Một số vấn đề về quyền công tố

TS. Trần Văn Độ

Tạp chí Luật học số 3/2001 (3/2001) 

  1. Quyền công tố và thực hành quyền công tố là những khái niệm được nhắc đến nhiều trong luật tố tụng hình sự (TTHS) nước ta khi đề cập chức năng của viện kiểm sát các cấp. Điều 138 Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật... thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; các viện kiểm sát nhân dân địa phương và viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình. Quy định đó cũng được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân và các văn bản pháp luật TTHS khác cũng có những quy định tương tự.

Trong khoa học luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng. Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan tư pháp nói riêng; xác định rõ chức năng của viện kiểm sát, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức viện kiểm sát các cấp. Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đang triển khai thực hiện các nghị quyết lần thứ 8 khoá VII, lần thứ 3 và thứ 7 khóa VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước.

Vấn đề khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lí nước ta với các mức độ khác nhau. Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn đề chung của tố tụng hình sự;(1) có những bài viết có tính chất chuyên khảo phân tích có hệ thống về quyền công tố(2) và gần đây có một số luận án thạc sĩ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau (trong giai đoạn điều tra, trong xét xử sơ thẩm...). Mặc dù vậy, quyền công tố và thực hành quyền công tố vẫn đang là vấn đề phức tạp, đang có nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau đòi hỏi phải được bàn luận tiếp.

2. Hiện nay, trong sách báo pháp lí nước ta đang có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố của viện kiểm sát. Có thể tóm tắt các quan điểm khác nhau đó thành 4 nhóm chính như sau:

- Quan điểm 1: Công tố không phải là chức năng độc lập của viện kiểm sát mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là quan hệ giữa cái riêng và cái chung.(3) Quan niệm này phổ biến ở nước ta trước năm 1980 khi hiến pháp chưa có quy định về chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát và cũng xuất phát từ quan niệm phổ biến của các nhà TTHS học Xô viết trước đây.(4)

- Quan điểm 2: Quyền công tố là quyền của viện kiểm sát thay mặt nhà nước bảo vệ lợi ích công (nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm pháp luật. Vì vậy, viện kiểm sát thực hành quyền công tố không chỉ trong TTHS mà cả trong lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, kinh tế và các hoạt động tư pháp khác.(5)

- Quan điểm 3: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra trước tòa án và thực hành việc buộc tội đó tại phiên tòa.(6)

- Quan điểm 4: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho các cơ quan nhất định khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án để xét xử và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa.(7) Quan điểm này phổ biến trong các nhà nước có sự phân chia quyền lực.

Do các quan niệm khác nhau như trên về quyền công tố cho nên dẫn đến cách lí giải khác nhau về phạm vi thời gian cũng như không gian của quyền công tố. Về không gian, đa số các quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là TTHS nhưng cũng có quan điểm cho rằng quyền công tố được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như TTHS, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động...

Về thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố cũng chưa được nhận thức thống nhất. Ngay trong TTHS cũng có người cho rằng quyền công tố có trong cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; người khác lại cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà thôi...

Nhìn chung, mỗi quan điểm nêu trên đều được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta và dù ít hay nhiều đều có hạt nhân hợp lí. Tuy nhiên, theo chúng tôi các quan điểm đó vẫn còn những điểm bất cập nhất định nhìn từ khía cạnh quy định của pháp luật, khoa học cũng như thực tiễn. Những bất cập này thể hiện ở chỗ:

- Hoặc là thể hiện sự phụ thuộc của chức năng thực hành quyền công tố vào kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát; coi thực hành quyền công tố chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Vì vậy, dẫn đến xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của viện kiểm sát được nhà nước uỷ quyền;

- Hoặc là đánh đồng thực hành quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Vì vậy, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố sang cả các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế...

- Hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công tố, chỉ bó gọn quyền công tố trong giai đoạn truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Từ đó hạn chế quyền hạn cũng như trách nhiệm của viện kiểm sát như là cơ quan có trách nhiệm chính trong truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Theo chúng tôi, hạn chế chung nhất trong các công trình nghiên cứu về quyền công tố là hầu như các tác giả chịu bó tay trong việc xác định hoạt động nào của viện kiểm sát là để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố; hoạt động nào là để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS. Đa số các tác giả cho rằng hai chức năng trên của viện kiểm sát vừa có tính độc lập tương đối vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau; giữa chúng có một số nội dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời... tạo nên sự thống nhất trong chức năng của viện kiểm sát.(8)

Để xác định khái niệm quyền công tố, chúng tôi cho rằng cần phải khẳng định một số vấn đề sau đây: Thứ nhất, quyền công tố là quyền của nhà nước. Nhà nước uỷ quyền cho cơ quan cụ thể thực hiện quyền này trong bộ máy cơ quan nhà nước phân quyền hoặc phân công thực hiện chức năng; thứ hai, quyền công tố về thực chất là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều đó, cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố phải điều tra, xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó truy tố bị can ra trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa; thứ ba, quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực hiện và đối với những người phạm tội cụ thể. Không tồn tại quyền công tố chung chung.

Từ những nhận thức trên, chúng tôi cho rằng quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó.

Từ khái niệm trên có thể xác định phạm vi quyền công tố như sau:

- Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực TTHS;

- Nội dung quyền công tố là sự buộc tội. Vì vậy, chức năng buộc tội và gỡ tội (bào chữa) không thể cùng thuộc một cơ quan, cá nhân;

- Quyền công tố đối với vụ án cụ thể xuất hiện từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động thực hành quyền công tố lại bắt đầu từ khi khởi tố bị can và kết thúc trước khi hội đồng xét xử (sơ thẩm hoặc phúc thẩm) nghị án;

- Thực hành quyền công tố được thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử là hệ thống hoạt động thống nhất, liên tục không đứt quãng, vì vậy phải do một cơ quan tiến hành tố tụng, một người tiến hành tố tụng thực hiện. Chúng tôi cho rằng quy định của BLTTHS về việc chức năng điều tra và truy tố do hai cơ quan khác nhau thực hiện, kiểm sát điều tra và thực hiện việc truy tố do hai kiểm sát viên khác nhau là chưa phù hợp.

Từ khái niệm quyền công tố nêu trên, chúng ta có thể xác định khái niệm và phạm vi thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật TTHS để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.

Trong quá trình tố tụng hình sự, hoạt động thực hành quyền công tố bao gồm:

- Khởi tố bị can: Để có được quyết định khởi tố bị can, cơ quan công tố phải khởi tố vụ án và điều tra, xác minh. Không nên coi giai đoạn này chỉ là "giai đoạn chuẩn bị của giai đoạn thực hành quyền công tố" như một số tác giả quan niệm;(9)

- Truy tố bị can ra trước tòa án trên cơ sở kết quả điều tra vụ án và chứng minh được người phạm tội;

- Buộc tội bị cáo và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa bằng cách công bố bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận trước phiên tòa sơ thẩm; nếu vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị thì có mặt để tham gia xét hỏi và trình bày lời kết luận về kháng cáo, kháng nghị trước phiên tòa phúc thẩm.

Việc đưa ra được các khái niệm chính xác về quyền công tố, thực hành quyền công tố và phạm vi của chúng trong TTHS là cơ sở lí luận quan trọng để xác định chức năng của cơ quan được nhà nước giao thực hiện quyền công tố; quan hệ cơ quan điều tra và cơ quan công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; nguyên tắc tố tụng tại phiên tòa hình sự; thẩm quyền của cơ quan công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm vụ án hình sự và các chế định tố tụng quan trọng khác như bào chữa, thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm v.v..

3. Trên cơ sở phân tích các khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố nêu trên, chúng tôi có một số kiến nghị sau đây nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quyền công tố nhà nước một cách có hiệu quả.

+ Về tổ chức

- Thành lập viện công tố với chức năng duy nhất là thực hiện quyền công tố nhà nước trong TTHS. Viện công tố thực hiện chức năng điều tra theo hướng dự thẩm, tức nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự do công tố - dự thẩm viên đảm nhiệm trên cơ sở có sự trợ giúp của cơ quan cảnh sát và một số cơ quan khác thực hiện các hoạt động điều tra ban đầu. Đồng thời, công tố viên đó cũng là người tham gia phiên tòa để đọc bản cáo trạng, tham gia xét hỏi buộc tội bị cáo và trình bày lời luận tội. Các cơ quan công tố có thể được thành lập thành hệ thống độc lập hoặc trực thuộc cơ quan hành pháp. Thế nhưng theo chúng tôi, nếu được tổ chức thành hệ thống độc lập sẽ có hiệu quả hơn.

Đồng thời với việc thành lập các cơ quan công tố là hủy bỏ các cơ quan điều tra như hiện nay; chỉ để cho lực lượng cảnh sát và một số cơ quan khác như hải quan, kiểm lâm, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển... thực hiện một số hoạt động điều tra ban đầu;

- Bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát, kể cả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS. Bởi vì, điều tra vụ án thuộc chức năng của cơ quan công tố; giám đốc hoạt động xét xử của tòa án cấp dưới do tòa án cấp trên đảm nhận; giám sát thi hành án hình sự là lĩnh vực hành pháp cũng như giám sát các lĩnh vực quản lí khác đã có cơ quan thanh tra thực hiện;

+ Về tố tụng hình sự

- Xây dựng cơ chế tranh tụng trong TTHS, trong đó chức năng buộc tội và chức năng bào chữa phải do các bên khác nhau thực hiện một cách bình đẳng (trong quyền và nghĩa vụ tố tụng, trong điều kiện và khả năng chứng minh...); tòa án là cơ quan phân xử (xét xử) trên cơ sở buộc tội cũng như bào chữa;

- Xây dựng các giai đoạn tố tụng với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, với quyền và nghĩa vụ hợp lí; không nên tách rời khởi tố, điều tra và truy tố thành các giai đoạn độc lập tách rời nhau dẫn đến nhiều bất cập trong thực tiễn;

- Hoàn thiện các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm theo hướng với tư cách là bên tham gia TTHS, cơ quan công tố chỉ có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật như bị cáo và các đương sự khác theo nguyên tắc hai cấp xét xử; còn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm là thuộc thẩm quyền của chánh án tòa án cấp trên - cơ quan có nhiệm vụ giám đốc xét xử đối với tòa án cấp dưới./.

(1). Võ Thọ - Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự, Nxb. Pháp lí, năm 1985; Giáo trình công tác kiểm sát của Trường Cao đẳng kiểm sát...

(2). Nguyễn Thái Phúc - Một số vấn đề về quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân, trong Kỉ yếu đề tài "Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam", Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 1995, tr.127 - 151...

(3).Xem: Nguyễn Thái Phúc, Sđd.

(4).Xem: Giáo trình tố tụng hình sự Xô viết, Nxb. Sách pháp lí, Maxcơva, 1980, tr. 92 - 95.

(5).Xem: Giáo trình công tác kiểm sát, Trường Cao đẳng kiểm sát, 1998.

(6).Xem: Võ Thọ, Sđd, tr.86-87.

(7) Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1998, tr.204.

(8).Xem: Nguyễn Đức Mai - "Vấn đề tranh tụng hình sự", Kỉ yếu đề tài "Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam", tr.33.

(9).Xem: Vũ Mộc - "Về thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, thực tiễn và kiến nghị", Kỉ yếu đề tài “Những vấn đề...”, Sđd, tr. 117.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi