Một số vấn đề về nhận thức và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, là căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong phạm vi một khung hình phạt) so với các trường hợp phạm tội tương tự khác nhưng không có tình tiết tăng nặng đó.



MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHẬN THỨC VÀ ÁP DỤNG CÁC

TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

                                                                             TS. Phạm Mạnh Hùng

                                                                     Viện kiểm sát nhân dân tối cao

 

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, là căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong phạm vi một khung hình phạt) so với các trường hợp phạm tội tương tự khác nhưng không có tình tiết tăng nặng đó.

Trong Luật hình sự Việt Nam, các tình tiết tăng nặng đã được quy định cụ thể tại Điều 48 BLHS. Khoản 1 Điều 48 BLHS quy định:

 “Chỉ những tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong trạng thái không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm”.

Vấn đề đặt ra là nhận thức và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trên như thế nào, nhất là trong những trường hợp phạm tội có sự đan xen giữa các tình tiết tăng nặng với nhau; giữa các tình tiết định tội, định khung hình phạt với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; giữa các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với các tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội; giữa các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến một số nội dung liên quan đến những vấn đề trên.

1. Vấn đề áp dụng pháp luật trong một số trường hợp có sự đan xen giữa các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 48 BLHS

 - Áp dụng pháp luật trong trường có sự đan xen giữa tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức” và  tình tiết “Phạm tội nhiều lần”.

Khoản 3 Điều 20 BLHS quy định:

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”.

Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về các dạng biểu hiện của sự câu kết chặt chẽ để coi trường hợp phạm tội cụ thể nào đó là phạm tội có tổ chức như sau:

“a) Những người đồng phạm đã tham gia vào một tổ chức phạm tội như: đảng phái, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp... có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất nhau cùng hoạt động phạm tội...

b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước...

c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm...”

Như vậy, thực tiễn xét xử nước ta thừa nhận một trong những biểu hiện của phạm tội có tổ chức là những người đồng phạm cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch thống nhất trước.

Vấn đề là trong trường hợp những người đồng phạm cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch thống nhất trước thì chỉ áp dụng một tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tổ chức” (điểm a khoản 1 Điều 48 BLHS) hay là phải áp dụng cả hai tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tổ chức” và “Phạm tội nhiều lần” (điểm a và điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS)?

Theo chúng tôi, tình tiết “phạm tội có tổ chức” và tình tiết “phạm tội nhiều lần” mặc dù có thể có sự đan xen lẫn nhau nhưng chúng có ý nghĩa độc lập. Tình tiết “Phạm tội nhiều lần” chỉ cần thoả mãn dấu hiệu phạm tội từ hai lần trở lên về cùng một loại tội và trong các lần phạm tội có ít nhất từ hai lần phạm tội mà người phạm tội chưa được miễn trách nhiệm hình sự, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, nếu như trường hợp những người đồng phạm phạm tội nhiều lần nhưng không theo một kế hoạch đã thống nhất trước thì chỉ áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” đối với họ, còn trường hợp những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch thống nhất trước thì phải áp dụng cả hai tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” và “Phạm tội có tổ chức” đối với những người phạm tội.

- Áp dụng pháp luật trong trường hợp có sự đan xen giữa tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” và “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.

Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 BLHS. Theo đó, chỉ được phép áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi đã xác định được trường hợp phạm tội cụ thể có đủ hai điều kiện: Một là, người phạm tội cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm, không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích. Hai là, người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Cũng theo Nghị quyết trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà có thể áp dụng đối với người phạm tội cả tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Phạm tội nhiều lần”, thậm chí cả tình tiết “tái phạm” hoặc “tái phạm nguy hiểm” nếu trường hợp phạm tội cụ thể thoã mãn các điều kiện đó.

Điều cần chú ý là, chỉ có thể viện dẫn cùng một lúc hai tình tiết tăng nặng “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Phạm tội nhiều lần” đối với người phạm tội khi xác định được trường hợp phạm tội cụ thể nào đó vừa thoả mãn điều kiện của “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” vừa thoả mãn điều kiện “Phạm tội nhiều lần”, nghĩa là trong năm lần phạm tội để xác định một người thuộc trường hợp “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, ít nhất phải có hai lần phạm tội trở lên người phạm tội chưa được miễn trách nhiệm hình sự, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Phân biệt một số tình tiết định tội với tình tiết định khung hình phạt và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt

Trong quá trình áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải phân biệt rõ tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết định tội là tình tiết do nhà làm luật quy định dùng để xác định một hành vi cụ thể nào đó có phạm tội (phạm vào một tội danh cụ thể được quy định trong luật hình sự) không? Trong khoa học luật hình sự, tình tiết định tội còn được gọi là tình tiết (dấu hiệu) thuộc cấu thành tội phạm cơ bản.

 Tình tiết định khung hình phạt là tình tiết do nhà làm luật quy định trong các khoản (giảm nhẹ hoặc tăng nặng) của điều luật cụ thể, dùng để xác định trường hợp phạm tội cụ thể nào đó có thuộc trường hợp được quy định ở khung hình phạt tăng nặng hoặc khung hình phạt giảm nhẹ của của tội phạm đó không?. Trong khoa học luật hình sự, tình tiết định khung hình phạt còn được gọi là tình tiết (dấu hiệu) thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng (khung tăng nặng) và cấu thành tội phạm giảm nhẹ (khung giảm nhẹ).

 Thông thường, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, người áp dụng pháp luật trước hết phải xác định được hành vi của người nào đó có phạm tội không, nếu có thì phạm tội gì, nghĩa là phải định tội (xác định tội danh) đối với hành vi mà một người đã thực hiện. Sau đó, phải xác định xem hành vi phạm tội mà người đó thực hiện thuộc trường hợp được quy định ở khung hình phạt nào (khoản nào của điều luật), nghĩa là phải xác định khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Sau khi đã xác định được tội danh, điều khoản áp dụng đối với người phạm tội, người áp dụng pháp luật mới cân nhắc xem mức hình phạt cụ thể cần áp dụng đối với người phạm tội ở mức nào trong khung hình phạt là phù hợp. Việc cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để xác định mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội trong phạm vi một khung ghình phạt (quyết định hình phạt) chỉ được thực hiện sau khi đã định tội (xác định tội danh, điều luật áp dụng), định khung hình phạt (xác định khoản của điều luật áp dụng).

Theo quy định tại khoản 2 Điều 48 BLHS, những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Theo quy định này, khi áp dụng pháp luật, cần chú ý một số điểm sau:

- Phân biệt tình tiết “tổ chức” là tình tiết định tội trong một số tội phạm với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức”.

Trong một số điều luật, nhà làm luật đã quy định tình tiết “tổ chức” là tình tiết định tội. Ví dụ: Tội tổ chức tảo hôn (Điều 148), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 197), Tội tổ chức đánh bạc (Điều 249), Tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 275). Trong các trường hợp trên, tình tiết “tổ chức” được hiểu là hành vi tổ chức của một người cụ thể, không nhất thiết phải có hành vi đồng phạm hoặc nếu có đồng phạm thì không nhất thiết phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm. Còn tình tiết “Phạm tội có tổ chức” là tình tiết thể hiện sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm trong việc cùng thực hiện một tội phạm. Bởi vậy, trong các trường hợp những người đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ với nhau cùng thực hiện các tội phạm trên (được quy định tại các điều 148, 249, 275 BLHS) thì cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 BLHS để quyết định hình phạt đối với những người phạm tội.

- Phân biệt tình tiết “Đã bị kết án ... chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” là tình tiết định tội của một số tội phạm với tình tiết “tái phạm” hoặc “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong một số điều luật, nhà làm luật quy định tình tiết “Đã bị kết án ... chưa được xoá án tích” cùng với các tình tiết khác là tình tiết định tội của tội phạm. Ví dụ, trong một số tội có tính chất chiếm đoạt tài sản, cùng với việc quy định tình tiết chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000 đồng trở lên, nhà làm luật còn quy định hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 500.000 đồng nhưng thuộc trường hợp “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” là dấu hiệu định tội (các điều 137, 138, 139 BLHS). Trong các trường hợp này, nếu không có tình tiết “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” thì hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 500.000 đồng chỉ là hành vi vi phạm mà chưa phải hành vi tội phạm. Do vậy, cũng chưa thể coi những trường hợp đó là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm để áp dụng tình tiết định khung hình phạt tăng nặng (tái phạm nguy hiểm) hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (tái phạm). Trong trường hợp hành vi đã thực hiện không cần có dấu hiệu “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” đã thoả mãn cấu thành cơ bản của tội phạm, đồng thời lại thoả mãn thêm dấu hiệu tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 49 BLHS thì mới được áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” hoặc “tái phạm” là tình tiết định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Cần lưu ý, về nguyên tắc, tình tiết đã là yếu tố định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Song, điều này không có nghĩa là khi nhà làm luật quy định tình tiết nào đó là tình tiết định khung hình phạt của một tội phạm cụ thể (quy định trong một khung hình phạt cụ thể), thì đương nhiên, trong mọi trường hợp nếu một người thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại điều luật đó thì không thể coi tình tiết đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Vấn đề là ở chỗ, tuỳ từng trường hợp phạm tội cụ thể, đối chiếu hành vi thực tế với các quy định của luật hình sự, chúng ta mới có thể xác định tình tiết nào là tình tiết định khung hình phạt và tình tiết nào là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Ví dụ, một người phạm tội trộm cắp tài sản có giá trị 20 triệu đồng và thoả mãn dấu hiệu “Tái phạm nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” thì tình tiết  Tái phạm nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” được coi là tình tiết định khung hình phạt tại điểm b, c khoản 2 Điều 138 BLHS, do vậy, không được phép viện dẫn điểm b, g khoản 1 Điều 48 BLHS để coi các tình tiết này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nữa. Tuy nhiên, nếu người phạm tội trộm cắp tài sản có giá trị 200 triệu đồng và thoả mãn điều kiện “Tái phạm nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” thì tình tiết trộm cắp tài sản có giá trị 200 triệu đồng được coi là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 3 Điều 138 BLHS đối với người phạm tội. Trong trường hợp này, tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” không phải là tình tiết định khung hình phạt tại khoản 3 Điều 138 BLHS  nhưng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, g khoản 1 Điều 48 BLHS nên khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Toà án phải viện dẫn thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” để quyết định hình phạt tăng nặng đối với người phạm tội (quyết định hình phạt tăng nặng trong phạm vi khung hình phạt tại khoản 3 Điều 138 BLHS)  

- Phân biệt tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” là tình tiết định tội với tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong một số điều luật,, nhà làm luật đã quy định cụ thể dấu hiệu “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” là dấu hiệu định tội. Ví dụ, tội tham ô tài sản (Điều 278), tội nhận hối lộ (Điều 279), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283), tội giả mạo trong công tác (Điều 284), tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật (Điều 297)... Tuy nhiên, dấu hiệu “lợi dụng chức vụ quyền hạn” không phải bao giờ cũng được nêu cụ thể trong điều luật mà nhiều trường hợp cần phải được hiểu trên tinh thần của điều luật. Ví dụ trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp do nhân viên tư pháp (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán...) thực hiện do lỗi cố ý (các điều 293, 294, 295, 296, 298, 299, 300 BLHS) thì đương nhiên tình tiết “lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội” đã là tình tiết định tội rồi, do vậy, không được phép áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 để quyết định hình phạt tăng nặng đối với người phạm tội nữa.

3. Vấn đề xác định mối quan hệ giữa các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội với các tình tiết khác thuộc về nhân thân (xấu) của người phạm tội khi quyết định hình phạt

Nếu như khoản 2 Điều 46 BLHS quy định: “Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” thì khoản 1 Điều 48 BLHS lại quy định: “Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”. Điều này có nghĩa là ngoài quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, Toà án có thể cân nhắc, coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tộiơinhng không thể coi các tình tiết khác ngoài các tình tiết đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 48 BLHS là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vấn đề đặt ra là, bên cạnh các tình tiết thuộc về nhân thân (xấu) của người phạm tội đã được nhà làm luật quy định là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, “phạm tội nhiều lần”, “tái phạm”, “tái phạm nguy hiểm” (các điểm b, g khoản 1 Điều 48), Toà án có thể cân nhắc đến các tình tiết khác thuộc về nhân thân (xấu) của người phạm tội để quyết định hình phạt tăng nặng hơn so với những trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết nhân thân (xấu) đó không? Ví dụ, người phạm tội đã có tiền án nhưng không thuộc diện tái phạm, tái phạm nguy hiểm; người có hành vi vi phạm pháp luật, đã được giáo dục nhiều lần nhưng không chịu sửa chữa, sau lại phạm tội...

Chúng tôi cho rằng, theo quy định tại Điều 45 BLHS, nhân thân người phạm tội là một trong những căn cứ có ý nghĩa độc lập tương đối so với với các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt. Do vậy, mặc dù các tình tiết thuộc về nhân thân (xấu) của người phạm tội không được đề cập hết tại Điều 48 BLHS nhưng Toà án vẫn phải cân nhắc để đánh giá đầy đủ mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà họ thực hiện và khả năng giáo dục cải tạo họ để quyết định hình phạt cho phù hợp. 

4. Vấn đề đánh giá mối quan hệ giữa các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt

Chúng ta đều biết ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt so với những trờng hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đó, làm căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (giảm nhẹ hình phạt) đối với người phạm tội. Ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt so với các trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết tăng nặng đó, làm căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự (tăng nặng hình phạt) đối với người phạm tội.

Theo quy định tại Điều 45 BLHS, khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp phạm tội không có tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự thì Toà án chỉ cần căn cứ vào các quy định của BLHS, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt. Trong trường hợp phạm tội chỉ có tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì Toà án phải quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhẹ hơn so với các trường hợp phạm tội tương tự khác mà không có tình tiết giảm nhẹ, tuỳ theo số lượng và ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ mà quyết định mức độ giảm nhẹ hình phạt cho phù hợp. Trong trường hợp phạm tội chỉ có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì Toà án phải quyết định hình phạt nặng hơn đối với người phạm tội so với các trường hợp phạm tội tương tự khác nhưng không có tình tiết tăng nặng, tuỳ theo số lượng và ảnh hưởng của các tình tiết tăng nặng. Trong trường hợp người phạm tội có cả tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì Toà án phải cân nhắc đầy đủ tất cả các tình tiết giảm nhẹ và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đánh giá toàn diện các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nếu thấy do ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là tương đương, làm cho  mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong trường hợp cụ thể đó tương tự với trường hợp phạm tội không có tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, thì Toà án phải quyết định hình phạt đối với người phạm tội ở mức giống với trường hợp phạm tội không có các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp người phạm tội có cả tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự mà khi xem xét, có căn cứ xác định ảnh hưởng của tình tiết tiết giảm nhẹ đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội lớn hơn so với ảnh hưởng của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, làm cho mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấp hơn so với những trường hợp tương tự khác không có tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự thì Toà án phải quyết định hình phạt nhẹ hơn so với trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp có căn cứ xác định ảnh hưởng của tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội lớn hơn so với ảnh hưởng của tình tiết giảm nhẹ, làm cho mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cao hơn so với những trường hợp tương tự khác không có tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự thì Toà án phải quyết định mức hình phạt đối với người phạm tội nặng hơn so với các trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi