí có những biện pháp cưỡng chế còn được áp dụng đối với một người trước khi người đó có thể bị khởi tố bị can. Ví dụ, biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ). Tuy nhiên, các biện pháp cưỡng chế mà các cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với một người trước khi người đó có thể bị Tòa án kết án bằng bản án kết tội không phải là sự thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự nếu sau đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra các quyết định như: quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vì hành vi của bị can không cấu thành tội phạm; quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vì có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can hoặc Tòa án tuyên bố bị cáo vô tội hoặc tuyên bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự tại phiên tòa.

 

Nếu như chấp nhận quan điểm cho rằng, trách nhiệm hình sự bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người, nghĩa là từ khi khởi tố bị can, thì trong trường hợp này, phải chăng trước khi có bản án mà Tòa án tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với một người, người đó đã phải chịu một phần trách nhiệm hình sự? Điều này khó có thể được coi là phù hợp. Khi nói đến miễn trách nhiệm hình sự là nói đến miễn toàn bộ hậu quả pháp lý thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự mà đáng ra người phạm tội phải chịu trước Nhà nước chứ không phải là miễn một phần trách nhiệm hình sự. Một người đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì không thể nói đến miễn trách nhiệm hình sự đối với người đó nữa. Nếu người phạm tội đã phải chịu trách nhiệm hình sự trước khi có bản án của Tòa án, thì Tòa án sẽ không thể nhân danh Nhà nước tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối người đó tại phiên tòa.

 

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nước ta, trước khi bị kết tội, một người có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện pháp ngăn chặn như: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Những biện pháp này được áp dụng nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án. Về bản chất, các biện pháp ngăn chặn không phải là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự mà chỉ là các biện pháp cưỡng chế có tính chất tố tụng hình sự để ngăn chặn tội phạm, bảo đảm hiệu quả của việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm cho việc thực hiện trách nhiệm hình sự sau này (bảo đảm thi hành án). Mặc dù các biện pháp ngăn chặn chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội, nhưng chúng không phải là hậu quả tất yếu của việc phạm tội. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng có áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một người hay không không phải là do đã xác định được người đó phạm tội hay không phạm tội mà là ở chỗ có căn cứ để chứng tỏ, nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì người đó có thể sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội hoặc sau này việc thi hành án sẽ gặp khó khăn. Một người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu sau đó xác định được có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự đối với người đó. Ngược lại, một người có thể không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nhưng vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu sau đó Tòa án tuyên bản án kết tội đối với người đó và bản án đó có hiệu lực pháp luật. Bản thân thuật ngữ "các biện pháp ngăn chặn" đã nói lên tính chất phòng ngừa của các biện pháp này, đúng như Enhikêev Z. Đ. đã viết: "Các biện pháp ngăn chặn là một phạm trù tố tụng thuần túy, có ý nghĩa phòng ngừa" (8).

 

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biện pháp ngăn chặn mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm tội trước khi có bản án kết tội của Tòa án không có ảnh hưởng gì đến trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu sau đó. Một số biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người phạm tội cũng có thể chuyển thành bộ phận cấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự nếu người đã bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đó đã bị Tòa án kết án bằng bản án kết tội có kèm theo việc quyết định một số loại hình phạt nhất định. Theo Điều 31 Bộ luật hình sự, nếu người bị kết án cải tạo không giam giữ đã bị tạm giữ, tạm giam trước khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. Còn theo Điều 33 Bộ luật hình sự, nếu người bị kết án phạt tù có thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam trước khi chấp hành hình phạt tù thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.

 

Như vậy, khi người phạm tội bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ, tạm giam đã áp dụng đối với người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn được chuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt, nghĩa là chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự.

 

Cũng giống các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tư pháp cũng có thể được áp dụng đối với người phạm tội trước khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nhưng bản thân việc áp dụng các biện pháp tư pháp không phải bao giờ cũng thuộc nội dung của việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Người bị áp dụng biện pháp tư pháp vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự. Thậm chí, biện pháp tư pháp có thể áp dụng cả đối với người không có năng lực trách nhiệm hình sự. Ví dụ, theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự, biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được áp dụng cả đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội đã bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh mà sau đó bị kết án phạt tù thì "thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù". Điều này chứng tỏ việc thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh của người phạm tội trước khi bị kết án, giống như biện pháp tạm giữ, tạm giam, cũng có thể được chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự.

 

Theo khoản 4 Điều 69 Bộ luật hình sự, khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng. Thực chất, đây là quy định về việc Tòa án không áp dụng hình phạt mà áp dụng các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội. Trong trường hợp này, người chưa thành niên phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, vẫn phải chịu sự lên án của Nhà nước mà Tòa án là người đại diện tuyên bản án kết tội tại phiên tòa (chịu sự kết tội bằng bản án kết tội của Tòa án) và các biện pháp tư pháp do Tòa án áp dụng cũng tạo thành bộ phận cấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, mặc dù theo quy định tại khoản 2 Điều 77 Bộ luật hình sự, người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng thì không bị coi là có án tích.

 

Về quan điểm coi trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.

 

Quan điểm này thực chất đã thu hẹp nội dung của trách nhiệm hình sự. Như chúng ta đã biết, trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lý hình sự áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu và nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất. Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp để thực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Trong Bộ luật hình sự nước ta, thuật ngữ "trách nhiệm hình sự" và "hình phạt" cũng đã được phân biệt qua một số quy định cụ thể. Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Đoạn cuối Điều 26 Bộ luật hình sự quy định: "Hình phạt... do Tòa án quyết định". Điều 25 Bộ luật hình sự quy định về "miễn trách nhiệm hình sự", Điều 54 Bộ luật hình sự quy định về "miễn hình phạt". Sự tồn tại của thuật ngữ "miễn hình phạt" cùng với thuật ngữ "miễn trách nhiệm hình sự" trong Bộ luật hình sự cũng đã phản ánh sự không đồng nhất của hai khái niệm trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự nước ta.

 

Khái niệm trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp cưỡng chế chủ yếu của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt). Trong trường hợp có hình phạt, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước hết thể hiện ở bản án kết tội kèm theo việc quyết định hình phạt của Tòa án đối với người phạm tội. Người phạm tội không chỉ bị kết tội, "bị coi là có tội" mà còn phải chịu hình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đó. Trong trường hợp miễn hình phạt, trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án mà không có quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Người phạm tội bị Tòa án, nhân danh Nhà nước, kết án vì đã thực hiện hành vi phạm tội. Với bản án kết tội có hiệu lực pháp luật, người phạm tội chính thức "bị coi là có tội" nhưng người đó không bị Tòa án quyết định hình phạt mà được miễn hình phạt.

 

Vì những lẽ đó, không thể coi trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.

 

Theo quan điểm chúng tôi, để xác định khái niệm trách nhiệm hình sự trước hết phải làm rõ các đặc điểm vốn có của nó.

 

Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm.

 

Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ có thể được áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự. Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự.

 

Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, chứ không được áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định của pháp luật. Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm và mới có thể buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội.

 

Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách nhiệm của cá nhân người đã thực hiện hành vi mà luật hình sự coi là tội phạm. Về nguyên tắc, trách nhiệm hình sự phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do người phạm tội thực hiện. Mác đã viết: “Nếu như khái niệm tội phạm giả định phải có sự trừng phạt, thì tội phạm thực tế lại giả định phải có một mức độ trừng phạt nhất định. Tội phạm thực tế là có giới hạn. Vì vậy, cả sự trừng phạt phải có giới hạn, dầu chỉ là để cho nó có tính chất thực tế, - nó phải được hạn chế bởi nguyên tắc của pháp luật để trở thành hợp pháp. Vấn đề là ở chỗ làm cho sự trừng phạt trở thành hậu quả thực tế của việc phạm tội. Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó - do đó phải là hành vi của chính người đó. Giới hạn của hành vi của y phải là giới hạn của sự trừng phạt” (9).

 

Người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là người phạm tội, nghĩa là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự và có lỗi (cố ý hoặc vô ý). Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì từng người đồng phạm cũng phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập. Hình phạt quyết định đối với từng người đồng phạm được quyết định căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

 

Cùng với trách nhiệm hình sự của cá nhân, pháp luật hình sự nhiều nước cũng đã quy định cả trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Ví dụ, Mỹ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp, Phần Lan, Bỉ, Trung Quốc... Việc quy định hay không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của các nước phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật của từng nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

 

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, pháp luật hình sự nước ta mới chỉ thừa nhận trách nhiệm hình sự của cá nhân mà chưa coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp tội phạm do người đại diện pháp nhân thực hiện không chỉ vì lợi ích của cá nhân người đó mà còn vì lợi ích của cả pháp nhân thì trách nhiệm hình sự cũng chỉ có thể áp dụng đối với cá nhân người phạm tội.

 

Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.

 

Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và người phạm tội. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện trước hết ở việc Tòa án, nhân danh Nhà nước, kết án người phạm tội. Nếu không có bản án kết tội của Tòa án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người. Điều 72 Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã khẳng định một trong những nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình sự - nguyên tắc suy đoán vô tội, với nội dung như sau: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tương tự tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự.

 

Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận người phạm tội chính thức "bị coi là có tội". Đó chính là hậu quả pháp lý thể hiện một trong những nội dung quan trọng của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước.

 

Đa số các trường hợp bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội đi kèm với việc Tòa án quyết định hình phạt đối với người đó. Trong trường hợp này, trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội và hình phạt. Trong trường hợp khác, bản án kết tội của Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không gắn với việc Tòa án quyết định hình phạt mà gắn với việc Tòa án quyết định miễn hình phạt đối với người đó.

 

Như vậy, trách nhiệm hình sự có thể có hình phạt và cũng có thể không có hình phạt. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo quyết định miễn hình phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự của người phạm tội thể hiện ở việc người phạm tội bị Tòa án, nhân danh Nhà nước kết án bằng bản án kết tội mà không được thể hiện bằng việc người đó phải chịu hình phạt. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo quyết định hình phạt thì trách nhiệm hình sự không chỉ thể hiện ở bản án kết tội mà còn thể hiện ở loại và mức hình phạt cụ thể mà Tòa án quyết định đối với người phạm tội và dấu hiệu án tích của người đó.

 

Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm. Từ khi đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tố tụng hình sự được thể hiện ở quyết định khởi tố bị can , kết luận điều tra và đề nghị truy tố, quyết định truy tố bằng bản cáo trạng . Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nhất với việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong tố tụng hình sự chỉ là hoạt động tố tụng nhằm xác định các căn cứ để truy tố người phạm tội ra xét xử tại Tòa án. Thực chất hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động công tố, trong đó vai trò quyết định việc truy tố thuộc về Viện kiểm sát. Còn chức năng xét xử, kết tội người bị truy tố lại thuộc về Tòa án. Trên cơ sở quyết định truy tố của Viện kiểm sát, Tòa án sẽ ra quyết định kết tội hay không kết tội người bị truy tố. Nếu một người không bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người đó không thể "bị coi là có tội". Trong trường hợp Tòa án xác định người bị truy tố đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định nhưng lại có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của Bộ luật hình sự, thì Tòa án sẽ không ra bản án kết tội mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong trường hợp xét thấy có đủ căn cứ để buộc người phạm tội phải chịu sự lên án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó. Bản án kết tội của Tòa án đối với một người là kết quả của cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia giải quyết vụ án hình sự. Bản án kết tội của Tòa án thể hiện sự lên án có tính chất phủ định của Nhà nước, mà Tòa án là người đại diện, đối với hành vi phạm tội và người phạm tội. Người phạm tội có thể bị Tòa án kết tội nhưng không phải chịu hình phạt, nếu bản án kết tội gắn với việc Tòa án quyết định miễn hình phạt đối với người bị kết án. Trong trường hợp này Tòa án không quyết định loại hình phạt nhất định đối với người phạm tội.

 

Khác với người được miễn trách nhiệm hình sự, người được miễn hình phạt vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu sự lên án của Nhà nước, mà Tòa án là người đại diện, thông qua bản án kết tội của Tòa án. Người được miễn hình phạt vẫn "bị coi là có tội", nhưng không phải chịu hình phạt. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, việc miễn hình phạt đối với người phạm tội được thể hiện ngay trong bản án kết tội của Tòa án, trong đó có tuyên miễn hình phạt đối với người đó (10)

 

Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì nội dung của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu không chỉ thể hiện ở việc người đó bị kết án, bị coi là có tội mà còn thể hiện ở việc người đó bị áp dụng loại hình phạt cụ thể và bị coi là có án tích từ thời điểm bản án kết tội của Tòa án đối với người đó có hiệu lực pháp luật. Như vậy, trong trường hợp này, mức độ trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu đã được cá thể hóa bằng loại và mức hình phạt cụ thể mà Tòa án quyết định đối với người đó, mức độ nặng, nhẹ của trách nhiệm hình sự được thể hiện ở mức độ nặng, nhẹ của loại hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với người bị kết án.

 

Cùng với bản án kết tội của Tòa án và hình phạt mà Tòa án quyết định đối với người phạm tội, án tích đối với người bị kết án cũng là một trong những hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có thể có những điểm gần giống nhau về hình thức thể hiện. Ví dụ, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính đều có hình thức xử lý là cảnh cáo, phạt tiền. Nhưng cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự, khác với cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ, người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự luôn gắn với hậu quả pháp lý là người đó bị coi là có án tích. án tích chỉ có thể được xóa khi đáp ứng những điều kiện do luật định (từ Điều 63 đến Điều 67 Bộ luật hình sự). án tích gắn liền với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Một người bị coi là còn án tích nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn hiệu lực pháp luật. Đúng như Iakôvlev A. M. đã viết: "Án tích chưa được xóa có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một người đã chấp hành xong hình phạt quyết định đối với người đó" (11). Trong trường hợp người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người đó. Người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 Bộ luật hình sự) và gắn với việc bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn những người không có án tích mà phạm tội khi các điều kiện khác giống nhau (người tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm có thể bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng của tội phạm đã thực hiện hoặc bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự). Án tích luôn tồn tại cùng với bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội. Nói cách khác, án tích chính là một trong những hình thức thể hiện hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu, một trong những hình thức thể hiện tính nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác.

 

Như vậy, theo quan điểm chúng tôi, bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý chính thức xác nhận người phạm tội bị coi là có tội. Cùng với bản án kết tội, Tòa án có thể quyết định hình phạt hoặc quyết định miễn hình phạt đối với người phạm tội. Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật gắn liền với dấu hiệu án tích của người bị kết án (trừ trường hợp người chưa thành niên phạm tội bị Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt). Trách nhiệm hình sự luôn gắn liền với bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo việc Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự mà một người phải chịu không chỉ thể hiện ở việc bị kết tội, bị coi là có tội, mà còn thể hiện ở việc người đó bị coi là có án tích, án tích chỉ được xóa khi có những điều kiện do luật định.

 

Các biện pháp cưỡng chế mà các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án như các biện pháp ngăn chặn: tạm giữ, tạm giam hoặc các biện pháp tư pháp: bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng, nếu được áp dụng đối với người phạm tội mà người đó bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì cũng được chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự nếu chúng được tính trừ vào thời gian chấp hành hình phạt của người bị kết án hoặc được áp dụng thay thế hình phạt (biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng).

 

Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

 

Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự là kết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng hình sự. Song trách nhiệm hình sự chỉ có thể do Tòa án, nhân danh Nhà nước, áp dụng đối với người phạm tội.

 

Theo Bộ luật tố tụng hình sự nước ta, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện tội phạm thì khởi tố bị can. Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể phạm tội mới hoặc ngăn chặn việc bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc có hành vi khác gây cản trở cho việc việc thi hành án. Người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu sau đó Cơ quan điều tra quyết định đình chỉ điều tra (Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự), Viện kiểm sát hoặc Tòa án đình chỉ vụ án (Điều 169 và Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự) hoặc tại phiên tòa, Tòa án không kết tội mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Các biện pháp ngăn chặn không phải là hậu quả pháp lý tất yếu của việc phạm tội, không phải người phạm tội nào cũng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án gắn với các quyết định tố tụng như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, quyết định truy tố bị can. Song quá trình giải quyết vụ án cùng với việc áp dụng các biện pháp đó của các cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và đủ để có thể truy tố người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án. Chức năng xét xử, kết tội người phạm tội thuộc về Tòa án. Căn cứ vào kết quả của quá trình điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra phán quyết về việc có kết tội người đã bị truy tố hay không. Nếu có đủ cơ sở để kết án người phạm tội, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó, bản án kết tội của Tòa án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội. Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước và việc phải chịu trách nhiệm hình sự từ phía người phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tòa án đối với bị cáo có hiệu lực pháp luật.

 

Thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời điểm bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự, người phạm tội chính thức phải chịu trách nhiệm hình sự trước Nhà nước, chính thức "bị coi là có tội". Nếu không có những lý do đặc biệt, người phạm tội sẽ phải chấp hành toàn bộ hình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội.

 

Theo luật hình sự Việt Nam, người được miễn hình phạt vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu sự kết án của Nhà nước mà Tòa án là người đại diện, tuyên trước phiên tòa. Tuy nhiên, sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trách nhiệm hình sự của người được miễn hình phạt cũng chấm dứt luôn vì, theo quy định của Bộ luật hình sự, người được miễn hình phạt đương nhiên được xóa án tích mà không cần phải trải qua một khoảng thời gian nào. Theo chúng tôi, đây là điều không hợp lý, bởi vì trong trường hợp được miễn hình phạt, trách nhiệm hình sự không được thể hiện ở dấu hiệu án tích, một trong những hình thức thể hiện tính nghiêm khắc hơn của trách nhiệm hình sự so với các dạng trách nhiệm pháp lý khác. Để đảm bảo tính nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự và đảm bảo tính đồng bộ trong các biện pháp xử lý, theo chúng tôi, Bộ luật hình sự cần sửa đổi quy định về việc đương nhiên được xoá án tích của người được miễn hình phạt. Theo đó, cần quy định đối với người được miễn hình phạt thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật qua một thời gian nhất định mà người đó không phạm tội mới thì mới được xóa án tích.

 

Thông thường, bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật sẽ được đem ra thi hành. Song có thể xảy ra trường hợp việc thi hành án không được thực hiện vì hết thời hiệu thi hành bản án (quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự) do những nguyên nhân khác nhau, như cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án vì sơ suất đã không ra quyết định thi hành án hoặc mặc dù đã có quyết định thi hành án nhưng quyết định đó bị thất lạc hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án đã quên không thi hành án và thời hiệu thi hành bản án đã hết. Trong những trường hợp này, người bị kết án không phải chấp hành bản án mà Tòa án đã tuyên.

 

Trong những trường hợp hết thời hiệu thi hành bản án, mặc dù bản án kết tội của Tòa án có kèm theo việc quyết định hình phạt đối với người bị kết án, nhưng trách nhiệm hình sự của người bị kết án sẽ không được thể hiện ở việc người đó phải chấp hành bản án của Tòa án. Tuy nhiên, việc hết thời hiệu thi hành bản án không có nghĩa là trách nhiệm hình sự đối với người bị kết án đã chấm dứt. Trong trường hợp này, người bị kết án vẫn còn án tích, nghĩa là trách nhiệm hình sự của người đó vẫn còn. án tích đối với người đó chỉ được xóa sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

 

Ngoài trường hợp hết thời hiệu thi hành bản án, thông thường, người bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có kèm theo quyết định hình phạt sau khi có quyết định thi hành bản án sẽ phải chấp hành hình phạt, nghĩa là phải chấp hành biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự.

 

Theo quy định tại Điều 258 và Điều 259 Bộ luật tố tụng hình sự, đối với trường hợp người bị kết án bị xử phạt tử hình, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bản án tử hình được thi hành, nếu trong thời hạn hai tháng kể từ ngày nhận được bản án và hồ sơ vụ án không có kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm án tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm. Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong các loại hình phạt. Đối với người bị kết án tử hình, trách nhiệm hình sự kết thúc khi hình phạt tử hình được thi hành xong.

 

Đối với người bị phạt các hình phạt khác không phải hình phạt tử hình, theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án cùng cấp ra quyết định thi hành án.

 

Thông thường, sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật có kèm theo quyết định hình phạt tù đối với người bị kết án, người bị kết án sẽ phải chấp hành hình phạt khi có quyết định thi hành án của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc thi hành án phạt tù có thể bị hoãn nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù nếu người bị kết án đang phải chấp hành hình phạt tù khi có những điều kiện được quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự. Việc hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù không có nghĩa là hoãn hoặc tạm đình chỉ việc thực hiện trách nhiệm hình sự của người bị kết án. Vì án tích của người bị kết án được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vẫn đang tồn tại.

 

Theo khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho người đó được miễn việc khấu trừ thu nhập. Việc phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ (12) và bị khấu trừ một phần thu nhập là những bộ phận cấu thành việc chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nghĩa là bộ phận cấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự của người bị kết án. Trong quá trình chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nếu người bị kết án chấp hành tốt các nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ, tỏ ra có nhiều tiến bộ, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, nghĩa là được xét giảm thời hạn chịu trách nhiệm hình sự.

 

Người bị kết án phạt tù được hưởng án treo ngoài việc bắt buộc phải chịu thời gian thử thách với điều kiện là trong thời gian thử thách không được phạm tội mới còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách (khoản 3, 4 Điều 60 Bộ luật hình sự). Cơ sở để đánh giá sự tiến bộ của người bị kết án hưởng án treo cũng là việc người bị kết án chấp hành tốt các quy định về nghĩa vụ của người được hưởng án treo (13).

 

Theo khoản 5 Điều 5 Nghị định số 60/2000/NĐ-CP và Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ, người bị phạt cải tạo không giam giữ và người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, nếu là cán bộ, công chức, quân nhân, người lao động làm công ăn lương, thì thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và thời gian thử thách của án treo vẫn được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ nhưng không được tính vào thời gian xét nâng lương, phong quân hàm theo niên hạn (14)

 

Như vậy, người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo và người bị phạt cải tạo không giam giữ mặc dù vẫn được sống, sinh hoạt trong cuộc sống cộng đồng, nhưng do họ đang phải chịu trách nhiệm hình sự, đang phải mang án tích, vẫn bị hạn chế những quyền và lợi ích nhất định so với những người không có án tích.

 

Trong quá trình chấp hành hình phạt người bị kết án có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt so với mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên khi có những căn cứ được quy định tại Điều 58, 59 Bộ luật hình sự. Việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt đối với người đang phải chấp hành hình phạt là biểu hiện của việc được giảm trách nhiệm hình sự của người bị kết án trong quá trình người đó chấp hành hình phạt.

 

Khi có bản án kết tội có kèm theo việc quyết định hình phạt đối với người bị kết án, thì về nguyên tắc, người bị kết án phải chấp hành hình phạt. Tuy nhiên, theo Điều 57, khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự, trong một số trường hợp, người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt (miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại). Tuy nhiên, việc miễn chấp hành hình phạt không có nghĩa là miễn thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là miễn chấp hành một trong những biện pháp thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự. Người được miễn chấp hành hình phạt vẫn còn phải mang án tích, án tích chỉ được xóa khi có những điều kiện nhất định.

 

Khoản 1 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự đã quy định về các trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; khoản 4, 5 Điều 57 và khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự quy định về các trường hợp miễn chấp hành phần hình phạt còn lại, khoản 2 Điều 57 Bộ luật hình sự quy định cả trường hợp miễn chấp hành toàn bộ hình phạt (nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt) và miễn chấp hành phần hình phạt còn lại (nếu người bị kết án đang phải chấp hành hình phạt).

 

Vấn đề đặt ra là trong trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại không? Đây là trường hợp chưa được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự.

 

Theo chúng tôi, khi đã thừa nhận trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật hình sự, người bị kết án có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt nếu người đó chưa chấp hành hình phạt, thì cũng cần phải thừa nhận trường hợp có những điều kiện tương tự khi người bị kết án đã chấp hành được một phần hình phạt cũng có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

 

Có ý kiến cho rằng, trường hợp một người đang phải chấp hành hình phạt có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đã được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 58 và Điều 59 Bộ luật hình sự. Theo chúng tôi, ý kiến này không xác đáng vì Điều 58 và Điều 59 Bộ luật hình sự không phải quy định về miễn chấp hành hình phạt mà là quy định về giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Miễn chấp hành hình phạt và giảm thời hạn chấp hành hình phạt là khác nhau. Việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt bị ràng buộc bởi những điều kiện nhất định. Khoản 3 Điều 58 Bộ luật hình sự quy định: "Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải đảm bảo chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên". Đối với trường hợp miễn chấp hành phần hình phạt còn lại thì không bị ràng buộc bởi điều kiện này.

 

Vấn đề khác đặt ra là trong trường hợp một người được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính hoặc được miễn phần hình phạt chính còn lại thì người đó có thể được miễn toàn bộ hoặc giảm một phần hình phạt bổ sung hay không?

 

Bộ luật hình sự nước ta chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, ngay cả đối với hình phạt bổ sung, Bộ luật hình sự cũng mới chỉ có quy định về miễn một phần hình phạt còn lại trong một số trường hợp (khoản 5 Điều 57, khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự), chứ chưa có quy định về việc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt bổ sung chưa được chấp hành và chưa có quy định về giảm việc chấp hành hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt bổ sung chưa chấp hành xong.

 

Theo chúng tôi, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, để khuyến khích người bị kết án cải tạo tiến bộ và đảm bảo tính đồng bộ trong việc quy định các trường hợp miễn, giảm hình phạt, khi đã có những quy định về miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính và giảm thời hạn chấp hành hình phạt chính thì cũng cần có những quy định về miễn toàn bộ việc chấp hành hình phạt bổ sung và giảm một phần việc chấp hành hình phạt bổ sung khi có những điều kiện nhất định, nhất là khi người bị kết án được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính hoặc được miễn chấp hành hình phạt chính còn lại.

 

Vấn đề khác đặt ra là vào thời điểm một người được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt chính và không phải chấp hành hình phạt bổ sung thì người đó có đương nhiên được xóa án tích không, nghĩa là việc thực hiện trách nhiệm hình sự đối với người đó đã kết thúc chưa?

 

Nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự cho thấy, Bộ luật hình sự nước ta mới chỉ có quy định về việc đương nhiên xóa án tích đối với trường hợp người bị kết án được miễn hình phạt và những trường hợp người bị kết án đã chấp hành xong bản án sau khi đã qua một thời gian nào đó chứ không có quy định cụ thể về việc xóa án tích trong trường hợp người bị kết án được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

 

Xuất phát từ quan điểm cho rằng án tích là một phần của trách nhiệm hình sự và căn cứ vào điều kiện của việc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt so với điều kiện miễn hình phạt và điều kiện miễn chấp hành phần hình phạt còn lại, chúng tôi cho rằng, không thể coi trường hợp người bị kết án được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt là trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Để được coi là xóa án tích, người bị kết án được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt cũng cần phải trải qua một thời gian nhất định. Nếu trong khoảng thời gian đó, người bị kết án không phạm tội mới thì mới có thể được xóa án tích. Theo chúng tôi, Bộ luật hình sự cần có quy định bổ sung về vấn đề này để tránh những cách hiểu và vận dụng khác nhau.

 

Ngoài trường hợp miễn chấp hành phần hình phạt còn lại được quy định tại khoản 2, 4, 5 Điều 57 và khoản 2 Điều 58 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 43 Bộ luật hình sự còn quy định về việc Tòa án có thể đưa người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt.

 

Như vậy, theo quy định tại Điều 43 Bộ luật hình sự, một người đang phải chấp hành hình phạt mà bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, sau khi khỏi bệnh có thể được xem xét để miễn chấp hành phần hình phạt còn lại. Tuy nhiên, Điều 57 Bộ luật hình sự về các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt lại không quy định về việc miễn chấp hành hình phạt trong trường hợp này.

 

Theo chúng tôi, đây là điều cần được bổ sung vào Bộ luật hình sự. Điều kiện để được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh sau khi đã khỏi bệnh cũng cần được xác định giống như trường hợp miễn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật hình sự, nghĩa là chỉ nên quy định áp dụng đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, nếu sau khi khỏi bệnh người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

 

Như vậy, khi quy định các biện pháp miễn, giảm hình phạt trong quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự, Bộ luật hình sự hiện hành còn thiếu những quy định cụ thể về việc người bị kết án có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại trong trường hợp người đó bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đang phải chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Bộ luật hình sự cũng không có quy định về việc người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt chính (miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc miễn chấp hành phần hình phạt còn lại) cũng có thể được miễn chấp hành hình phạt bổ sung trong những trường hợp nhất địn; không quy định cụ thể về việc người bị kết án có thể được giảm hình phạt bổ sung nếu trong thời gian chấp hành hình phạt, người đó đã lập công hoặc có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt... Theo chúng tôi, những vấn đề trên cần được bổ sung vào Bộ luật hình sự để tạo ra sự đồng bộ trong các quy định về miễn, giảm hình phạt và phù hợp với các nguyên tắc pháp chế, nhân đạo, công bằng của luật hình sự.

 

Khoản 4 Điều 67 Bộ luật hình sự quy định về việc người được miễn chấp hành hình phạt còn lại được coi như chấp hành xong hình phạt. Theo chúng tôi, cũng cần bổ sung vào điều khoản này việc người được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt cũng được coi như chấp hành xong hình phạt để tính thời hạn xóa án tích đối với người đó và để khẳng định sự khác biệt giữa hậu quả của việc miễn hình phạt với hậu quả của việc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

 

Theo quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự, thời gian mà người bị kết án phải chấp hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Điều này có nghĩa là trong trường hợp người phạm tội bị kết án phạt tù mà bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, thì thời gian bắt buộc chữa bệnh đã được chuyển thành một bộ phận của việc chấp hành hình phạt tù, nghĩa là một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Nếu thời gian bắt buộc chữa bệnh của người bị kết án bằng hoặc dài hơn thời gian người đó phải chấp hành hình phạt tù thì đương nhiên sau khi khỏi bệnh, người bị kết án sẽ không phải chấp hành hình phạt tù nữa. Hay nói cách khác, trong trường hợp này, người đó được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

 

Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận một người đã phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc chấp hành bản án kết tội là thể hiện việc thực hiện trách nhiệm hình sự của người bị kết án. Theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Bộ luật hình sự, việc chấp hành bản án của người bị kết án bao gồm việc chấp hành hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án.

 

Như vậy, theo luật hình sự Việt Nam, để được coi là chấp hành xong bản án thì người bị kết án không chỉ đã chấp hành xong hình phạt, bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (nếu có) mà còn phải chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Theo hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, các quyết định khác của bản án có thể là các quyết định: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; án phí... Được coi là đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án nếu người bị kết án đã tự mình chấp hành xong các quyết định đó hoặc các quyết định đó đã được những người khác thực hiện thay. Ví dụ, người thân của người bị kết án đã bồi thường thiệt hại, đã nộp án phí thay cho người bị kết án hoặc người cùng bị kết án phải liên đới bồi thường đã bồi thường đủ toàn bộ theo quyết định của bản án (15)

 

Đối với người bị kết án phạt tù nhưng được hưởng án treo thì để được coi là chấp hành xong bản án nếu người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (nếu có) và đã chấp hành xong thời gian thử thách, nghĩa là trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới.

 

Bản án kết tội là hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự, song việc người bị kết án chấp hành xong bản án chưa phải là sự kiện kết thúc việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự của một người chỉ kết thúc khi án tích đối với người ấy được xóa. Theo các điều 64, 65 và khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự nước ta, thời hạn để xóa án tích đối với người bị kết án được tính từ khi người đó chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án đã qua một thời gian nhất định căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

 

Theo luật hình sự Việt Nam, ngoài trường hợp người bị kết án được miễn hình phạt thì đương nhiên được xóa án tích mà không cần phải có thêm điều kiện nào khác, còn những trường hợp Tòa án quyết định hình phạt nào đó đối với người bị kết án thì người bị kết án chỉ được xóa án tích sau khi đã chấp hành xong bản án hoặc sau khi hết thời hiệu thi hành bản án, họ không phạm tội mới khi đã qua một thời hạn nhất định.

 

Điều 64 Bộ luật hình sự đã quy định cụ thể những trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Đây là những trường hợp xóa án tích của những người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (các tội phạm được quy định tại Chương XI và Chương XXV của Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, Điều 270 Bộ luật tố tụng hình sự lại quy định: "Theo yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng nhận là họ đã được xóa án tích".

 

Vấn đề đặt ra là quy định trên cần được hiểu như thế nào, người đương nhiên được xóa án tích có cần phải được cấp chứng nhận là họ đã được xóa án tích mới được coi là xóa án tích hay không? Chúng tôi cho rằng, Điều 64 Bộ luật hình sự đã quy định về những trường hợp đương nhiên được xóa án tích để phân biệt với những trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án (quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự). Điều này có nghĩa là những trường hợp thỏa mãn quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự thì không cần người bị kết án phải xin cấp chứng nhận là họ đã được xóa án tích mới coi là được xóa án tích. Tuy nhiên, nếu người đương nhiên được xóa án tích có yêu cầu đề nghị được cấp giấy chứng nhận là họ đã được xóa án tích thì Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án mới phải cấp giấy chứng nhận cho họ theo quy định tại Điều 270 Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy, Điều 270 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định về thủ tục, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đã được xóa án tích trong trường hợp người đương nhiên được xóa án tích có yêu cầu chứ không phải quy định có tính chất bắt buộc đối với mọi trường hợp đương nhiên được xóa án tích.

 

Nếu như Điều 64 Bộ luật hình sự quy định về những trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì Điều 65 Bộ luật hình sự lại quy định về những trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Khác với trường hợp đương nhiên được xóa án tích, theo đó người bị kết án đương nhiên được xóa án tích mà không cần có quyết định của Tòa án nếu sau khi chấp hành xong bản án, đã qua một thời gian nhất định mà người đó không phạm tội mới, trong những trường hợp được quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, người bị kết án sau khi đã chấp hành xong bản án, đã trải qua một thời gian nhất định mà không phạm tội mới, muốn được xóa án tích phải viết đơn gửi cho Tòa án đề nghị được xóa án tích. Trên cơ sở cân nhắc tính chất của tội phạm mà người bị kết án đã thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án, nếu thấy đủ điều kiện để xóa án tích thì Tòa án sẽ ra quyết định xóa án tích. Nếu thấy người bị kết án chưa đủ điều kiện để được xóa án tích thì Tòa án sẽ ra quyết định bác đơn xin xóa án tích của người bị kết án. Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định: "Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích. Nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích".

 

Ngoài trường hợp xóa án tích thông thường, Bộ luật hình sự nước ta còn quy định về trường hợp xóa án tích đặc biệt tại Điều 66 Bộ luật hình sự. Đây là quy định về việc rút ngắn thời hạn xóa án tích hơn so với thời hạn được xóa án tích quy định tại Điều 64 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại Điều 66 Bộ luật hình sự, trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị , thì có thể được Tòa án xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định.

 

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta xác nhận, để coi người bị kết án là người có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt, phải xác định được người đó sau khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án đã hòa nhập vào cộng đồng, tham gia làm ăn lương thiện, chấp hành đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước... Còn để xác định người bị kết án là người đã lập công phải xác định được là người đó đã có thành tích xuất sắc trong cuộc sống, trong sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác, được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận (16).

 

Trình tự, thủ tục xóa án tích do Tòa án quyết định đã được quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng hình sự. Theo quy định này thì trong trường hợp xóa án tích do Tòa án quyết định, người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án kèm theo nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc. Sau khi nhận được hồ sơ, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải chuyển tài liệu về việc xin xóa án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp để phát biểu ý kiến bằng văn bản. Nếu xét thấy đủ điều kiện thì Chánh án ra quyết định xóa án tích; trong trường hợp chưa đủ điều kiện thì Chánh án ra quyết định bác đơn xin xóa án tích. Thời điểm một người có những điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự và thời điểm Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án ra quyết định xóa án tích đối với người bị kết án là thời điểm kết thúc trách nhiệm hình sự của người đó.

 

Theo quy định tại các điều 64, 65, 67 Bộ luật hình sự, thời hạn người bị kết án được xóa án tích được tính từ ngày người đó chấp hành xong bản án đã qua một khoảng thời gian nhất định mà không phạm tội mới. Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Chúng tôi cho rằng, quy định như vậy không hợp lý. Bởi vì, các quyết định khác của bản án như tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, án phí... được thực hiện cả trong trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt, mà miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt thì không gắn với án tích (theo luật hình sự Việt Nam, miễn hình phạt là trường hợp đương nhiên được xóa án tích). Những quyết định trên gắn với bản án kết tội có quyết định hình phạt thì lại trở thành điều kiện để xóa án tích, nghĩa là các quyết định đó lại được coi như một bộ phận cấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Điều này rõ ràng là không phù hợp. Mặt khác, trong các quyết định trên, việc bồi thường thiệt hại trong các vụ án có đồng phạm thường được quyết định dưới dạng các bị cáo phải liên đới bồi thường thiệt hại. Như vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là trách nhiệm chung của tất cả những người bị kết án, trong khi đó trách nhiệm hình sự bao giờ cũng là trách nhiệm cá nhân. Gắn việc phải hoàn thành trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại như một điều kiện bắt buộc để xác nhận hoàn thành trách nhiệm hình sự riêng của cá nhân người bị kết án là không phù hợp. Một thực tế khác cũng phải tính đến là nhiều trường hợp người bị kết án không thể có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà mình đã gây ra. Trong trường hợp này, phải chăng án tích đối với người đó sẽ tồn tại suốt đời? Vì những lý do trên, theo chúng tôi, Bộ luật hình sự cần có những sửa đổi, bổ sung về cách tính thời hạn để xóa án tích. Chúng tôi đề xuất sửa đổi quy định về thời hạn xóa án tích trong Bộ luật hình sự theo hướng tính từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt đã qua một thời hạn nhất định thay cho việc tính từ khi người bị kết án chấp hành xong bản án đã qua một thời hạn nhất định như quy định của Bộ luật hình sự hiện hành.

 

Trên cơ sở phan tích những đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự như trên, có thể rút ra khái niệm trách nhiệm hình sự như sau: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.

 

-------------------------------------------

 

Phần chú thích:

 
 

(1). Xem: Kurlianđxki V. I. “Trách nhiệm hình sự và các biện pháp tác động xã hội”, Matxcova, 1965, tr.32 (tiếng Nga).

 

(2). Xem: Leeykina N. X. “Nhân thân người phạm tội và trách nhiệm hình sự”, Nxb. Trường ĐHTH Leeningad, 1968, tr.31 (tiếng Nga); bagri-Sakhamatov. L.V. “Trách nhiệm hình sự và hình phạt”, NXb. Đại học, Minsk, 1976, tr.31 (tiếng Nga)..

 

(3). Xem:Xamosenko I.X.Pharksin M.Kh. Trách nhiệm theo pháp luật Xô Viết, Matxcova, 1971, tr. 61 (tiếng Nga).

 

(4). Xem: Zagaroddnhikov N. I. “Về giới hạn trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô viết, 1967, số 7, tr.39-40 (tiếng Nga); Tkatrevxki Iu. M. “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự” – Trong sách: Luật hình sự Xô viết (Phần chung), Nxb. ĐHTH Maxcova, 1981, tr.29 (tiếng Nga);

 

(5). Xem: Piontkovxki A. A. “Về khái niệm trách nhiệm hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô viết, 1967, Số 12, tr.44 (tiếng Nga); cũng xem: Piontkovxki A. A. Tập bài giảng Luật hình sự Xô viết, 6 tập, Tập 3, Maxcova, 1970, tr. 12 (tiếng Nga); Grisanhin P. Ph. “Cơ sở và phạm vi trách nhiệm của những người tái phạm”, Tạp chí nhà nước và pháp luật Xô viết, 1974, số 10, tr. 92 (tiếng Nga); Marxev A. I. “Khái niệm và nội dung của trách nhiệm hình sự” – Trong sách: Những vấn đề của cuộc đấu tranh Kovalev M.I. “Luật hình sự Xô viết”, Tập các bài giảng, Tập 1, Nhập môn hình sự, Xverđlôvxk, 1971, tr. 124 (tiếng Nga)…

 

(6). Xem: Iakovlev A. M “Cuộc đấu tranh chống tình trạng tái phạm”, Maxcova, 1964, tr. 35-38 (tiếng Nga); Bagri-Sakhamatov L.V. “Trách nhiệm hình sự và hình phạt”, Sđd, tr. 61-62 (tiếng Nga); tkatrevxki Iu. M. “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự”. Chương 2 – Trong sách: Luật hình sự Xô viết (Phần chung), Nxb. ĐHTH Maxcova, 1981, tr.30 (tiếng Nga); cũng xem:Tkatrevxki Iu. M. “Đạo luật hình sự”. Chương 4 – Trong sách: Luật hình sự (Phần chung), Nxb. Trường ĐHTH Maxcova, 1993, tr. 77 (tiếng Nga); Naumov A. V. “Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự”. Chương 10 – Trong sách: Giáo trình Luật hình sự (Phần chung), Nxb. XPARK, Maxcova, 1996, tr.155 (tiếng Nga)…

 

(7). Xem: Bratux X. N. “Trách nhiệm pháp lí và pháp chế”, Maxcova, 1976, tr. 103 (tiếng Nga).

 

(8). Enhikeev Z. Đ. “Các biện pháp ngăn chặn có tính chất tố tụng hình sự”, Tạp chí Pháp luật, 1978, số 6, tr. 64 (tiếng Nga).

 

(9) C. Mác - Ph. Ăngghen (1978), Toàn tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 169

 

(10). Xem: Tập luật lệ về tư pháp (1957), Bộ Tư pháp xuất bản, Hà Nội, tr. 104.

 

(11). Xem: Iakovlev A. M. “Cuộc đấu tranh chống tình trạng tái phạm…”, Sđd, tr. 38 (tiếng Nga).

 

(12) Xem: Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/200 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

 

(13) Xem: Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/200 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.

 

(14) Xem: Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/200 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ và Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/200 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.

 

(15), (16) Xem: Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2000), hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi