Hoàn thiện các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp

Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định các biện pháp và các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”.




HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP

                                                                                 

                                                                           Tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

 

Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định các biện pháp và các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn như sau:

“Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”.

Cùng với quy định tại Điều 79 BLTTHS, tại các điều luật quy định về các biện pháp ngăn chặn cụ thể của BLTTHS cũng quy định điều kiện để áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81), bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82), tạm giữ (Điều 86), tạm giam (Điều 88), cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91), bảo lĩnh (Điều 92), đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm (Điều 93), bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên (Điều 303).  

So với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã quy định chặt chẽ hơn căn cứ và điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đề cao hơn trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, nhất là trách nhiệm của Viện kiểm sát, qua đó bảo đảm thực hiện tốt hơn những nguyên tắc của tố tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” (Điều 4), nguyên tắc “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân” (Điều 6) và nguyên tắc “Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân” (Điều 7).

Tuy nhiên, nghiên cứu tổng thể các quy định của BLTTHS và qua thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, một số quy định về các biện pháp ngăn chặn của BLTTHS còn chưa phù hợp với thực tiễn, chưa tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của tố tụng hình sự, trong đó có nguyên tắc Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân và gây khó khăn trong việc giải quyết các vụ án vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trước tình hình đó, nghiên cứu các quy định của BLTTHS nói chung, các quy định về về các biện pháp ngăn chặn nói riêng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, bảo đảm thực hiện tốt hơn các nguyên tắc tố tụng hình sự, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được kịp thời, chính xác là yêu cầu bức thiết.

 Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp là “Xác định rõ căn cứ để tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam”.

Trước những đòi hỏi của thực tế và để thực hiện nhiệm vụ trên, chúng ta phải rà soát lại các quy định của BLTTHS hiện hành, xác định những điểm bất hợp lý để quy định chặt chẽ hơn các căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam và thu hẹp một cách hợp lý thẩm quyền ra quyết định biện pháp tạm giam. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung các quy định về các biện pháp ngăn chặn khác để có thể tăng khả năng áp dụng rộng rãi hơn các biện pháp này thay thế biện pháp tạm giam.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến việc phân tích một số quy định về các biện pháp ngăn chặn của BLTTHS hiện hành, trên cơ sở đó kiến nghị  xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

1. Về vấn đề phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Theo quy định tại khoản 4 Điều 81 BLTTHS, trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn.

Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 83 BLTTHS, sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp..., cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

Với những quy định trên có thể thấy, trong các trường hợp bắt khẩn cấp được BLTTHS quy định thì sau khi việc bắt khẩn cấp đã được thực hiện và Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của người bị bắt, thì Viện kiểm sát mới xem xét, quyết định việc phê chuẩn hay không phê chuẩn việc bắt khẩn cấp. Đây là điều không hợp lý. Theo chúng tôi, bắt khẩn cấp là một hoạt động độc lập với hoạt động tạm giữ. Sau khi bắt khẩn cấp sẽ là việc xem xét có tạm giữ người bị bắt hay không cho nên việc phê chuẩn của Viện kiểm sát sau khi việc bắt khẩn cấp đã được thực hiện thực chất là phê chuẩn việc tạm giữ đối với người đã bị bắt khẩn cấp vì nếu Viện kiểm sát phê chuẩn thì người bị bắt khẩn cấp sẽ bị tạm giữ, còn nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì người bị bắt khẩn cấp sẽ phải được trả tự do.

Từ lập luận đó, chúng tôi cho rằng cần phải xem xét lại các quy định liên quan đến việc bắt khẩn cấp và tạm giữ để sửa đổi, bổ sung theo hướng sửa đổi quy định về việc Viện kiểm sát phê chuẩn bắt khẩn cấp bằng việc Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định tạm giữ. Nếu phương án trên được chấp nhận thì cũng phải sửa đổi lại quy định tại Điều 71 Hiến pháp và Điều 6 BLTTHS theo hướng việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. 

2. Về thông báo việc bắt, tạm giữ

Điều 83 BLTTHS quy định:

Người ra lệnh bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết. Nếu thông báo cản trở việc điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, người ra lệnh bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay”.

Nghiên cứu quy định trên có thể thấy, thông báo về việc bắt thực chất chỉ được thực hiện sau việc bắt đã được thực hiện và người bị bắt đang bị tạm giữ. Quy định về việc “phải thông báo ngay” không có định lượng về khoản thời gian xác định nên dễ bị áp dụng tuỳ tiện. Một số đối tượng như người không có hoặc không xác định được gia đình, nơi cư trú, làm việc; người nước ngoài bị bắt, tạm giữ... thì việc thông báo việc bắt, tạm giữ cho ai cũng chưa được xác định rõ. Sau khi bị tạm giữ, theo quy định tại Điều 48 BLTTHS, người bị tạm giữ có quyền nhờ người khác bào chữa, song cơ chế để người bị bắt, tạm giữ yêu cầu cơ quan bắt, tạm giữ thông báo cho người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa cho người bị bắt, tạm giữ cũng chưa được xác định cụ thể.

Từ những hạn chế trên của Điều 83 BLTTHS, chúng tôi cho rằng, quy định về việc thông báo việc bị bắt tại điều luật trên cần được xem xét lại để sửa đổi, bổ sung theo hướng sửa đổi thông báo về việc bị bắt bằng thông báo về việc tạm giữ và quy định bổ sung khoảng thời gian nhất định của việc thông báo (có thể là trong thời hạn không quá 12 giờ từ thời điểm tạm giữ người bị bắt) thì cơ quan tạm giữ phải thông báo về việc tạm giữ cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc.

Trong trường hợp người bị tạm giữ không có gia đình hoặc không xác định được gia đình và cũng không xác định được nơi cư trú, làm việc của người bị bắt (do người bị tạm giữ cố tình giấu diếm) thì phải thông báo cho những người thân thích khác của người bị tạm giữ khi họ đề nghị hoặc tạo điều kiện cho người bị tạm giữ tự thông báo cho người thân thích của họ.

Trong trường hợp người bị bắt, tạm giữ đề nghị được mời người bào chữa thì cơ quan tạm giữ phải thông báo cho người bào chữa đó (nếu người bị tạm giữ đề nghị đích danh) hoặc thông báo cho Đoàn luật sư để Đoàn luật sư cử người bào chữa tham gia bào chữa cho người bị bắt, tạm giữ.    

Trong trường hợp người bị bắt, tạm giữ là người nước ngoài thì cơ quan bắt, tạm giữ phải thông báo cho Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán nước đó biết về việc công dân nước họ đang bị tạm giữ.

3. Về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam

Cùng với căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung được quy định tại Điều 79 BLTTHS, Điều 88 và Điều 303 BLTTHS quy định về các điều kiện để tạm giam. Nghiên cứu các quy định này có thể thấy một số điểm chưa phù hợp.

 Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 88 BLTTHS, tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trong, phạm tội rất nghiêm trọng. Về nguyên tắc, việc có áp dụng tạm giam trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trong hoặc phạm tội rất nghiêm trọng hay không phải căn cứ vào cả quy định tại Điều 79 BLTTHS. Tuy nhiên, vì Điều 79 BLTTHS là quy định về những căn cứ chung để áp dụng cho tất cả các biện pháp ngăn chặn nên thông thường người áp dụng pháp luật chỉ dựa vào Điều 88 BLTTHS để xác định có quyết định tạm giam bị can, bị cáo hay không. Trên thực tế, nhiều trường hợp khi xem xét, quyết định việc tạm giam người phạm tội khó có thể xác định chính xác ngay người đó phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng không (việc xác định trong nhiều trường hợp phải qua quá trình điều tra, chứng minh, xác định sự thật khách quan của vụ án). Ngay cả trong trường hợp tại thời điểm xem xét, quyết định việc tạm giam đã xác định được chính xác một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng nhưng nếu không có căn cứ để cho rằng người đó có thể sẽ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc sẽ bỏ trốn, thì cũng không cần thiết phải tạm giam. Do vậy, nếu coi một người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng là điều kiện để có thể tạm giam thì có thể xảy ra những trường hợp lạm dụng quy định này để tạm giam cả đối với người không cần thiết phải tạm giam.

 Hai là, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 BLTTHS, tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Theo chúng tôi, quy định này cũng cần được xem xét lại vì vào thời điểm xem xét, tạm giam một người có thể chưa xác định được chính xác tính chất tội phạm mà người đó thực hiện là tội phạm loại gì. Trường hợp đã xác định được chính xác một người phạm tội ít nghiêm trọng, nhưng BLHS quy định hình phạt tù từ hai năm tù trở xuống và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội và không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, thì theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 88 BLTTHS, cũng không thể áp dụng biện pháp tạm giam. Đây là quy định không phù hợp, vì gây khó khăn cho việc điều tra và giải quyết vụ án, nhất là đối với những trường hợp người phạm tội không có nơi cư trú, làm việc ổn định hoặc không xác định được nơi cư trú, làm việc của người phạm tội.

 Ba là, theo quy định tại khoản 2 Điều 303 BLTTHS, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Chúng tôi cho rằng, quy định này cũng cần được xem xét lại vì, như chúng tội đã phân tích, tại thời điểm xem xét, quyết định tạm giam một người, cơ quan có thẩm quyền khó có thể xác định chính xác ngay tính chất tội phạm mà người đó đã thực hiện.

Trong trường hợp xác định được chính xác tính chất tội phạm mà người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện không thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội và không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, thì theo quy định tại khoản 2 Điều 303, cũng không thể áp dụng biện pháp tạm giam. Đây là điều không phù hợp. Trên thực tế, đã xảy ra những trường trường hợp người từ đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý hoặc tội nghiêm trọng do vô ý như phạm tội cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều 104), tội trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 138 BLHS), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 1 Điều 139 BLHS), tội đua xe trái phép (khoản 1 Điều 207 BLHS), tội gây rối trật tự công cộng (khoản 1 Điều 245 BLHS), tội đánh bạc (khoản 1 Điều 248 BLHS), tội chống người thi hành công vụ (khoản 1 Điều 257 BLHS), tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (khoản 1 Điều 202 BLHS)... Đối với những trường hợp này, mặc dù xác định được người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không có nơi cư trú, làm việc ổn định hoặc không xác định được nơi cư trú, làm việc của người phạm tội và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội và cũng không thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ.

Như vậy, vấn đề đặt ra là do hạn chế của các quy định của BLTTHS mà nhiều trường hợp người phạm tội không thể bị áp dụng bất cứ biện pháp ngăn chặn nào, họ phạm tội nhưng vẫn ở ngoài xã hội và có thể tiếp tục phạm tội. Việc không áp dụng được biện pháp ngăn chặn đối với họ cũng đã gây không ít khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án mà bị can, bị cáo thuộc các đối tượng người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, các quy định về tạm giam trong BLTTHS năm 2003 cần được xem xét lại để sửa đổi, bổ sung theo hướng sau:

- Không nên dựa trên cách phân loại tội phạm tại Điều 8 BLHS để quy định  điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam. Về nguyên tắc, người phạm tội đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS thì đều có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nếu có căn cứ quy định tại Điều 79 BLTTHS, trong đó có biện pháp tạm giam.

- Để hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam cần quy định chặt chẽ hơn các căn cứ để tạm giam, nhưng về nguyên tắc không được làm bó tay các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Theo đó, chỉ được ra quyết định tạm giam trong trường hợp có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo có thể trốn hoặc sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội và không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn đối với họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác mà vi phạm nghĩa vụ đã cam kết thì có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam (bảo đảm sự phù hợp, tính đồng bộ với các quy định về các biện pháp ngăn chặn khác)

- Sửa đổi, bổ sung căn cứ, điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ngoài biện pháp tạm giam để có thể mang tính khả thi, thay thế được biện pháp tạm giam. 

 Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, có thể thấy, theo quy định tại Điều 144 BLTTHS Cộng hoà Pháp, việc tạm giam bị can được áp dụng để bảo vệ nhân chứng, dấu hiệu phạm tội, để ngăn chặn việc gây áp lực đối với người bị hại, người làm chứng hoặc để ngăn chặn sự thông đồng giữa bị can với những người đồng phạm. Việc tạm giam là cần thiết để bảo vệ đương sự, chấm dứt việc phạm tội, ngăn ngừa tái phạm, bảo đảm sự giám sát của Toà án đối với đương sự hoặc để giữ gìn trật tự xã hội. Cũng có thể ra lệnh tạm giam khi bị can cố tình trốn tránh những nghĩa vụ liên quan đến việc áp dụng các biện pháp giám sát tư pháp.

4. Về thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam và ra lệnh tạm giam

Trong số các biện pháp ngăn chặn thì biện pháp tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất, nó tác động đến một trong những quyền cơ bản nhất của công dân là quyền tự do về thân thể. Không phải ngẫu nhiên mà pháp luật tố tụng hình sự các nước quy định đối tượng được quyền quyết định áp dụng biện pháp này rất hạn chế (nhiều nước quy định việc có áp dụng biện pháp tạm giam hay không phải được đưa ra Toà án xem xét, quyết định).

Theo quy định tại khoản khoản 1 Điều 80 và khoản 3 Điều 88 BLTTHS, những người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam và ra lệnh tạm giam bao gồm cả Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát, Chánh án, Phó Chánh án Toà án các cấp. Theo chúng tôi, quy định phạm vi chủ thể được ra lệnh tạm giam như vậy là quá rộng. BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng thu hẹp phạm vi đối tượng chủ thể được ra lệnh tạm giam. Trong giai đoạn điều tra, việc ra lệnh bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam chỉ nên giao cho Viện trưởng Viện kiểm sát. Thay vì việc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra có quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam như quy định của BLTTHS hiện hành thì chỉ nên quy định cho các chủ thể này có nghĩa vụ thu thập các tài liệu, chứng cứ để đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam. Vì biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn đặc biệt nên cũng không nên giao cho Phó Viện trưởng Viện kiểm sát được quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam mà chỉ nên giao thẩm quyền này cho Viện trưởng Viện kiểm sát. Chỉ trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát vắng mặt thì một Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm mới được quyền ra lệnh bắt bị can để tạm giam và ra lệnh tạm giam. Trong giai đoạn hồ sơ vụ án chuyển Toà án chuẩn bị xét xử thì chỉ nên quy định cho Thẩm phán giữ chức vụ Chánh án Toà án các cấp và Chánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao được quyền ra lệnh bắt bị cáo để tạm giam và ra lệnh tạm giam. Tại phiên toà xét xử, thẩm quyền này thuộc về Hội đồng xét xử,

5. Về biện pháp bảo lĩnh

Điều 92 BLTTHS quy định về biện pháp bảo lĩnh, với tính cách là một trong những biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam. Nghiên cứu quy định về bảo lĩnh tại điều luật trên có thể thấy một số hạn chế cần được xem xét lại để sửa đổi, bổ sung như sau:

Một là, theo quy định tại Điều 92, Tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức của mình. Trong trường hợp Tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan. Trên thực tế, việc áp dụng biện pháp cho Tổ chức nhận bảo lĩnh hầu như không được thực hiện, bởi lẽ, không và khó có thể thiết lập được cơ chế ràng buộc trách nhiệm của Tổ chức khi Tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự  nhiều nước, chúng tôi không thấy có quy định về việc cho Tổ chức được nhận bảo lĩnh. Theo chúng tôi, để bảo đảm tính khả thi, Điều 92 BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ quy định về việc Tổ chức được nhận bảo lĩnh.  

Hai là, theo quy định tại Điều 92 BLTTHS, khi nhận bảo lĩnh người nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án. Với việc được nhận bảo lĩnh, bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh không bị cách ly khỏi xã hội nên ngoài việc có thể trốn và tiếp tục phạm tội, bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh có thể có những hành vi gây cản trở cho hoạt động điều tra, xét xử. Do vậy, theo chúng tôi, cần bổ sung vào điều luật này nghĩa vụ của người  nhận bảo lĩnh là phải cam đoan không để bị can, bị cáo gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử bằng những hành vi như can thiệp đối với nhân chứng để họ khai báo gian dối hoặc cố ý tiêu huỷ, làm sai lệch đồ vật, tài liệu được coi là chứng cứ của vụ án hoặc tác động đến bị can, bị cáo khác để họ khai báo gian dối...

Ba là, Vì biện pháp bảo lĩnh gắn với nghĩa vụ của cả người nhận bảo lĩnh và người được nhận bảo lĩnh nên cần có sự đồng ý va cam kết thực hiện nghĩa vụ từ hai phía: người nhận bảo lĩnh và bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh. Điều 92 BLTTHS hiện hành chưa quy định việc bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh phải đồng ý đối với việc người khác nhận bảo lĩnh cho mình và cam đoan thực hiện những nghĩa vụ nhất định. Những nội dung này cần được bổ sung cho phù hợp.

Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, có thể thấy, theo quy định tại Điều 103 BLTTHS Liên bang Nga, việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh của cá nhân với tư cách là biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo đề nghị bằng văn bản của một hoặc một số người nhận bảo lĩnh và phải được người bảo lĩnh đồng ý. Theo quy định tại Điều 56 Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc, khi được nhận bảo lĩnh, người được nhận bảo lĩnh phải tuân thủ những nghĩa vụ: Không được rời khỏi thành phố, huyện hoặc thị trấn nơi cư trú khi chưa được phép của cơ quan giám sát; có mặt đúng lúc tại Toà án khi được triệu tập; không được can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào với nhân chứng để họ khai báo; không được tiêu huỷ, làm sai lệch chứng cứ hoặc thông cung. Đây là kinh nghiệm hay để chúng ta học tập khi sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về bảo lĩnh.

Bốn là, theo quy định tại khoản 5 Điều 92 BLTTHS thì người nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phảo chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan. Theo chúng tôi, cũng cần quy định rõ căn cứ để xác định người nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết để quy trách nhiệm. Việc quy định này có thể theo hướng sau: Nếu người nhận bảo lĩnh cố ý vi phạm nghĩa vụ cam kết bằng việc tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức cho bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã cam kết hoặc tuy không cố ý tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam kết nhưng khi biết việc bị can, bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ đã cam kết đã không thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền thì phải chịu trách nhiệm về việc vi phạm nghĩa vụ nhận bảo lĩnh. Đồng thời, cũng cần cụ thể hoá trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh khi họ vi phạm nghĩa vụ nhận bảo lĩnh, tuỳ tính chất, mức độ vi phạm có thể là bị xử phạt hành chính (phạt tiền) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự  (trong trường hợp do lỗi cố ý vi phạm của người nhận bảo lĩnh đã gây hậu quả nghiêm trọng. Theo tinh thần này thì BLHS cũng cần được sửa đổi theo hướng quy định hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo lĩnh gây hậu quả nghiêm trọng là tội phạm).

6. Về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Theo quy định tại điều 93 BLTTHS, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một trong những biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với bị can, bị cáo để thay thế biện pháp tạm giam và bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.

 Nghiên cứu quy định tại Điều 93 BLTTHS, chúng tôi nhận thấy thấy quy định này cần được xem xét để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với thực tế:

Một là, nếu coi đây là biện pháp để thay thế và góp phần hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam thì cũng phải coi mục đích của việc áp dụng biện pháp này không chỉ là bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án triệu tập người đó mà còn là để bảo đảm họ không tiếp tục phạm tội (nếu bị can, bị cáo phạm tội thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị tịch thu sung quỹ Nhà nước và bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác).

Hai là, để góp phần hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam cần mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, trong đó có việc mở rộng đối tượng được đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Theo chúng tôi, ngoài bị can, bị cáo, nên mở rộng đối tượng đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cho cả tổ chức và cá nhân khác (coi đây như một dạng “bảo lĩnh” bằng tiền hoặc tài sản).

Tham khảo kinh nghiệm lập pháp của Liên bang Nga, có thể thấy Điều 106 BLTTHS Liên bang Nga đã quy định biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, trong đó cho phép người bị tình nghi hoặc bị can hoặc những cá nhân, pháp nhân khác được đặt ký quỹ tiền, những giấy tờ có giá trị thanh toán hoặc tài sản có giá trị cho cơ quan áp dụng biện pháp ngăn chặn này để bảo đảm sự có mặt của người bị tình nghi, bị can theo giấy triệu tập của dự thẩm viên, kiểm sát viên hoặc Toà án và phòng ngừa họ phạm tội mới. Nếu người đặt tiền hoặc tài sản không phải là người bị tình nghi, bị can thì người đặt tiền hoặc tài sản được giải thích về bản chất việc bị tình nghi, buộc tội dẫn đến phải áp dụng biện pháp ngăn chặn này, đồng thời được giải thích về những nghĩa vụ của họ và hậu quả của việc họ không thực hiện hoặc vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Đây là kinh nghiệm tốt để chúng ta học tập khi tiến hành sửa đổi, bổ sung BLTTHS.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi