Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Cán bộ và công tác cán bộ có vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [1] . Bước vào thời kỳ đổi mới, tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [2]




MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KIỂM SÁT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH TƯ PHÁP.

                                     TS. Phạm Mạnh Hùng và Th.S. Phạm Thị Trang

                                          Trường ĐTBDNV kiểm sát

Cán bộ và công tác cán bộ có vai trò rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" "Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [1] . Bước vào thời kỳ đổi mới, tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [2]

Ngày 26/7/1960, ngành Kiểm sát được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong suốt 50 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Kiểm sát đã từng bước củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, góp phần bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới, phát triển đất nước.

Tuy nhiên, công tác của các cơ quan tư pháp nói chung, trong đó có công tác của ngành kiểm sát còn nhiều hạn chế. Đảnh giá về công tác tư pháp vào thời điểm năm 2002, Đảng ta đã chỉ rõ: "Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp"[3] .

       Những tồn tại, hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ công tác cán bộ. Công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ, trong thời gian qua “Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm; thiếu cơ chế, chính sách cụ thể để thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, phát hiện và sử dụng người tài; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu… Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thấp. Môi trường làm việc, chính sách cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tận tụy của cán bộ đối với công việc”.

Trước những yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng với tình hình và nhiệm vụ mới cần có những giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

1. Quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.

-  Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải xuất phát từ yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Xây dựng đội ngũ cán bộ phải trên cơ sở các yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân. Xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

-  Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới tổ chức của Viện kiểm sát và yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát để thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải xuất phát từ yêu cầu về xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy Viện kiểm sát, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, hoạt động có hiệu quả cao.

Một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp trong thời gian tới đã được Đảng ta xác định là “Đổi mới hệ thống tổ chức toà án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm cải cách hoạt động xét xử là trọng tâm của cải cách hoạt động tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án đối với các khiếu kiện hành chính. Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra... Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp. Tăng cường các cơ chế giám sát, bảo đảm sự tham gia giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp[4].

Trước yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu của cải cách tư pháp, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có đội ngũ KSV Viện KSND trong sạch, có phẩm chất, năng lực nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động kiểm sát là một nội dung rất quan trọng và cấp thiết.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải trên cơ sở quán triệt quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ; tiếp tục quán triệt quan điểm giai cấp của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc.

Nghị quyết 49-NQ/TW Ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 quy định: “Đảng lãnh đạo chặt chẽ hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và cán bộ.

Tăng cường công tác xây dựng Đảng, giáo dục, quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên; chăm lo công tác quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bố trí, sử dụng đúng cán bộ trong các cơ quan tư pháp. Phân công đồng chí cấp ủy viên có trình độ, năng lực, uy tín và bản lĩnh bổ nhiệm làm viện trưởng viện kiểm sát và chánh án tòa án các cấp”.

Trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ phải thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ. Đồng thời, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài, “Có cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có tâm huyết, đủ sức, tài vào làm việc ở các cơ quan tư pháp. Mở rộng nguồn để bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, không chỉ là cán bộ trong các cơ quan tư pháp, mà còn là các luật gia, luật sư” .[5]

Xây dựng đội ngũ cán bộ phải có tính kế thừa. Phải biết phát huy truyền thống tốt đẹp của đội ngũ cán bộ lớp trước để xây dựng các thế hệ cán bộ hiện tại và tương lai.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải xuất phát từ yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Đội ngũ cán bộ phải đáp ứng được các yêu cầu mở rộng quan hệ quốc thế theo định hướng của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hóa đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác..."

Trước yêu cầu trên, Nghị quyết 49-NQ/TW Ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác cán bộ thời gian tới là “Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực.."

- Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải gắn với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống pháp đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, có chất lượng để điều chỉnh mọi hoạt động của Nhà nước và xã hội, trong đó có hoạt động của Viện KSND.

Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã xác định rõ, trong thời gian tới cần "xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của Chiến lược Cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp... Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện KSND theo hướng đảm bảo thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp... Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ thống đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức".

- Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải gắn với việc xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách đối với cán bộ

Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát gắn với việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy theo nguyên tắc: Xác định nhiệm vụ rồi mới thành lập tổ chức, có tổ chức mới sắp xếp, bố trí cán bộ. Mỗi cán bộ trong tổ chức đếu phải được xác định chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng. Các khâu quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ phải trên cơ sở yêu cầu và nội dung của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và xây dựng tổ chức trong sạch, vững mạnh.

Xây dựng đội ngũ cán bộ còn phải gắn với việc đổi mới cơ chế, chính sách đối với cán bộ. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: "Thực hiện cải cách tư pháp nhằm chấn chỉnh lại bộ máy và quy chế của cơ quan, cán bộ, công chức. Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Thực hiện chế độ trách nhiệm trong đề cử, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó, cấp sử dụng trực tiếp giới thiệu để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Có cơ chế kịp thời đưa ra khỏi bộ máy Nhà nước những công chức không xứng đáng, kém phẩm chất và năng lực" .

Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải đi liền với việc đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân. Nghị quyết 49-NQ/TW Ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã định hướng trong thời gian tới là “tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ  bổ nhiệm không có kỳ hạn.

 Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán bộ tư pháp”.

2. Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát

Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát là: Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát trong sạch, trung thành với Đảng, tận tụy với công vụ, có đức tính “Công minh, chính trực, khách quan, tận tụy, khiêm tốn”, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi chức danh cán bộ kiểm sát. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm sát cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

3. Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.

3.1. Nâng cao nhận thức về xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát trước yêu cầu cải cách tư pháp

Cán bộ kiểm sát, kiểm sát viên Viện kiểm sát các cấp là những người được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là chức năng có tính đặc thù của ngành KSND, ngoài Viện KSND không có bất kỳ cơ quan nào khác được giao thực hiện chức năng này. Do đó, cần quan tâm tuyển chọn, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng... những người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, cũng cần tạo những điều kiện bảo đảm về kinh phí, trang thiết bị nghiệp vụ, chế độ chính sách cho cán bộ kiểm sát, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ kiểm sát có đủ các điều kiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới.

3.2. Rà soát để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các văn bản về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ

        Ngày 28/7/2010 Bộ Chính trị đã có Kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Theo Kết luận này, trong những năm tới, Viện kiếm sát nhân dân tiếp tục thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay. Tổ chức hệ thống viện kiểm sát nhân dân thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của toà án nhân dân (Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính). Cụ thể là: Viện kiểm sát nhân dân khu vực (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của toà án nhân dân sơ thẩm khu vực); Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của tòa án nhân dân cấp cao); Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Theo định hướng trên, các quy định về ngạch kiểm sát viên cần dược sửa đổi theo hướng chức danh kiểm sát viên được tuyển chọn, bổ nhiệm theo 4 cấp căn cứ vào các tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực hiện nhiệm vụ mà không phụ thuộc vào cấp hành chính.

Đồng thời với việc sửa đổi Luật Tổ chức Viện KSND và Pháp lệnh KSV Viện KSND năm 2002 cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới các quy chế về công tác cán bộ như: Quy chế phân cấp, quản lý cán bộ; Quy chế tuyển dụng cán bộ; Quy chế bổ nhiệm và bổ nhiệm lại kiểm sát viên các cấp; Quy chế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ... tạo cơ sở pháp lý thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát trong sạch, vững mạnh.

3.3. Đổi mới công tác tuyển dụng cán bộ.

Tuyển dụng cán bộ là bước khởi đầu quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ. Có tuyển dụng được đội ngũ cán bộ tốt, có trình độ mới xây dựng được đội ngũ cán bộ mạnh. Đây là công việc đầu tiên có vị trí rất quan trọng trong toàn bộ công tác cán bộ vì đây là “đầu vào” để hình thành và bổ sung đội ngũ cán bộ.

Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Để tuyển dụng công chức, phải căn cứ vào các quy định của  2 văn bản trên, đồng thời phải căn cứ vào các quy định về tiêu chuẩn của từng chức danh cán bộ trong ngành Kiểm sát.

Điều 8 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định các môn thi và hình thức thi tuyển công chức bao gồm:

"1. Môn kiến thức chung: thi viết 01 bài về hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; quản lý hành chính nhà nước; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về ngành, lĩnh vực tuyển dụng.

2. Môn nghiệp vụ chuyên ngành: thi viết 01 bài và thi trắc nghiệm 01 bài về nghiệp vụ chuyên ngành theo yêu cầu của vị trí việc làm.

Đối với vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn là ngoại ngữ hoặc tin học, môn thi nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin học. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi môn nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc tin học phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Trong trường hợp này, người dự tuyển không phải thi môn ngoại ngữ quy định tại khoản 3 hoặc môn tin học văn phòng quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Môn ngoại ngữ: thi viết hoặc thi vấn đáp 01 bài một trong năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định.

Đối với vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số, việc thi môn ngoại ngữ được thay thề bằng thi tiếng dân tộc thiểu số. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc thiểu số.

4. Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm 01 bài theo yêu cầu của vị trí việc làm do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định"

Theo quy định tại Điều 43 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên.

Căn cứ các quy định trên, năm 2010, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các địa phương tổ chức thi tuyển công chức theo tinh thần Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ, trong đó môn kiến thức chung và môn chuyên ngành cho đối tượng đã rốt nghiệp cử nhân luật được thực hiện theo một hệ thống bộ đề thi thống nhất trong toàn ngành. Thông thường, việc tổ chức thi tuyển công chức do từng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố đứng ra tổ chức ở những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu biên chế được giao còn thiếu. Môn thi tuyển dụng ngoại ngữ thường là tiếng anh. Việc tổ chức thi tuyển như vậy đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, nhất là nguồn tuyển dụng, thường chỉ bó hẹp trong phạm vi một địa phương nơi tuyển dụng. Nhiều địa phương không có nguồn để tổ chức thi tuyển.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu rõ, trong thời gian tới cần "Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển vào các chức danh tư pháp". Để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng có chất lượng vào ngành Kiểm sát và thực hiện chủ trương trên của Đảng, theo chúng tôi, cần nghiên cứu việc tổ chức thi tuyển công chức ngành kiểm sát tập trung trên địa bàn cả nước hoặc phạm vi từng khu vực (miền Bắc, miền Trung, miền Nam) vào cùng một thời điểm (có thể 1 hoặc 2 lần trong một năm). Đồng thời, cần đổi mới việc tiếp cận các nguồn dự tuyển như cán bộ làm công tác tổ chức có thể trực tiếp đến các Trường đại học phổ biến nhu cầu, tiêu chuẩn tuyển dụng, nghiên cứu, tuyển lựa trước hồ sơ, gặp gỡ, phỏng vấn, trao đổi trước đối với những người muốn tìm hiểu khi họ cân nhắc quyết định việc nộp hồ sơ thi tuyển vào ngành Kiểm sát…

Đối với các tỉnh ở cấp huyện có đông người dân tộc ít người sinh sống thì cần có hướng dẫn cụ thể về việc thay thi tuyển môn ngoại ngữ bằng việc kiểm tra trình độ tiếng dân tộc. Đối với những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành luật ở nước ngoài cần nghiên cứu chế độ ưu tiên tuyển dụng đặc biệt để thực hiện thống nhất.

3.4. Đổi mới công tác đánh giá cán bộ.

Đánh giá cán bộ là một vấn đề nhạy cảm và hết sức hệ trọng trong công tác cán bộ. Mục đích của việc đánh giá cán bộ là làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, hiệu quả công tác và triển vọng phát triển của cán bộ; làm căn cứ để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức.

Yêu cầu của việc đánh giá cán bộ phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử - cụ thể; trên cơ sở thực hiện tự phê bình và phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; công khai đối với cán bộ, công chức được đánh giá; phát huy đầy đủ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, lấy kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu trong đánh giá cán bộ.

Việc đánh giá cán bộ, Kiểm sát viên cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Một là, đánh giá cán bộ phải căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn chức danh. Chẳng hạn, khi nói đến phẩm chất, đạo đức thường là nói đến lập trường, quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ý thức kỷ luật… Song với từng loại cán bộ thì lại có đòi hỏi khác nhau, như: với cán bộ lãnh đạo, quản lý thì ngoài những nội dung trên còn phải là người gương mẫu trong đạo đức, lối sống, tận tuỵ với công việc và điều hết sức quan trọng là khả năng vận động, tập hợp, xây dựng khối đoàn kết trong đơn vị. Còn đối với cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ thì cần phải lấy tinh thần trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả công việc, ý thức tổ chức kỷ luật làm thước đo chủ yếu của tiêu chuẩn về phẩm chất. Về năng lực cán bộ, cũng cần đánh giá cụ thể từng loại cán bộ. Với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần đánh giá tính mẫn cảm chính trị, khả năng vận dụng, tổ chức, kiểm tra, khả năng quán xuyến, điều hành công việc, bố trí cán bộ, xử lý các tình huống nảy sinh trong thực tiễn xảy ra, khả năng tổng kết, đánh giá thực tiễn, dự báo tình hình… Đối với cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực thể hiện rõ nhất là số lượng và chất lượng công tác chuyên môn cùng với khả năng sáng tạo trong công việc là chủ yếu.

Hai là, đánh giá cán bộ kiểm sát phải được xem xét trong một quá trình, không thể chỉ xét một thời điểm, một thời gian ngắn hoặc chỉ thấy hiện tại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.[6] Do con người thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh như vậy, việc đánh giá theo một quá trình là một việc làm cần thiết để nắm chắc diễn biến chất lượng cán bộ để có kế hoạch bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.

Muốn đánh giá cán bộ đúng đắn, chính xác, người có trách nhiệm đánh giá phải tìm hiểu, theo dõi cán bộ trong một thời gian dài; đánh giá cán bộ không phải một lần, mà bao hàm cả một quá trình nhận thức, là yếu tố thường xuyên trong quá trình quy hoạch, luân chuyển, đào tạo và bố trí sử dụng cán bộ (tức là quá trình đánh giá và đánh giá lại cán bộ). Do đó, người làm công tác này phải có kế hoạch thật chặt chẽ, hợp lý trong quản lý cán bộ, phải có các bước đánh giá phù hợp, khoa học, phải tham khảo ý kiến số đông trong đánh giá cán bộ.

Ba là, phải mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch trong đánh giá cán bộ. Cán bộ là một thành viên của một tập thể, một cộng đồng, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với nhau, nên cũng có rất nhiều mối liên hệ. Công việc mà cán bộ phụ trách thường liên quan đến nhiều việc, nhiều người. Do vậy, khi đánh giá cán bộ, bên cạnh ý kiến nhận xét của cán bộ lãnh đạo quản lý, của cơ quan tham mưu, còn phải coi trọng ý kiến của tập thể cán bộ và ý kiến của quần chúng.

Công tác đánh giá cán bộ phải làm thường xuyên, theo định kỳ hằng năm và trước khi đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ để đưa vào hồ sơ cán bộ, giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và hiểu được cán bộ. Đồng thời giúp cho bản thân người cán bộ hiểu đúng mình hơn nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế của đất nước.

3.5. Đổi mới công tác quy hoạch cán bộ.

Ngày 30/11/2004, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 42-NQ/TW về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thực chất công tác quy hoạch cán bộ kiểm sát là thông qua nhận xét, đánh giá cán bộ, phát hiện xu hướng phát triển của cán bộ để tạo nguồn bổ sung cho các chức danh Kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng và các chức danh pháp lý, lãnh đạo, quản lý khác trong ngành.

Công tác quy hoạch cán bộ cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Một là, phải bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ nói chung, công tác quy hoạch cán bộ nói riêng theo cơ chế tập thể cấp uỷ quyết định trên cơ sở đề xuất của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và sự đề cử của cấp dưới. Quy trình thực hiện quy hoạch cán bộ, công chức nên tuân theo các bước: dân chủ trước, tập trung sau; trước khi cấp uỷ bàn bạc và quyết định tập trung, cần mở rộng dân chủ để phát hiện, giới thiệu nguồn cho quy hoạch. Mặt khác, trước khi mọi người đề cử thêm, người đứng đầu cần nhận xét, đánh giá các ứng cử viên do mình đề cử một cách công khai trong cuộc họp cơ quan, đơn vị.

Hai là, quy hoạch cán bộ phải thực sự gắn kết với các khâu khác trong công tác cán bộ như: nhận xét, đánh giá cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ là khâu quan trọng nhất, là tiền đề cho việc bố trí cán bộ và cho quy hoạch cán bộ; đồng thời quy hoạch cán bộ là cơ sở để thực hiện luân chuyển, đào tạo cán bộ cho nhu cầu trước mắt và lâu dài.

Ba là, thực hiện đúng phương châm động, mở” và “mềm” trong quy hoạch cán bộ. Một chức danh cần quy hoạch nhiều người ; một người có thể được dự trù vào 2-3 chức danh. Hằng năm, cần rà soát, bổ sung quy hoạch. Trong đó, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của khóa trước với khóa sau;..

Cần ưu tiên cán bộ, công chức được quy hoạch, nhưng nếu quy định cứng rằng, cán bộ, công chức được cử đi đào tạo hay được bổ nhiệm, bố trí phải là người “trong diện quy hoạch” thì có thể bỏ sót nhân tài và gây mất công bằng trong đánh giá và sử dụng người. Vì vậy, quan điểm về quy hoạch và sử dụng cán bộ, công chức cần phải mềm, nghĩa bên cạnh việc đề bạt, bổ nhiệm những người trong diện quy hoạch, cần sử sụng cả chính sách tiến cử, bổ nhiệm vượt cấp nhằm trọng dụng người tài.

Bốn là, bảo đảm sự dân chủ, công khai trong quy hoạch cán bộ. Thực tế cho thấy, việc công khai quy hoạch là đúng đắn, có nhiều ưu điểm hơn so với việc không công khai, bởi nó động viên tinh thần và tạo cơ sở có tính pháp lý để cán bộ, công chức cố gắng phấn đấu, trưởng thành.

Năm là, bảo đảm sự công bằng trong công tác quy hoạch. Chúng ta cần thừa nhận nguyên tắc công bằng trong lựa chọn nhân tài, để bổ nhiệm và sử dụng được những cán bộ xứng đáng nhất, ưu tú nhất. Việc quy hoạch phải trên cơ sở đánh giá kết quả, thành tích công tác của cán bộ và coi năng lực, hiệu quả hoạt động thực tiễn của cán bộ là cơ sở quan quan trọng nhất để xét duyệt quy hoạch, bố trí sử dụng và bổ nhiệm cán bộ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã chỉ rõ: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”.

3.6. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Để có được đội ngũ cán bộ kiểm sát thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao thì công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải được quan tâm đặc biệt. Trong những năm tới, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát cần tập trung giải quyết một số nội dung sau:

- Trên cơ sở tổng kết 50 năm về công tác cán bộ nói chung, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nói riêng, xây dựng chiến lược đào tạo và bồi dưỡng cán bộ từ 10 năm trở lên, trong đó có lộ trình cụ thể của 5 năm tới và những năm sau; cần đặt ra mục đích và xác định các chỉ tiêu cụ thể, từ đó xác định những nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài cho công tác này.

- Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải lấy vai trò nhà trường làm trung tâm để tập trung đầu tư tương xứng. Nhà trường là nơi thực hiện phần lớn chương trình đào tạo, bồi dưỡng của ngành, là nơi liên kết các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng khác để thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cũng như đề xuất việc cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở các cơ sở đào tạo khác trong và ngoài nước. Ngành kiểm sát từ khi mới thành lập đã có cơ sở đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Nhiều thập kỷ chúng ta có thể chủ động trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho ngành. Đây là một lợi thế cần tiếp tục có biện pháp duy trì và phát triển. Xây dựng nhà trường cần nhiều giải pháp đồng bộ, tập trung chủ yếu ở các giải pháp sau:

- Xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng cao.

 Đội ngũ giảng viên là chủ thể quyết định chất lượng và hiệu quả các mặt hoạt động của nhà trường. Bởi vậy, trong những năm tới, phát triển đội ngũ giảng viên phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Chú trọng phát triển hài hoà số lượng, chất lượng, cơ cấu, trình độ của đội ngũ giảng viên, đảm bảo sự phát triển cân đối và bền vững của đội ngũ giảng viên trong tương lai. Cần quan tâm cải thiện điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ cho các giảng viên nhằm thu hút và giữ lại những người có năng lực, tâm huyết công tác tại nhà trường.

 Các nhóm giải pháp chủ yếu để phát triển đội ngũ giảng viên trong những năm tới bao gồm: Xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu đủ về số lượng và mạnh về chất lượng. Hàng năm tổ chức thi tuyển giảng viên để đáp ứng đủ số lượng giảng viên theo nhu cầu của nhà trường. Đồng thời có chính sách chiêu mộ các Kiểm sát viên, các chuyên gia có trình độ cao, tâm huyết với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về làm giảng viên cơ hữu của trường.

Chất lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và uy tín của nhà trường. Bởi vậy, bên cạnh việc tăng cường số lượng, từng trường phải chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu bằng cách: Áp dụng cơ chế thi tuyển giảng viên rộng rãi để lựa chọn những người có năng lực, trình độ. Ưu tiên những cán bộ đã là Kiểm sát viên đang công tác tại các Viện kiểm sát; bố trí cán bộ, giảng viên phù hợp với năng lực và sở trường của từng người. Có cơ chế khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong đội ngũ cán bộ, giảng viên; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, giảng viên cơ hữu. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các giảng viên trẻ đi học thạc sĩ, tiến sĩ ở trong nước và nước ngoài. Có chính sách hỗ trợ hợp lý đối với những người đi học thạc sĩ hoặc nghiên cứu sinh; khuyến khích giảng viên, nhất là các giảng viên trẻ tham gia vào hoạt động thực tiễn của ngành để có thêm kiến thức thực tiễn phục vụ công tác giảng dạy. Về lâu dài, lấy hiệu quả, chất lượng của việc tham gia hoạt động thực tiễn và kiến thức thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật là một tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của các giảng viên. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ cho giảng viên. Thường xuyên mở các khoá học về phương pháp giảng dạy, ngoại ngữ, tin học tại trường để nâng cao trình độ cho giảng viên. Khuyến khích các giảng viên, nhất là các giảng viên trẻ, ứng dụng công nghệ thông tin vào việc thiết kế các chương trình, sản phẩm giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Đảm bảo đủ diện tích và phương tiện làm việc tại nhà trường cho các giảng viên. Xây dựng định mức lương và chế độ đãi ngộ phù hợp để giảng viên yên tâm công tác, phát huy trí tuệ và năng lực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, phát triển nhà trường.

Tăng cường phối hợp với các đơn vị hữu quan phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức có chất lượng cao. Bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu phải  xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức đông đảo, coi đây là lực lượng quan trọng cùng với giảng viên cơ hữu thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học, đồng thời khai thác kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng thực tiễn của đội ngũ này trong việc biên soạn chương trình, giáo trình và thực hiện kế hoạch giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức bao gồm: Xây dựng lộ trình phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức; trao đổi giảng viên với các cơ sở đào tạo pháp luật trong nước; phối hợp với các Viện kiểm sát cử các kiểm sát viên giỏi tham gia giảng dạy và hướng dẫn thực hành, thực tập nghề cho học viên; khuyến khích giảng viên kiêm chức tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, xây dựng giáo trình, tài liệu giảng dạy, học tập; có chính sách đãi ngộ thoả đáng và tạo mọi điều kiện về vật chất và thời gian để các giảng viên kiểm chức có điều kiện tốt nhiệm vụ giảng dạy.

- Đổi mới chương trình, giáo trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy - học tập:

Thường xuyên rà soát và tiến hành khảo sát nắm bắt nhu cầu để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, xây dựng mới hệ thống chương trình, giáo trình, tài liệu, bảo đảm nâng cao chất lượng hệ thống giáo trình, tài liệu. Bổ sung các tài liệu tham khảo, hồ sơ tình huống theo hướng tăng cường trang bị kỹ năng nghề nghiệp, sát với yêu cầu thực tiễn. Nghiên cứu, áp dụng một số chương trình, giáo trình đào tạo tiên tiến của một số cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Từng bước xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống giáo trình điện tử trong thư viện. Xây dựng các cơ sở dữ liệu luật điện tử phục vụ việc tra cứu và tham khảo của học viên và giảng viên. Chú trọng xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu luật phục vụ yêu cầu nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Xây dựng các bài tập mẫu dựa trên hồ sơ các vụ án điển hình về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động… áp dụng vào giảng dạy cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường. Tổ chức triển khai đồng bộ phương pháp đào tạo tích cực theo hướng tăng cường đối thoại, học theo nhóm, toạ đàm, diễn án, sử dụng mô hình để phát huy tính sáng tạo của học viên.

- Đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất và trang thiết bị giảng dạy - học tập của nhà trường.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát và nghiên cứu khoa học thì cần phải có nền tảng cơ sở vật chất tương xứng. Cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ là một trong những yếu tố quyết định chất lượng và quy mô đào tạo của nhà trường. Do vậy, cùng với việc đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, đội ngũ giảng viên… cần chú trọng phát triển hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, thông qua các giải pháp sau: Dành kinh phí thoả đáng đầu tư nâng cấp đồng bộ và hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập; tập trung kinh phí đầu tư xây dựng theo một lộ trình thích hợp các hạng mục: Khu nhà làm việc, giảng đường, phòng học, các hội trường, khu thực hành diễn án, trung tâm thư viện, ký túc xá học viên, khu giáo dục thể chất... với thiết kế hiện đại và các trang thiết bị đạt tiêu chuẩn.

- Hoàn thiện và hiện đại hoá công nghệ thông tin, thư viện của nhà trường.

Công nghệ thông tin, thư viện là yếu tố thiết yếu phục vụ công tác giảng dạy và học tập của nhà trường. Trước yêu cầu đổi mới phương pháp đào tạo tích cực cần phải có nguồn học liệu phong phú và hệ thống thông tin, thư viện hiện đại, tiện ích. Các giải pháp về phát triển công nghệ thông tin, thư viện bao gồm: Đầu tư nâng cấp thư viện hiện có bảo đảm đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học; tăng cường đầu tư và đưa vào ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại để khai thác có hiệu quả Thư viện; tăng cường nguồn nhân lực cho thư viện để nâng cao năng lực phục vụ người đọc. Bổ sung số đầu sách và tài liệu tham khảo vào kho tài liệu. In ấn, xây dựng và phát triển nguồn tài liệu điện tử. Xây dựng, nâng cấp trang thông tin điện tử của nhà trường thành một cơ sở dữ liệu luật, diễn dàn trao đổi nghiệp vụ kiểm sát đáng tin cậy. Xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông, Internet hiện đại. Ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào quản lý, giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và sinh hoạt chuyên môn. Hợp tác, liên kết và chia sẻ nguồn thông tin với các cơ quan thông tin, thư viện và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, thực hành pháp luật trong nước và trên thế giới. 

- Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

 Củng cố các mối quan hệ hợp tác đang có của nhà trường, nhất là với Học viện kiểm sát viên quốc gia Trung Quốc và Viện nghiên cứu và tập huấn thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Lào, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác có tiềm năng khác nhằm thu hút nguồn lực tài chính của các nhà tài trợ, tận dụng sự hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm và kiến thức của các chuyên gia nước ngoài. Nghiên cứu việc liên danh, liên kết đào tạo và nghiên cứu khoa học với các cơ sở đào tạo nước ngoài, các tổ chức quốc tế. Triển khai kế hoạch hợp tác đào tạo với các cơ sở đào tạo cán bộ kiểm sát của Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ tiếng Anh chuyên ngành cho cán bộ, học viên đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tranh thủ các nguồn tài trợ để tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế.

3.7. Đổi mới công tác bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ.

Đổi mới công tác bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ kiểm sát là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên cho Viện KSND các cấp. Việc bổ nhiệm Kiểm sát viên theo nhiệm kỳ và theo cấp hành chính được quy định tại Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 đã được triển khai thực hiện trong toàn ngành Kiểm sát.

Qua công tác bổ nhiệm và bỏ nhiệm lại, Viện kiểm sát các cấp có cơ sở để rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên. Các Kiểm sát viên muốn được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại đều phải tích cực phấn đấu rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức, không ngừng học tập nâng cao trình độ về mọi mặt... Tuy nhiên, việc bổ nhiệm và bổ niệm lại Kiểm sát viên theo nhiệm kỳ cũng đã phát sinh một số hạn chế nhất định. Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên chỉ có 5 năm tạo tâm lý e ngại khi thi hành công vụ do hết nhiệm kỳ phải bổ nhiệm lại. Mặt khác, Hội đồng tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên được thành lập từ đại diện của nhiều cơ quan khác nhau. Ngoài Viện kiểm sát còn có các thành phần khác như, đối với Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên cấp tỉnh có Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Sở Nội vụ, Hội Luật gia cấp tỉnh... nên các Kiểm sát viên khó tránh khỏi sự phụ thuộc vào ý kiến của các cơ quan này trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình. Hơn nữa, trình tự, thủ tục làm việc của Hội đồng tuyển chọn thường kéo dài, gây lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc... Thực tế, phương thức bổ nhiệm này nặng về cảm tính, không đánh giá chính xác trình độ các ứng viên do thành viên Hội đồng tuyển chọn không có đủ thông tin liên quan vì không cùng công tác, cùng làm việc... với những người được xem xét bổ nhiệm. Vì vậy, một yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải đổi mới công tác bổ nhiệm và bổ nhiệm lại Kiểm sát viên theo hướng nhanh, gọn, tiết kiệm.

Khắc phục những hạn chế này, Nghị quyết số 08 - NQ/TW đã chỉ rõ: "Cải tiến thủ tục bổ nhiệm theo hướng gọn, kịp thời, bảo đảm dân chủ, công khai". Nghị quyết số 49 - NQ/TW tiếp tục khẳng định: "Tăng thời gian bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn". Hiện tại, các chức danh công chức nhà nước khác đều không phải bổ nhiệm lại, vì thuần túy chỉ là công chức chuyên môn nghiệp vụ, nhằm khuyến khích họ phấn đấu đi sâu nghiên cứu nhiệm vụ chuyên môn, gắn bó, tận tụy làm việc suốt đời. Hơn nữa, việc bổ nhiệm lại phải tiến hành theo các quy trình về công tác cán bộ và các thủ tục hành chính mất nhiều thời gian không cần thiết, nhất là trong quá trình Nhà nước ta đang tiến hành đồng thời cải cách tư pháp và cải cách hành chính, nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính. Đây là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền xem xét nhằm đổi mới công tác bổ nhiệm các chức danh tư pháp nói chung, chức danh Kiểm sát viên nói riêng. Nếu sau khi được bổ nhiệm, Kiểm sát viên không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống hoặc có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì sẽ bị miễn nhiệm.

Ngày 28/7/2010 Bộ Chính trị đã có kết luận số 79-KL/TW về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó VKSND vẫn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành 04 cấp phù hợp với hệ thống Tòa án gồm: VKSND khu vực; VKSND tỉnh, thành phố thuộc Trung ương; VKSND cấp cao và VKSND tối cao.

Với cơ cấu tổ chức bộ máy như trên thì việc bổ nhiệm ngạch của Kiểm sát viên sẽ phải có những thay đổi phù hợp với cơ cấu mới. Vấn đề đặt ra là cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn Kiểm sát viên các cấp cho phù hợp để làm cơ sở cho việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Kiểm sát viên của toàn ngành.

3.8. Đổi mới công tác điều động, luân chuyển cán bộ.

 Điều động và luân chuyển cán bộ giống nhau là đêì thay đổi cơ quan, đơn vị, vị trí làm việc của cán bộ nhưng phạm vi mà mục đích lại khác nhau. Điều động cán bộ là việc làm thường xuyên mang tính linh hoạt trong công tác cán bộ nhằm bổ sung, tăng cường cán bộ cho những nơi mà công việc nhiều hơn hoặc do những yêu cầu đột xuất cần phải có lực lượng nhiều hơn để điều hoà, cân đối cán bộ đáp ứng với yêu cầu công tác ở các địa phương, đơn vị trong từng thời gian. Tuy vậy, công tác điều động cán bộ cũng phải xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo sự cân đối, đồng đều theo yêu cầu công việc của các địa phương, đơn vị. Điều động cán bộ bao gồm cả điều động ngang, điều động lên, điều động xuống. Thực tế hiện nay do quy định của pháp luật cho nên việc điều động ở ngành ta đang gặp khó khăn cần tháo gỡ là: Điều động Kiểm sát viên cấp tỉnh, cấp huyện từ địa phương này sang địa phương khác phải thực hiện thủ tục rườm rà. Còn điều động từ dưới lên phải thay đổi chức danh. Ví dụ: Điều động Kiểm sát viên tỉnh nào đó lên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì người đó không còn là Kiểm sát viên cấp tỉnh nữa lại phải chuyển sang chức danh Kiểm tra viên tương ứng. Hoặc là điều động từ Kiểm sát viên cấp trên xuống Viện kiểm sát cấp dưới (nếu không phải là để luân chuyển đào tạo hoặc được bảo lưu) thì phải xếp lại chức danh của Viện kiểm sát cấp dưới. Tình trạng này trước đây đã xảy ra nhiều. Để khắc phục khó khăn này, ngành Kiểm sát đang đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi Pháp lệnh kiểm sát viên theo hướng ở mỗi cấp kiểm sát có nhiều ngạch Kiểm sát viên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều động và giải quyết chính sách đối với cán bộ.

Tuy công tác điều động là hoạt động bình thường nhưng phải thận trọng, tránh tuỳ tiện. Thời gian qua có những địa phương điều động cán bộ với số lượng lớn dẫn đến xáo trộn quá nhiều không cần thiết. Điều quan trọng khi điều động phải xác định đúng yêu cầu. Người được điều động đến ngoài việc đáp ứng yêu cầu công việc tốt hơn còn phải đảm bảo ổn định, đoàn kết đơn vị. Mặt khác còn phải tính đến điều kiện, hoàn cảnh gia đình của người được điều động, điều kiện ăn, ở, sinh hoạt của họ. Song phải lấy yêu cầu công việc lên trên hết để có thái độ đúng trong việc điều động và chấp hành việc điều động, đồng thời cố gắng giữ ổn định tương đối để cán bộ có điều kiện chuyên sâu, tích luỹ kinh nghiệm, nhất là những chuyên gia sâu về từn lĩnh vực cần tạo điều kiện ổn định để phát huy tốt nhất năng lực của họ. Đối với cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý thì chủ yếu do yêu cầu mà điều động nhưng cũng cần chú ý cho phù hợp năng lực và điều kiện, hoàn cảnh để họ phát huy khả năng ở môi trường, đơn vị mới.

 Công tác luân chuyển cán bộ những cán bộ trong nguồn quy hoạch những năm qua đã có tác dụng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong nguồn quy hoạch và nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ đưa đi luân chuyển. Tuy nhiên, công tác luân chuyển thời gian qua của ngành ta cũng còn hạn chế như: Số lượng cán bộ được luân chuyển chưa nhiều, thời gian luân chuyển còn ngắn (hầu hết chưa được một nhiệm kỳ)… Để làm tốt công tác luân chuyển cán bộ thời gian tới, cần quán triệt các yêu cầu sau:

- Phải nắm chắc nguyên tắc, phương châm trong công tác luân chuyển cán bộ, chuẩn bị kế hoạch chu đáo, toàn diện, có lộ trình, cách làm thích hợp, bước đi thận trọng, phù hợp.

- Công tác tư tưởng phải đi trước một bước, tạo nhận thức thống nhất trong cán bộ, đảng viên, trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc luân chuyển cán bộ, từ đó tự giác thực hiện.

- Thường xuyên rà soát, đánh giá đúng đội ngũ cán bộ làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch cán bộ. Chỉ trên cơ sở đánh giá, lựa chọn đúng cán bộ, xây dựng tốt quy hoạch cán bộ mới bảo đảm luân chuyển cán bộ có hiệu quả.

- Thực hiện tốt luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo hướng: Khi luân chuyển cán bộ, cần thống nhất chỉ đạo, thực hiện tốt một số nội dung: Xác định rõ tiêu chuẩn cán bộ luân chuyển (chỉ thực hiện luân chuyển đối với những cán bộ trẻ, trong quy hoạch, có triển vọng phát triển). Phải căn cứ vào năng lực, sở trường của cán bộ và đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của địa phương, đơn vị để luân chuyển và bố trí công việc phù hợp cho cán bộ, nhằm phát huy mặt mạnh của cán bộ được luân chuyển. Quá trình luân chuyển cán bộ phải được chuẩn bị kỹ, thận trọng, chặt chẽ. Không làm ồ ạt, hình thức, chạy theo số lượng, phải có nhận xét, đánh giá cán bộ trước và sau khi luân chuyển v.v…

-  Có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và thống nhất cao giữa cấp uỷ, tập thể lãnh đạo và bản thân cán bộ ở nơi điều động cán bộ đi, cũng như nơi cán bộ được luân chuyển đến, tạo môi trường thuận lợi cho cán bộ đến nhận công tác ở đơn vị mới thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

- Cần sớm nghiên cứu, vận dụng xây dựng cơ chế, chính sách về điều kiện, phương tiện làm việc, sinh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ được luân chuyển phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý có vị trí rất quan trọng trong công tác cán bộ. Quá trình tổ chức thực hiện khó tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, cấp uỷ và lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần có sự phối hợp, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, đề cao trách nhiệm và vai trò tham mưu của cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ các cấp. Đồng thời, phải có bước đi và cách làm phù hợp, phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể. Trong quá trình tổ chức chỉ đạo, cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, định kỳ sơ kết, rút kinh nghiệm, từng bước đưa công tác luân chuyển cán bộ vào nền nếp, có chất lượng và hiệu quả cao.

   3.9. Tăng cường công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ.

Quản lý chặt chẽ cán bộ là khâu quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ kiểm sát, đồng thời là cơ sở để xác định kế hoạch, nội dung công việc và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Để đội ngũ cán bộ phát huy tốt vai trò, năng lực của mình, lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần tăng cường công tác quản lý cán bộ.

Công tác quản lý cán bộ phải đảm bảo yêu cầu toàn diện, bao gồm quản lý cả về số lượng và chất lượng, nắm chắc từng người về các mặt: tư tưởng lập trường, trình độ năng lực, mối quan hệ trong công tác, ưu điểm, khuyết điểm, hoàn cảnh gia đình... cả trong quá khứ, hiện tại và triển vọng phát triển. Trong công tác quản lý phải gắn quản lý người với quản lý việc, xoá bỏ cách đánh giá đơn thuần chỉ dựa theo các tiêu thức trung gian (học vị, bằng cấp, tuổi tác, thâm niên công tác), song song với việc quản lý tại hồ sơ lý lịch, phải quản lý thông qua kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Để quản lý tốt đội ngũ cán bộ cần tiến hành đổi mới việc phân công, phân cấp quản lý cán bộ nhằm xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp quản lý, theo hướng phân cấp mạnh hơn cho các Viện kiểm sát địa phương, bảo đảm nguyên tắc và trách nhiệm của lãnh đạo Viện kiểm sát địa phương trong việc quản lý đội ngũ cán bộ. Gắn trách nhiệm quản lý cán bộ với trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị để đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ. Phải nắm chắc phẩm chất, năng lực và sức khoẻ của từng cán bộ để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng, đãi ngộ một cách hợp lý, đồng thời lập hồ sơ cá nhân và thường xuyên bổ sung đầy đủ các mặt phát sinh của cán bộ.

Việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ, thực hiện đúng lương tâm và trách nhiệm của người cán bộ kiểm sát là yêu cầu có tính thường xuyên, liên tục. Trong thời gian gần đây, trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực thì những ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường đã và đang nảy sinh những biểu hiện tiêu cực trong Đảng và trong xã hội. Bộ Chính trị đã chỉ rõ: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ" [7] . Chính vì vậy, việc thường xuyên tăng cường giáo dục giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong sạch là rất cần thiết và không thể thiếu đối với đội ngũ cán bộ công chức nói chung, đội ngũ cán bộ kiểm sát nói riêng.

Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, tiến hành rà soát để sửa đổi, bổ sung và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện những quy định về tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ kiểm sát. Mặt khác, mỗi cán bộ kiểm sát phải tự rèn luyện nâng cao ý thức chính trị, đạo đức, lối sống, chấp hành nghiêm kỷ luật của ngành. Trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", thực hiện tốt  5 đức tính mà Bác Hồ đã dạy đối với người cán bộ Kiểm sát: "Công minh, Chính trực, Khách quan, Thận trọng, Khiêm tốn", coi đây là nội dung quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát trong sạch, vững mạnh .

3.10. Đổi mới công tác bảo vệ chính trị nội bộ

Bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ cương lĩnh chính trị, điều lệ, nguyên tắc tổ chức của Đảng, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, bảo vệ cán bộ, đảng viên. Bảo vệ chính trị nội bộ có quan hệ đến sự sống còn của Đảng, Nhà nước và của chế độ, là trách nhiệm của toàn Đảng, trước hết là của các cấp ủy Đảng, Chính quyền và của toàn thể cán bộ, đảng viên.

Ngành Kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Để thực hiện tốt chức năng trên, phải xây dựng ngành KSND trong sạch, vững mạnh, trong đó cần coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Trước những âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong ngành Kiểm sát phải được đổi mới và tăng cường. Phải coi công tác bảo vệ chính trị nội bộ là một bộ phận không thể tách rời trong công tác cán bộ của ngành. Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp phải chỉ đạo tập trung rà soát những vấn đề lịch sử chính trị, chú trọng nắm tình hình và giải quyết những vấn đề chính trị nếu có phát sinh ở cán bộ kiểm sát, qua đó nắm chắc tình hình chính trị, diễn biến tư tưởng của đội ngũ cán bộ. Tiến hành  quản lý hồ sơ, thẩm định về tiêu chuẩn chính trị phục vụ công tác kết nạp đảng viên, đánh giá về lịch sử chính trị đối với cán bộ được đề bạt, bổ nhiệm, cán bộ làm công tác cơ mật, các cán bộ trong dự nguồn bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, bổ nhiệm kiểm sát viên...

3.11. Thực hiện tốt chính sách đối với đội ngũ cán bộ kiểm sát

Đội ngũ cán bộ là vốn quý, là lực lượng nòng cốt trong các thời kỳ cách mạng. Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác cán bộ cũng như thực hiện chính sách cán bộ. Chính sách cán bộ đúng sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát huy tài năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ trongswj nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Để xây dựng được đội ngũ cán bộ kiểm sát đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, không thể không quan tâm đến chính sách đối với đội ngũ cán bộ kiểm sát.

Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới, cần thực hiện tốt một số chính sách đối với đội ngũ cán bộ  như sau:

- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng

Cần có chính sách khuyến khích cán bộ đi học nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học... Có chính sách ưu tiên đào tạo cán bộ trẻ, trong diện quy hoạch.... Khi cử cán bộ đi học, cần quan tâm những điều kiện vật chất và tinh thần, hỗ trợ tiền ăn, ở, học phí, tiền mua giáo trình, tài liệu... đồng thời, có quy định rõ ràng về định mức chi, theo từng đối tượng phù hợp, đảm bảo để cán bộ đủ các điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.

- Chính sách bố trí, sử dụng cán bộ.

Việc bố trí, sử dụng cán bộ phải trên cơ sở đánh giá, tuyển chọn, đảm bảo đúng tiêu chuẩn, đúng khả năng, sở trường. Giao việc phải tương xứng với năng lực của cán bộ. Nếu nhiệm vụ quá khả năng sẽ dẫn đến hỏng việc, nếu việc được giao quá thấp không phát huy được năng lực của cán bộ. Cần mạnh dạn bố trí, giao việc cho cán bộ trẻ để thử thách, rèn luyện trong thực tế, đảm bảo tính kế thừa. Thực hiện tốt chính sách đãi ngộ, trọng dụng nhân tài, thu hút cán bộ có năng lực từ các ngành, địa phương khác và sinh viên mới tốt nghiệp loại khá, giỏi đến công tác trong ngành kiểm sát.

- Chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần

Hiện nay, chế độ lương và phụ cấp đối với cán bộ là kiểm sát viên được quy định tại Điều 31 Pháp lệnh kiểm sát viên, cụ thể: "Kiểm sát viên có thang bảng lương riêng, được hưởng phụ cấp trách nhiệm và các phụ cấp khác do pháp luật quy định" và được quy định tại Nghị quyết số 370 ngày 30/9/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thang bảng lương riêng cho ngành Kiểm sát; Quyết định số 138/2005/QĐ - TTg ngày 13/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với kiểm sát viên; Nghị định số 76/2009/NĐ - CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên nghề đối với chức danh chuyên ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, nội dung thang, bậc, hệ số lương của đội ngũ cán bộ kiểm sát chỉ được sắp xếp giống như cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước là chưa thực sự phù hợp, chưa thể hiện được các yếu tố đặc thù trong hoạt động của ngành Kiểm sát.

Vì vậy, theo chúng tôi, cần cụ thể hóa Điều 31 Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 theo hướng quy định Kiểm sát viên có thang bảng lương riêng, phù hợp với lao động của Kiểm sát viên. Bởi vì, hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên là hoạt động đặc biệt, dòi hỏi cường độ lao động cao, sự đầu tư về trí tuệ lớn, trách nhiệm pháp lý t nặng nề, nếu để xảy ra oan, sai phải bồi thường. Thực tế cho thấy, đại đa số cán bộ, Kiểm sát viên còn nhiều khó khăn do đồng lương thấp. Việc đổi mới chính sách về tiền lương đối với đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp nói chung, cán bộ ngành Kiểm sát nói riêng là một nhu cầu bức thiết. Đây cũng là giải pháp phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 là: "Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán bộ tư pháp". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa X cũng đã chỉ rõ: "Tăng lương hoặc tăng mức ưu đãi nghề nghiệp và cải thiện điều kiện làm việc cho các ngành... Kiểm sát, Tòa án và một số ngành dễ phát sinh tham nhũng".

Thực hiện tốt chính sách ưu đãi về tiền lương, phụ cấp sẽ tạo điều kiện giúp cán bộ kiểm sát giảm bớt khó khăn, yên tâm nhiệt tình công tác. Bên cạnh đó, cần thời đổi mới công tác thi đua khen thưởng, có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời cả về vật chất và tinh thần đối với những cán bộ kiểm sát có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác.

3.12. Đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát phải tiến hành đồng thời với việc đổi mới và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ ở Viện kiểm sát các cấp.

Trong thời gian tới phải nâng cao phẩm chất, trình độ kiến thức và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác cán bộ, tuyển chọn những người công tâm, trung thực, trong sáng, có uy tín, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn làm công tác cán bộ, có chính sách đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác cán bộ cho đội ngũ làm công tác cán bộ để họ thực sự là lực lượng tham mưu tích cực trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp.

Tóm lại, để xây dựng được đội ngũ cán bộ kiểm sát thật sự trong sạch, vững mạnh cần phải có sự đổi mới toàn diện, sâu sắc trên tất cả các khâu công tác: Tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ,  thực hiện chính sách cán bộ... Đây là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực chung của các các cấp ủy Đảng, các ngành, các cấp. Quán triệt các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và về công tác cán bộ, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, chúng ta tin tưởng rằng, đội ngũ cán bộ kiểm sát của ngành Kiểm sát nhân dân sẽ ngày càng lớn mạnh, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

  Nguồn: “Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Đề tài khoa học cấp Bộ của Trường ĐTBDNV kiểm sát thuộc VKSNDTC, Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Mạnh Hùng; Thư ký đề tài: Th.S Phạm Thị Trang

 



[1] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 269, 273.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 1. 

 [3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 1.

 [4] - Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

 

[5] Nghị quyết 49-NQ/TW Ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, trang 557-558

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 16

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi